Skip to main content

Những người Việt Nam và Mỹ sau cùng rời Việt Nam

Những người Việt Nam và Mỹ sau cùng rời Việt Nam sau ngày chúng ta mất nước

Những người Việt Nam, nhất là những chiến sĩ của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà, có lẽ còn nhớ đến một người bạn Mỹ rất dễ mến và tận tâm đã giúp đồng bào của chúng ta rất nhiều. Đó là ông Richard Armitage mà về sau đã được biết đến nhiều trên khắp thế giới.

Armitage lúc đầu là một sĩ quan tình báo của Hải Quân Hoa Kỳ. Ông được gửi sang Việt Nam làm việc chung với nhiều đơn vị khác nhau, và cả với dân chúng nữa. Ông nói tiếng Việt rất thông thạo, không hẳn là vì nhiệm vụ mà là vì ông rất thương người Việt Nam. Sau khi Hiệp Định Ba Lê được ký kết vào tháng Giêng 1973, Armitage nhiều lần nói một cách công khai rằng Hoa Kỳ đã bán đứt Việt Nam Cộng Hoà qua hiệp định này. Sau đó, ông từ chức và trở về Hoa Kỳ rồi sau đó giải ngũ. Tuy vậy, vì là một người có nhiều đức tính tốt cũng như tài năng, ông được mời vào làm việc cho Ngũ Giác Đài.

Cuối tháng Ba 1975, Ngũ Giác Đài gửi ông trở lại Việt Nam với một sứ mạng bí mật và nguy hiểm. Lúc đó, ông vừa tròn 30 tuổi.
Vừa sang đến Việt Nam, Armitage tìm gặp ngay một người mà ông đã từng cộng tác trước đây mà ông rất mến mộ. Đó là Hải Quân Đại Tá Đỗ Kiểm, Tham Mưu Phó Nhân Viên của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà. Ông cho Đại Tá Đỗ Kiểm biết rằng sứ mạng của ông lần này là tháo gỡ một số trang bị tối tân trên một số tàu chiến của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà. Nếu không thể làm được như vậy, ông sẽ giúp phá huỷ các tàu chiến đó chứ không để nó rơi vào tay địch quân.
Tuy nhiên, đến giữa tháng Tư 1975 thì Đại Tá Kiểm và Armitage cùng nhận thấy một sự thật phũ phàng. Đó là quân Bắc Việt sẽ tràn vào đến Sài Gòn trong một thời gian ngắn. Vì thế nên việc mà họ phải làm là xem lại một lần chót tình trạng của các tàu chiến của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà trước khi ra khơi một lần chót để rồi không bao giờ trở lại Việt Nam. Lúc đó, hầu hết các tàu chiến của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đều ở trong tình trạng tốt và sẵn sàng chiến đấu. Thế thì tại sao Đại Tá Đỗ Kiểm muốn cùng Armitage xem lại tình trạng một lần chót? Đó là vì, Đại Tá Đỗ Kiểm giải thích, chúng ta sẽ đem theo gia đình và một số đồng bào. Như vậy, cần nhiều tiện nghi và trang bị hơn bình thường, chưa kể đến vấn đề ẩm thực. 
Armitaga liền báo cáo về Ngũ Giác Đài về những thay đổi mới nhất liên quan đến kế hoạch của Hoa Kỳ cũng như công việc của ông. Có một điều đáng ghi nhận ở đây là Armitage chỉ báo cáo với thượng cấp rằng các tàu chiến của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà sẽ ra khơi một lần chót, ông giấu nhẹm việc những chiếc tàu này sẽ chở theo thường dân vì ông tin rằng nhà chức trách của Hoa Kỳ sẽ không hài lòng.
Thấy các viên chức của Ngũ Giác Đài không có phản ứng bất lợi, Armitage và Đại Tá Đỗ Kiểm rất yên tâm. Vấn đề trước mắt của cả hai người bây giờ là họ không thể tiên liệu được rằng sẽ có bao nhiêu đồng bào cần đến phương tiện di tản bằng tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà.
Ngay sau đó, Đại Tá Đỗ Kiểm cùng Armitage và một số sĩ quan Hải Quân có trách nhiệm liền soạn một kế hoạch để đem đồng bào rời khỏi Việt Nam bằng tàu của Hải Quân. Kế hoạch này được bảo mật tối đa. Theo như Armitage đã hoạch định, tất cả những chiếc tàu nào của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà cũng như của tư nhân vì một lý do nào đó không ra khơi để đến Phi Luật Tân thì sẽ tập trung ở Đảo Côn Sơn. Ngũ Giác Đài đã đồng ý biệt phái cho Armitage một hải lực đủ mạnh để giúp họ ra khơi đồng thời đánh chìm bất cứ một lực lượng nào của Bắc Việt và Việt Cộng muốn gây trở ngại, tại Côn Sơn cũng như trên biển cả.
Hải Quân Đại Tá Đỗ Kiểm tình nguyện sẽ ra đó với chiến hữu và đồng bào của mình.

Tối ngày 30 tháng Tư 1975, trong khi những chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà nhổ neo sau cùng đã ra đến hải phận quốc tế, lại có một chiếc của Hải Quân Hoa Kỳ quay trở lại Việt Nam. Đó là chiếc khu trục hạm USS Kirk. Mới trước đó, Hạm Trưởng Paul Jacobs của USS Kirk nhận được một mật lệnh khẩn cấp từ Đô Đốc Donald Whitmire, chỉ huy trưởng chiến dịch cứu người Việt Nam do Hải Quân Hoa Kỳ đảm trách có tên là Frequent Wind. Đô Đốc Whitmire nói với Hạm Trưởng Jacobs rằng, "Chúng ta đã đem được nhiều thường dân Việt Nam ra Đệ Thất Hạm Đội, nhưng chúng ta đã bỏ quên Hải Quân Việt Nam. Chúng tôi ra lệnh cho chiếc khu trục hạm của ông trở lại Việt Nam để cứu họ. Nếu không giúp được tất cả rời Việt Nam, thì phải cứu càng nhiều càng tốt. Nếu không, họ sẽ bị chúng giết hết."
Chiếc USS Kirk vừa quay mũi để hướng về Việt Nam được một lúc thì Armitage được trực thăng chở đến và hạ cánh. Cũng đúng vào lúc đó, Đô Đốc Whitmire nói với Hạm Trưởng Jacobs rằng ông sẽ phải thi hành những chỉ thị từ một thường dân.
Armitage được đem đến ngay phòng họp và thấy ngoài Hạm Trưởng Jacobs còn có sự hiện diện của Phó Đề Đốc Donald Roane, Tư Lệnh Lực Lượng Khu Trục Hạm tại Á Châu và Thái Bình Dương. Phó Đề Đốc Roane nói với Armitage rằng, "Này người bạn trẻ, hiếm khi nào tôi đón tiếp một thường dân tại văn phòng vào giữa đêm khuya như thế này để nhận lệnh." Armitage đáp lại rằng, "Tôi cũng rất hiếm khi đến một nơi nào vào ban đêm để ra lệnh cho một sĩ quan cấp tướng." Kế tiếp, Armitage ra lệnh cho chiếc USS Kirk trực chỉ Đảo Côn Sơn. 
Qua đối thoại này, chúng ta thấy lúc đó Armitage là một nhân vật có thẩm quyền rất cao. Về phần Phó Đề Đốc Roane và Hạm Trưởng Jacobs, họ phải thi hành chỉ thị của một thường dân  nhưng không khó chịu mà ngược lại rất yên tâm vì Armitage đã từng là một sĩ quan của Hải Quân Hoa Kỳ trước đó và hiện nay lại là một viên chức của Bộ Quốc Phòng. 
Chiếc USS Kirk với  thuỷ thủ đoàn hơn 260 người lao nhanh về Côn Sơn. 
Côn Sơn cách đất liền khoảng 80 cây số về phía nam. Cho đến lúc đó, nó có khoảng 30 tàu lớn nhỏ của Hải Quân Việt Nam cùng với trên 10 ngư thuyền và thương thuyền tư nhân đang ở đây. Ngoài thân nhân của các quân nhân, còn có khoảng 30 ngàn thường dân đang kẹt lại. 
Rạng sáng ngày 1 tháng Năm 1975, chiếc USS Kirk đến Côn Sơn. Lúc đó, có vào khoảng 20 ngàn người đang chen chúc trên các chiếc tàu. Số còn lại thì lao nhao trên bãi biển. Đoàn tàu chưa ra khơi là vì có mấy chiếc bị trục trặc về cơ khí. Armitage dùng một chiếc xuồng nhỏ để chạy đến chiếc chỉ huy của đoàn tàu Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà để tìm hiểu thêm. Sau đó, ông cho thực hành những gì cần thiết. 
Trước hết, các kỹ sư và thợ máy trên chiếc USS Kirk sang sửa chữa, một số trong những chiếc bị trục trặc đã chạy lại được. Tuy nhiên, tất cả những chiếc tàu có mặt tại Côn Sơn lúc đó vẫn không đủ để chở tất cả hơn 10 ngàn đồng bào còn kẹt trên bãi biển. Vì thế nên một số được chuyển lên chiếc USS Kirk. Sau đó, theo yêu cầu của Armitage, một hộ tống hạm là chiếc USS Cook đến Côn Sơn để chở những người còn lại.
Khi đoàn tàu theo hai chiếc USS Cook và USS Kirk ra khơi, các thuỷ thủ trên hai chiếc này đã tận tâm chăm sóc những người bị bệnh, những người cao niên và trẻ em sơ sinh. Thuỷ thủ đoàn của hai chiếc này còn đảm nhận việc cung cấp ẩm thực cho tất cả 30 ngàn người.
Khi đoàn tàu gần ra khỏi hải phận Việt Nam, Hải Quân Hoa Kỳ cho thêm mấy chiếc tàu nữa đến bảo vệ cũng như tiếp tế. Đó là các chiếc USS Mobile, USS Tuscaloosa, USS Barbour County, USS Deliver và USS Abnaki. Tất cả trực chỉ Phi Luật Tân. Armitage thường xuyên chạy qua lại giữa chiếc USS Kirk và chiếc chỉ huy của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà để bàn bạc.

Sang ngày thứ năm của chuyến hải hành, Hạm Trưởng Jacobs nhận được một tin xấu từ Phi Luật Tân. Tổng Thống Ferdinand Maros cho biết rằng tất cả 30 chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đang lênh đênh trên biển lúc đó đã trở thành tài sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Marcos không muốn gặp khó khăn với chính quyền Hà Nội nên không cho phép những chiếc tàu này cập bến Phi Luật Tân. Hạm Trưởng Jacobs được cho biết thêm rằng Phi Luật Tân là một trong những quốc gia đầu tiên công nhận chủ quyền của chính quyền Hà Nội trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà và khuyên ông nên hướng dẫn đoàn tàu đi đến một quốc gia khác.
Ngay lập tức, Armitage mời Đại Tá Đỗ Kiểm sang bàn luận. 
Đại Tá Đỗ Kiểm bàn với Armitage như sau. Hạm Trưởng Jacobs sẽ trình bày với nhà cầm quyền Phi Luật Tân rằng tất cả những chiếc tàu này là của Hải Quân Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hoà mượn vô thời hạn để chiến đấu chống cộng sản xâm lược. Nay, cuộc chiến đã kết thúc thì những chiếc tàu đó được hoàn trả lại cho Hoa Kỳ. Armitage đồng ý đề nghị này. Như vậy, tất cả 30 chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà sẽ treo quốc kỳ Hoa Kỳ để vào Phi Luật Tân. 
Sau khi mỗi chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đã có một quốc kỳ mới, chiếc USS Kirk gửi đến mỗi chiếc tàu hai sĩ quan để làm lễ thượng kỳ - hạ kỳ. Kể từ lúc đó, các sĩ quan này chính thức đại diện cho phía Hoa Kỳ để tiếp xúc với nhà cầm quyền Phi Luật Tân thay cho 30 chiếc tàu. Các sĩ quan này sau đó kể lại rằng nhiều quân nhân Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà cũng như công dân của Việt Nam Cộng Hoà đã rơi nước mắt trong lúc cử hành nghi lễ hạ kỳ, có lẽ là lần sau cùng trong đời này.

Ngày 7 tháng Năm 1975, một đoàn tàu hơn 50 chiếc tiến vào hải phận Phi Luật Tân và cuối cùng đến Vịnh Subic. Đối với những người Việt Nam trên những chiếc tàu này, cuộc hành trình của họ mới thực sự bắt đầu: họ sẽ được đem đến trại tỵ nạn trên Đảo Guam.
Chiếc USS Kirk không hề tham chiến tại Việt Nam, nhưng bù lại nó đã thực hiện một sứ mạng nhân đạo có tầm vóc lớn lao chưa từng thấy trong quân sử Hoa Kỳ. Armitage nhấn mạnh rằng tất cả mọi người thuộc thuỷ thủ đoàn của chiếc này đều rất lấy làm mãn nguyện với những gì mà họ đã làm được.

Đoạn kết.
Về sau, Armitage trở thành Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống George Bush. Cách nay khoảng 8 năm, ông có đến dự một cuộc hội thảo về chiến tranh chống khủng bố tổ chức tại Melbourne. Có mấy thân hữu người Úc rủ tôi đến tham dự cuộc họp báo của ông được tổ chức sau đó nhưng tôi không đến được. Cuộc họp báo này sau đó có được chiếu trên các đài truyền hình của Úc. Tôi có theo dõi và ghi nhận được một sự việc như sau.
Có một nữ phóng viên người Úc muốn Armitage giải thích rõ ràng hơn về việc ông chủ trương tra tấn bọn khủng bố để chúng cung khai. Armitage cười, nói rằng ông không chủ trương như vậy nhưng trên thực tế, ông thấy rằng có những trường hợp mà chúng ta cần tra tấn bọn khủng bố. Theo ông, thoi cho nó vài cái mà nó khai ra những tin tức quan trọng đưa đến việc cứu được cả trăm thường dân vô tội thì tại sao không làm. Đối với ông, mạng sống của một thằng khủng bố giết người hàng loạt sao quí bằng hàng trăm mạng sống của dân lành.

Hình đính kèm thứ nhất: Michael Armitage trong những ngày còn phục vụ tại Việt Nam.
Hình thứ hai: một chiếc thuyền chở quân dân Việt Nam Cộng Hoà từ bãi biển Côn Sơn ra chiếc USS Kirk.
Hình thứ ba: Chiếc USS Kirk rời Côn Sơn chiều ngày 1 tháng Năm 1975. Các thuỷ thủ phải căng thêm những tấm bạt để đồng bào có đủ nơi tạm trú.

Comments

Popular posts from this blog

​Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế

Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế… Người ấy không hỏi nhiều, không kể lể, chẳng tranh phần đúng, cũng chưa từng đòi phần hơn. Nhưng lạ lắm – cứ mỗi lần nhà có chuyện, thì chính người ấy lại là người đầu tiên chao đảo. Khi ai đó gặp hạn, người ấy lại ốm. Khi cả nhà cùng lo âu, người ấy lại gánh thêm những điều chẳng ai thấy. Không phải vì người đó yếu. Mà bởi trời đất đôi khi có một cách sắp đặt kỳ lạ: Để một người chịu nhiều hơn một chút – Để những người còn lại, được bình yên hơn một chút. co là con út trong một gia đình năm người. Chị gái lấy chồng xa, anh trai có công việc ổn định, bố mẹ vẫn khỏe mạnh ở tuổi về chiều. Chỉ riêng Co – đi đâu cũng lận đận, làm gì cũng va vấp. Đã có lúc, cô ngồi một mình và hỏi: "Hay là mình là đứa gánh nghiệp cả nhà?" Và rồi cô để ý – rất rõ – Mỗi lần trong nhà có người gặp chuyện: mẹ ốm, bố té xe, hay chị gái buồn bực chuyện chồng con… Thì chỉ vài hôm sau, Linh lại là người "đón hạn": xe hư, mất việc, hay bỗng dưng té ...

Khủng hoảng kinh tế 2008 và các sói già phố Wall

  Có lẽ nhiều người đã biết khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 xảy ra do bong bóng thị trường cho vay mua nhà (mortgage) của Mỹ sụp đổ, khi hàng loạt người có điểm tín dụng xấu – không có khả năng chi trả nợ - được cho vay mua nhà (subprime mortgage). Thời điểm 2000-2007, việc 1 người có thể sở hữu 2-3 căn nhà là hoàn toàn bình thường nhờ vay tiền từ các tổ chức tín dụng. Đến 1 thời điểm, khi người mua nhà không còn khả năng phát chi trả nợ, bong bóng này chắc chắn sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, việc tín dụng xấu có thể tồn tại trong 1 thời gian dài và tạo nên ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới chắc chắn không chỉ phụ thuộc vào những người có tín dụng xấu. Từ 1 đống rác, mortgage tín dụng xấu đã được hô biến thành 1 món hàng cực kỳ uy tín và chất lượng, tóm gọn lại trong hai yếu tố: 1. Biến subprime mortgage thành 1 sản phẩm hoàn toàn mới 2. Dát vàng cho sản phẩm mới này 1 trò chơi hoàn hảo đã được bày ra bởi các sói già phố Wall. Thay đổi nhận diện Yếu tố thứ...

Việt nho

Theo triết gia Lương Kim Định người Tàu đã biến đổi Việt nho thành Hán nho, phản bội ý nghĩa bản thể của chữ nho/nhu, thay thế phép ứng xử mềm mại, thuần nhất thành lối ứng xử cương cứng, hai mặt "trong pháp ngoài nho"... + Từ Việt nho đến Hán nho Mặc dù sinh ra trong một gia đình nhà nho, nhưng không hiểu sao, hoặc chính vì thế, mà tôi có ác cảm với Nho giáo. Ở Việt Nam, Nho giáo và tính tiểu nông là căn nguyên nhị trùng kìm hãm sự phát triển của đất nước. Và, cũng vì thế, mà tôi lảng đọc Kim Định, nghĩ rằng ông là toàn-nho. Gần đây, do tìm hiểu văn hóa Việt Nam, tôi mới buộc phải đọc ông. Hóa ra, thứ nho mà tôi ghét bấy lâu nay là Hán nho, một thứ nho đã bị tha hóa, xa vời nguồn gốc hoặc bị người ta cố tình bẻ quẹo, còn nho Kim Định tán dương là nguyên nho, được ông gọi là Viẹ...