Skip to main content
TỐ HỮU VÀ LỆNH GIẾT PHẠM QUỲNH

Tóm tắt ý kiến của mình về nhân vật Phạm Quỳnh, Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Thông Tin Tuyên truyền năm 1945 - 1946, viết như sau:

Trong bão tố của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhận rõ sự tàn phá khốc liệt của thực dân Pháp đối với văn hóa truyền thống của dân tộc ta, Phạm Quỳnh muốn chống lại. Tuy nhiên, lượng sức mình không đủ can đảm dấn thân vào con đường cách mạng kiên cường, khó khăn, gian khổ và luôn luôn phải đối mặt với cái chết như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh v.v…, Phạm Quỳnh tìm một con đường khác dù sao cũng ít gian khổ hơn nhiều. Đó chính là con đường đấu tranh công khai và hợp pháp trên lĩnh vực văn hóa! Đấu tranh công khai và hợp pháp trên lĩnh vực văn hóa tuy có những thuận lợi nhưng cũng không êm đềm và thanh thản! Chắc chắn Phạm Quỳnh ý thức sâu sắc được điều đó. Ông biết cách nắm lấy một cơ quan ngôn luận công khai và hợp pháp của thực dân Pháp và dùng chính cơ quan này để truyền bá khéo léo, giữ gìn khéo léo một phần tinh hoa của văn hóa Việt Nam đồng thời giới thiệu với bạn đọc một phần tinh hoa văn hóa phương Tây, nhất là văn hóa Pháp. Và Phạm Quỳnh đã thành công, thành công về căn bản!

Giữa những cặp mắt cú vọ của bộ máy mật thám Pháp về văn hóa (trong đó có cặp mắt lão luyện của Marty), trong sự hiểu lầm (sự hiểu lầm chân thành!) của nhân dân, nhất là của tầng lớp trí thức nho học và tây học yêu nước, Phạm Quỳnh ngậm đắng nuốt cay để tập trung công sức vào việc góp phần nuôi dưỡng rừng cây văn hóa truyền thống của dân tộc, trong đó có cây đại thụ Truyện Kiều, tiếp tục tươi xanh, không tàn úa! Ông chịu đựng tất cả, tất cả những lời nguyền rủa, những lời buộc tội, thậm chí chịu đựng cả cuộc hành hung bột phát của một nhóm sinh viên Hà Nội trước Cách mạng tháng Tám!

Tên ông đồng nghĩa với bán nước, với tay sai đắc lực của thực dân Pháp, với bán nước cầu vinh!!! Mặc!!! Ông chịu đựng, lặng lẽ chịu đựng!

Chắc chắn Phạm Quỳnh biết rõ mặt trận văn hóa hợp pháp và công khai chống thực dân có những khó khăn riêng không nhỏ.

Dưới sức ép tinh vi và trắng trợn của các chính sách văn hóa thực dân, Phạm Quỳnh đứng lên một cách khó khăn và kiên nhẫn trên lĩnh vực báo chí công khai và hợp pháp như một nhà văn hóa yêu nước. Và đóng góp của ông cho dân tộc chủ yếu thuộc lĩnh vực văn hóa và báo chí.

Trên cương vị Thượng thư Bộ Học và Thượng thư Bộ Lại, Phạm Quỳnh không có một hành động nào chống phá phong trào giải phóng dân tộc hoặc chống phá Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tất cả những ai cùng thời với ông đều thừa nhận ông là một Thượng thư liêm khiết. Trước khi bùng nổ Cách mạng tháng Tám, Phạm Quỳnh đã về hưu. Đêm đêm, trong biệt thự Hoa Đường (ngoại ô Thành nội Huế), một mình một ngọn đèn khuya, con người đã từng giữ hai chức vụ cao nhất Bộ Học và Bộ Lại lặng lẽ đọc sách, suy nghĩ và viết.

Những gợi ý trên đây của ông Trần Huy Liệu giúp tôi bước đầu hiểu ra một số vấn đề cơ bản về nhân vật Phạm Quỳnh.

Năm 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được gặp Thiếu tướng Phan Hàm để phỏng vấn về Đại tướng Võ Nguyên Giáp và về việc đi bắt Phạm Quỳnh.

Vấn đề Phạm Quỳnh, Thiếu tướng Phan Hàm cho biết: Theo lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương, tôi và anh Võ Quang Hồ (nay là Thiếu tướng về hưu) trực tiếp đi bắt Phạm Quỳnh vào khoảng 14 giờ ngày 23-8-1945 đúng vào lúc nổ ra cuộc khởi nghĩa của nhân dân Huế. Bắt tại biệt thự Hoa Đường của ông Quỳnh. Lúc ấy, ông Quỳnh, một vị Thượng thư đã về hưu, đang ngồi ăn cơm với vợ con trong biệt thự. Khi ông Quỳnh bị giải ra ô tô, vợ con ông đi theo. Ông quay lại dặn vợ con: Cứ yên tâm, chiều tối, tôi sẽ được cách mạng cho về. Biệt thự của ông bị niêm phong và sung công ngay lập tức!

Sau khi dẫn giải ông bằng ô tô đến nhà lao Thừa Phủ (Nội thành Huế) và tạm giam ở đó (cùng với Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân), hai chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ, nhận nhiệm vụ mới. Việc xử bắn Phạm Quỳnh diễn ra như thế nào, theo lệnh của ai và vào thời điểm nào, chúng tôi hoàn toàn không rõ.

Theo dòng hồi ức về việc đi bắt Phạm Quỳnh, Thiếu tướng Phan Hàm kể tiếp:

Khi bị bắt, ông Quỳnh đã về hưu. Căn biệt thự của ông mà tôi nhìn thoáng qua không sang trọng, không có những đồ đạc của tầng lớp quý phái, không có những đồ cổ đắt tiền. Dáng người ông hơi cao nhưng không đẫy đà, gương mặt toát lên vẻ thông minh của một người trí thức. Đặc biệt, tôi thấy bụng ông không phệ. Biết chúng tôi đến bắt, gương mặt Phạm Quỳnh hơi biến sắc một chút rồi nhanh chóng trở lại bình thường. Đang cùng vợ con ăn cơm, ông lập tức đứng dậy đi theo chúng tôi ra ô tô.

Việc đi bắt Phạm Quỳnh gây xao động ít nhiều trong tim óc tôi. Tôi cảm thấy trong việc bắt giam có một cái gì không phải, có một cái gì vội vã và thiếu cân nhắc. Ngay trên đường đi bắt Phạm Quỳnh, tôi đã thoáng nghĩ như vậy. Nhưng đây là lệnh của cấp trên! Sau này, tuy bị cuốn vào biết bao công tác quân sự suốt hai cuộc kháng chiến, đôi khi tôi vẫn lướt qua vấn đề cái chết của Phạm Quỳnh.

Về hưu, hễ nghĩ đến hình ảnh Phạm Quỳnh và vợ con lúc Phạm Quỳnh bị bắt, tôi lại cảm thấy chạnh lòng.

Tuổi thanh niên, ở Huế, như nhiều học sinh khác, tôi đã đọc Nam Phong các số cũ (vì vào thời gian chúng tôi đọc, khoảng những năm 40 thế kỷ XX, Nam Phong đã ngừng xuất bản). Nhờ những số đó, tôi hiểu thêm về văn hóa truyền thống Việt Nam, hiểu thêm về Truyện Kiều. Nhờ những số đó, bước đầu, tôi hiểu rằng văn hóa Pháp là cao đẹp nhưng văn hóa của dân tộc Việt Nam cũng rực rỡ, không thể mù quáng coi văn hóa Việt Nam của cha ông là cổ hủ, không thể xóa bỏ nền văn hóa ấy trong trường học và trong cuộc sống, càng không thể mù quáng tâng bốc và học đòi văn hóa Pháp!

Mấy chục năm trôi qua kể từ ngày trực tiếp đi bắt ông Quỳnh, bây giờ về hưu, có nhiều thời gian suy nghĩ, tôi cho rằng Nam Phong là một tạp chí yêu nước góp phần khẳng định tính nhân văn cao cả và tính trí tuệ sâu sắc của nền văn hóa truyền thống Việt Nam. Và như vậy, Phạm Quỳnh, chủ nhiệm kiêm chủ bút đồng thời là cây bút chủ lực của Nam Phong xứng đáng được ghi công số một.

Cũng cần phải xác nhận: Nam Phong là một trong những tạp chí nghiên cứu đầu tiên ở nước ta về văn hóa; đồng thời là một trong những tạp chí đầu tiên ở nước ta mà mỗi số đều in ba thứ chữ Việt, Pháp, Hán.

Thêm vào đó, Nam Phong không có sai sót nào đáng kể về mặt trình bày và về mo-rát. Một tạp chí in cả ba thứ chữ trong mỗi số nhưng hầu như không có sai sót về mo-rát và về trình bày cách đây khoảng 80 năm! Tay nghề của người biên tập và công nhân in như thế là cao!

Một tạp chí có nội dung tích cực và lành mạnh hoạt động công khai và hợp pháp dưới sự bảo trợ và theo dõi chặt chẽ của mật thám Pháp như Nam Phong tại sao lại bị đánh giá là phản động, bôi nhọ văn hóa dân tộc và tuyên truyền cho văn hóa thực dân??? Một giám đốc, một Tổng biên tập, một cây bút chủ lực của Nam Phong như Phạm Quỳnh tại sao lại bị kết án là bán nước???

...

Cuối tháng 6 năm nay (2006), tại Thư viện Trung ương (Hà Nội), tôi đã tìm được nhật báo Cứu quốc (Trung ương) và nhật báo Quyết chiến, tuần báo Quyết thắng. Cả ba tờ đều có tư liệu về việc bắt và xử bắn Phạm Quỳnh. Nhật báo Cứu quốc (Trung ương) khổ A3, ký hiệu J500, số đặc biệt (khổ A4) kỷ niệm lần thứ nhất Cách mạng tháng Tám (trang 31) có bài Chiếm thành Huế (Tố Hữu kể, Tô Hoài viết). Trong bài, Tố Hữu (nguyên Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Huế 1945) kể lại rõ ràng: Khi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền bắt đầu nổ ra ở Huế thì đúng vào lúc đó, 12 giờ rưỡi ngày 23-8-1945, Phạm Quỳnh bị một chiến sĩ thay mặt cách mạng đến bắt tại nhà riêng khi Phạm Quỳnh đang ăn cơm cùng vợ con. Phạm Quỳnh run sợ và bị giải ra ô tô. Ngay sau đó, căn biệt thự của Phạm Quỳnh bị niêm phong và bị sung công.

[Trời đánh tránh bữa ăn, nhưng ở đây họ thật khéo chọn giờ cơm trưa. Vợ con bị đuổi ra đường trong lúc đang ăn cơm, không rõ ngoài bộ đồ đang mặc trên người thì họ có đem theo được gì không, bơ vơ trên đường phố, hoang mang khi chồng / cha họ bị những kẻ lạ mặt mang súng tới bắt đi đâu không rõ...]

Nhưng Tố Hữu chỉ kể cho Tô Hoài như vậy, nghĩa là chỉ kể lại chuyện bắt Phạm Quỳnh và giải đi, còn về vấn đề cái chết của Phạm Quỳnh thì Tố Hữu hoàn toàn không nhắc đến dù chỉ một lời!

Nhật báo Quyết chiến (Khổ A3, ký hiệu J545). Mỗi số gồm 2 trang.

Dưới măng sét Quyết chiến là dòng chữ “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng – Huế”.

Số 88 (ra ngày thứ tư, 5-12-1945), trang 1 (cột 2 và cột 3) và trang 2 (cột 4 và cột 5) đăng bản tin dài nhan đề “Ba tên Việt gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật. Tài sản và vật dụng của ba tên phản quốc ấy đều bị tịch thu và quốc hữu hóa (Thông cáo của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương)”.

Tuần báo Quyết thắng (khổ A3, ký hiệu J520). Mỗi số gồm 4 trang.

Dưới măng sét Quyết thắng là dòng chữ “Cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ”. Số 11 (ra ngày 9-12-1945), đầu trang 4 (tức trang cuối cùng), các cột 3, 4 và 5 đăng toàn văn thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa (hồi ấy, Huế được gọi là Thuận Hóa).

Toàn văn thông báo đó như sau:

“Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa

Trước khi Tòa án đưa ra xét xử Việt gian, chúng tôi xin nói về vụ án ba tên Việt gian chúng tôi đã xử trong thời kỳ thiết quân luật để ngài rõ và nhờ ngài công bố cho dân chúng đều biết kết quả một đời phản quốc của chúng.

Án phản quốc

Ba tên Việt gian tối nguy hiểm:

Ngô Đình Khôi: Trước làm tay sai cho thực dân Pháp đàn áp phong trào cách mạng ở Quảng Nam và Quảng Ngãi; suốt năm 1938, 39, 40, 41, 42, 43 đã giết hại vô số chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Dựa vào thế lực của giặc Pháp, Ngô Đình Khôi lại còn vơ vét tiền của quốc dân, đến lúc Nhật mạnh, lại mưu toan bán nước cho phát xít Nhật, ngấm ngầm phá hoại phong trào độc lập của Mặt trận Việt Minh.Phạm Quỳnh, một tay cộng sự rất đắc lực của giặc Pháp trong việc củng cố địa vị của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mãi quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta.Ngô Đình Huân, một tay cộng sự hết sức lợi hại của phát xít Nhật mới đặt chân đến Đông Dương. Ngô Đình Huân đã giúp Nhật một cách có hiệu lực trong công cuộc quấy rối nước ta và cản trở phong trào độc lập của quốc dân Việt Nam.

Cả ba tên Việt gian đại bợm đã bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền (2 giờ 23-8-1945) ở Thuận Hóa và đã bị Ủy ban Khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật.

Tài sản và vật dụng của ba tên ấy đều là kết quả của sự phản bội quốc gia, bóc lột dân chúng mà có, nên đều phải bị tịch thu và quốc hữu hóa.

Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương”.

*

Bài trên đây do nhà nghiên cứu Nhật Hoa Khanh viết cho tạp chí Xưa & Nay năm 2006. Tôi xin dẫn các bài báo mà tác giả nêu ra đây cho các bạn tường.

Mặc dù tác giả không nói thẳng ra nhưng có thể thấy rõ rằng Tố Hữu với cương vị chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa ở Huế (thời đó bí danh của Việt Minh gọi là tỉnh Nguyễn Tri Phương), chính là người phải chịu trách nhiệm cho lệnh giết Phạm Quỳnh, núp dưới bóng của Ủy ban khởi nghĩa!

Ngoài ra, người ta thường nói lệnh này xuất phát từ Việt Minh địa phương, nhưng đến tháng 7/1946, tức là gần một năm sau khi cụ Quỳnh bị giết, báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh ở trung ương Hà Nội vẫn đánh bồi thêm bằng một bài viết cay nghiệt có tên Phạm Quỳnh Trên Bàn Mồ, dùng nhiều phép ngụy biện như muốn quật mồ của ông dậy để đay nghiến bằng những ngôn từ như "tên Việt gian số 1", "đời phản quốc", "tầm gởi, "bày lũ ký sinh", "ngạo mạn".

Như vậy chúng ta phải đặt câu hỏi lại về những lời bao biện rằng Phạm Quỳnh chỉ bị giết nhầm bởi một địa phương lạc lõng trong cuộc Cách mạng tháng 8 đại đoàn kết toàn dân, trong khi Việt Minh trung ương vẫn xem ông là người yêu nước, là nhà văn hóa lớn? Những lời bao biện này liệu có đáng tin không?

Comments

Popular posts from this blog

Chuyện tù "cải tạo" của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp Ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ. Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực. Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia. Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21/8/1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955. Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia cho đến ngày 30/4/1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6/1975 rồi ...

TỘI ÁC ĐAO PHỦ ANH EM HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG TẠI HUẾ 1968

TƯỞNG NIỆM ̀́58 CUỘC THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN 1968 CỘNG SẢN VIỆT NAM GIẾT HẠI TẬP THỂ THƯỜNG DÂN VÔ TỘI 1968 - 2026 Mậu Thân-Huế, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và người vẽ đường hươu chạy: Nguyễn Quang Lập Tết Mậu Thân-Huế 1968 là sự diệt chủng của CS đối với Miền Nam, trong đó xác người vương vãi khắp nơi, từ góc phố đến thôn làng, từ nóc nhà, sân sau, sân trước, đến lùm cây ngọn cỏ. Toàn thành phố phủ một màu tang trắng bất tận, trải dài từ thị xã cho đến tận núi Ba Đồn, nơi tái chôn cất 5327 xác thường dân vô tội mà đã bị trói quặt đàng sau, cột thành từng chùm rồi lấp trong những hầm sâu hố cạn. Còn di tích lịch sử quý báu của dân tộc, cố đô nhà Nguyễn bị phá hủy gần như hoàn toàn, nhà cửa của dân chúng thì trở thành gạch vụn vào đúng dịp tết cổ truyền Mậu Thân 1968, qua sự kiện lừa ngưng bắn ba ngày ăn tết của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn. Đó cũng là câu chuyện mà hàng mấy chục người Việt Cộng nằm vùng trong thành phố Huế, chẳng hạn như Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh...

​Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế

Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế… Người ấy không hỏi nhiều, không kể lể, chẳng tranh phần đúng, cũng chưa từng đòi phần hơn. Nhưng lạ lắm – cứ mỗi lần nhà có chuyện, thì chính người ấy lại là người đầu tiên chao đảo. Khi ai đó gặp hạn, người ấy lại ốm. Khi cả nhà cùng lo âu, người ấy lại gánh thêm những điều chẳng ai thấy. Không phải vì người đó yếu. Mà bởi trời đất đôi khi có một cách sắp đặt kỳ lạ: Để một người chịu nhiều hơn một chút – Để những người còn lại, được bình yên hơn một chút. co là con út trong một gia đình năm người. Chị gái lấy chồng xa, anh trai có công việc ổn định, bố mẹ vẫn khỏe mạnh ở tuổi về chiều. Chỉ riêng Co – đi đâu cũng lận đận, làm gì cũng va vấp. Đã có lúc, cô ngồi một mình và hỏi: "Hay là mình là đứa gánh nghiệp cả nhà?" Và rồi cô để ý – rất rõ – Mỗi lần trong nhà có người gặp chuyện: mẹ ốm, bố té xe, hay chị gái buồn bực chuyện chồng con… Thì chỉ vài hôm sau, Linh lại là người "đón hạn": xe hư, mất việc, hay bỗng dưng té ...