Skip to main content

Posts

Năm 1943, một phi công Mỹ rơi từ bầu trời xuống một trong những khu rừng nguy hiểm nhất trên trái đất. Trong ba mươi mốt ngày, Fred Hargesheimer lang thang một mình qua rừng mưa nhiệt đới của đảo New Britain sau khi chiếc máy bay trinh sát đang bốc cháy của anh bị bắn hạ trên vùng lãnh thổ do quân Nhật kiểm soát trong Thế chiến thứ Hai. Anh khi ấy hai mươi bảy tuổi. Đói khát. Mê sảng. Chỉ còn thoi thóp. Anh sống sót nhờ rễ cây và nước suối, di chuyển trong rừng vào ban đêm để tránh các toán tuần tra Nhật Bản đang lục soát hòn đảo. Đến ngày thứ ba mươi hai, khi những tiếng nói cuối cùng vang lên từ trong cây cối, Fred tin rằng mình sắp chết. Anh nghĩ quân Nhật đã tìm ra mình. Nhưng không phải. Đó là một nhóm người bộ tộc Nakanai. Người dân làng đã cõng người phi công Mỹ yếu ớt trở về làng ven biển và giấu anh khỏi lực lượng Nhật Bản, dù biết rõ hậu quả nếu bị phát hiện. Quân Nhật đang treo thưởng cho việc bắt sống các phi công Đồng minh. Họ cũng hành quyết bất ...
[KHẢO CỨU] TỪ THỜI ĐỨC PHẬT ĐẾN NAY, NHỮNG AI ĐÃ THỰC HÀNH 13 HẠNH ĐẦU ĐÀ NGHIÊM CẨN VÀ ĐẦY ĐỦ ** LỜI MỞ ĐẦU: ĐỊNH NGHĨA 13 HẠNH ĐẦU ĐÀ Trong dòng chảy lịch sử Phật giáo kéo dài hơn 2500 năm, lý tưởng về sự từ bỏ để đạt đến thanh tịnh và giải thoát luôn là một ngọn đuốc soi đường cho các hành giả. Một trong những biểu hiện mạnh mẽ và có hệ thống nhất của lý tưởng này là 13 hạnh đầu đà. Thuật ngữ "đầu đà" (Pāli: dhutanga; Phạn: dhūtaguṇa) có nghĩa là "sự rũ sạch". Đây không phải là sự khổ hạnh ép xác cực đoan, mà là một tập hợp các pháp tu tự nguyện nhằm mục đích tôi luyện thân tâm, đoạn trừ phiền não, tham ái và sự dính mắc vào các tiện nghi vật chất về ăn, mặc, ở. Mục tiêu tối hậu của việc thực hành các hạnh này là để dễ dàng thúc liễm thân tâm, thanh tịnh ba nghiệp (thân, khẩu, ý), phát triển các phẩm chất cao quý như thiểu dục (ít ham muốn), tri túc (biết đủ), kham nhẫn, và tiến gần hơn đến sự giác ngộ. Hơn thế nữa, sự tồn tại của các hành giả đầu đà được x...
B|ắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ thực sự có phải là do Pháp đặt tên, và chia để trị là gì? ​Lịch sử thực chất như một tủ trưng bày, người ta chỉ việc đổi màu kiếng để chỉ tên một bản chất. Câu chuyện xứ sở thường bị thổi phồng làm bệ phóng cho những mục đích riêng, che lấp đi một thực tế sòng phẳng. ​Trước hết, phải trả lại sự thật cho lịch sử, danh xưng B|ắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ vốn có từ năm 1832 thời vua Minh Mạng để phân định địa lý - hành chính. Chữ "Kỳ" trong tiếng Hán-Việt đơn thuần là cõi đất, vùng đất. Người phương Tây tới sau, chỉ việc kế thừa và kèm định danh mới là Tonkin, Annam, Cochinchine. Và chia để trị là chuyện đương nhiên, một xã còn phải chia nhiều ấp, thôn để quản trị hành chánh, nói chi tới chuyện đô hộ một xứ sở. Cũng như Chúa Nguyễn Hoàng sáp nhập đất Chiêm Thành cũ thành trấn Thuận Thành và lập phủ Bình Thuận để cai trị vậy. ​Vậy nhưng ngày nay, lại có những kẻ chữ nghĩa không tới đâu nhưng thích đứng trên bục rao giảng, cố tình đánh tráo k...

CUỘC ĐỜI BINH NGHIỆP CỦA ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN

“Đảng Cộng sản Việt Nam đã hy sinh hơn 2 triệu người dân Việt Nam để thành lập chế độ cộng sản. Nhưng cuối cùng họ lại dùng chủ nghĩa tư bản để kiếm sống. Vậy 2 triệu người Việt Nam đã chết để làm gì?” --Dennis Prager Ông Cao Văn Viên sinh ngày 11-12-1921 tại Vientiane (Vạn Tượng), thủ đô Vương quốc Lào. Cha mẹ của ông là ông Cao Văn Tý và bà Nguyễn Thị Võ, thương gia người Việt đã sinh sống lâu đời tại đây. Lúc nhỏ, ông Viên theo học chương trình Pháp ở bậc tiểu học và trung học tại Vientiane, đậu bằng diplome (Trung Học Đệ Nhất Cấp) năm 1938, và vào học tại trường Cao đẳng Thể dục Thể thao. Ra trường ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên thể dục ở một trường trung học tại tỉnh Paksé. Trong thời gian này, ông đậu bằng Tú Tài I. Đầu năm 1949, khi gia đình ông hồi cư về Sài Gòn, ông đã theo học khóa I trường Võ bị Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Cùng theo học với ông có các ông Nguyễn Chánh Thi (Trung tướng), Nguyễn Hữu Hạnh (C...