Skip to main content

Một Cánh Hoa Dù - C1

Lời Trần Tình Của Tác Giả
Sau khi phát hành lần thứ nhứt, mới gần một tháng mà nhà sách và xuất bản Tú Quỳnh của anh Thạnh đã tiêu thụ hết 200 quyển. Vân, Ân, Hòa, Bảo, Chính, Nhàn, Tờ, Hạnh, Vĩ, Minh, Mẫn, Đồng, Hiếu, Dân, Tiền, Danh, Phúc, Khoan, Chánh, Kiệt, Đức, Tiến, Thăng, Thanh, Cảng, Nguyên, Quang, Phương, Xuân, Tường, Triệu, Lộc, Thượng, Quan, Tòng, Quốc, Nhẫn, Duối, Hết, Chờ, Hiệp, Hòa, Phi, Bích, Nuôi, Hiếu, Mão, Hiệp, Chức, Huệ, Sáu, Trí, Lý, Rắt, Lâm, Tùng, Kiệt, Hùng, Hải, Thư, Sen, Tri, Tài, Ẩn, Toàn, An, Chức, Lợi, Hiệu,...

Các niên trưởng: Xiếng, Quới, Thiệt, Hoàng, Công, Thanh, Bằng, Xuân, Cát, Tiến, Việt, Hạnh, Vinh, Khương, Thu, Hạp, Bạc, Thạt, Thứ, Thanh, Khôi, Trang, Cao, Lân, Trí.....đã giúp bán dùm khá nhiều. Đặc biệt các chị Lý, chị Quỳnh, và nhiều chị khác cũng đã đem sách đến từng bàn mời mua trong các buổi họp mặt Võ Bị.

Ngoài ra cũng thành thật cám ơn các báo cho đăng quảng cáo miễn phí. Đặc biệt anh Mai Văn Đức cho đăng liên tục 3 tháng trên báo Bút Việt. Ca sĩ Nhật Trường đã bán dùm sách và con anh là Thanh Toàn đọc nhiều lần trên đài phát thanh cùng dự định phát hành CD đọc sách nầy với nhiều nhạc đệm phù hợp với cốt truyện thật đặc sắc.

Cám ơn Đức (10 cuốn), BS Hiền (10 cuốn), BS Tường, NT Tâm, NĐ Phước, Hùng (5 cuốn) đã mua ủng hộ nhiều sách để tặng bạn bè và thân hữu. Nhà xuất bản Tú Quỳnh hối in tái bản gấp để có sách bán. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, chiến hữu trong quân đội, sách đã được tái bản nhiều lần ngoài sức tưởng tượng của tác giả. Tôi phải ngày đêm lo sửa chữa lỗi chánh tả, hình ảnh, bài vở, và layout để cho đợt tái bản kỳ nầy sẽ được hoàn mỹ hơn trước. Nhiều độc giả đã cho ý kiến khích lệ qua điện thoại hoặc thư từ, sau đây là phần trích đăng những:



Cảm Nghĩ Của Độc Giả
Tôi đã đọc xong cuốn sách Hồi Ký của anh: đó là một tấm gương soi sáng cho những ai còn muốn làm chi cho dân tộc, cho đất nước, và cho cả riêng bản thân mình nữa. Con người ta phải sống cho đáng sống để được quí trọng và kính mến. Sự can đảm và chí phấn đấu của anh có nhiều, tôi xin có lời khen ngợi với sự kính mến của tôi.

Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi

Sách đã được viết theo một lối văn giản dị xong trung thực của một thanh niên thời loạn đầy nhiệt huyết đã làm đủ bổn phận với núi sông ....Tôi rất tiếc là những sĩ quan trẻ, có học như Thiếu tá và các bạn đồng khóa đã ra Trường quá trễ, và vì vậy đã không nắm được các chức vụ then chốt của Quân Đội khi đất nước lâm nguy!!!....

Y Sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân


Viết mấy giòng nầy không phải để khích lệ niên trưởng đâu, vì sự phấn đấu của N.T. là tấm gương sáng cho bất cứ ai bi quan, mọi sự dửng dưng trước tập sách nầy của bất cứ ai đã một thời mang binh nghiệp nói chung và Võ Bị, Nhảy Dù nói riêng, quả thật không xứng danh là quân nhân QLVNCH.

Cao mạnh Nhẫn, khóa 21 ĐL, Oklahoma

Cám ơn bạn đã viết về đời lính qua đời mình:

- Là người lính chiến, tôi cám ơn công khó của bạn đã viết và xuất bản cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù”.

- Là người bạn, tôi cám ơn Dưỡng đã nói lên được thiên hùng ca, thay cho các bạn khác và cho người đã nằm xuống. Phạm Ngọc Tấn, K20, Ohio

Tôi không quen cựu quân nhân và hội đoàn, nhưng vẫn bán sách dùm cho Dưỡng được 25 cuốn. Tôi gặp những người trí thức, khá giả, hoặc chủ tiệm, nói họ mua đọc và giới thiệu sách Hồi Ký nầy, vì nó nói lên gương tốt, nhất là những gia đình không êm ấm cần nên đọc sách nầy.

Đoàn Công Danh, Seattle

Tôi ít đọc sách Việt vì làm báo chí Mỹ lâu năm, bà xã tôi rất ngạc nhiên tại sao tôi lại đọc sách của Dưỡng một cách say mê và coi lại tới hai lần. Sách rất hay, lời văn nhẹ nhàng hấp dẫn, có thể đọc từ bất cứ đoạn nào mà cũng thấy thích thú.

Nguyễn Đức Thu, K16, Maryland

Sách đã lột tả được một người sĩ quan xuất thân trường VBQG Đà Lạt; cũng như là một người chiến sĩ Nhảy Dù không phải chỉ biết đánh giặc mà còn biết thưởng thức cái dịu dàng êm đẹp của tình người, tình thương yêu gia đình, xã hội, của người đàn bà Việt Nam, của một chinh phụ trong thời buổi loạn lạc. Nội dung thật súc tích, giống như bàn tiệc mà tác giả đã bày ra nhiều món ăn ngon, khiến mọi thực khách (độc giả) ăn xong đều cảm thấy hả hê mát dạ! Thỉnh thoảng chen vào vài câu chuyện nhỏ nên không bị nhàm chán; lời văn giản dị, chân thật, rất hấp dẫn, nhưng viết còn ngắn quá đọc chưa đủ.

Đặng Văn Cần, K22, Florida

Nhận sách đọc suốt đêm, hay lắm, hấp dẫn lắm. Sáng nay tao mới họp mặt Võ Bị, họ ủng hộ mầy tối đa, gởi thêm 10 cuốn.

Huỳnh Thiên Lộc K20, Michigan

Những trận chiến anh kể tự nó đã có “Lửa”, văn thật giản dị, chân tình, kể chuyện đồng quê làm nhớ Việt Nam quá. Đọc chỗ khí khái của Tướng Đống, sự lễ độ và tài ba của Tướng Trưởng, lòng can đảm bảo vệ dân của Tướng Trí, và tài mưu lược của Tướng Lưỡng làm xóa bỏ những cảm nghĩ sai lầm trước đây về các vị Tướng. Đọc thấy chị chăm sóc anh hơn 24 năm thương tật, tôi cảm thấy quí trọng vợ mình hơn nữa!

Nhạc Sĩ Châu Định An

Văn anh hiền giống con người anh. Bằng sự chơn chất nhân hậu; bằng tất cả thiết tha dành cho bộ quân phục đã chọn, bằng tấm lòng thủy chung và nhân hậu với bằng hữu, với thuộc cấp một thời, cuốn hồi ký tuy thiếu chất “Nhà nghề” của một tác phẩm văn chương, nhưng có lẽ sẽ tạo nhiều xúc động, nhất là đối với những người đã từng mặc áo hoa, mũ đỏ, từng sống và chiến đấu ở cùng một đơn vị (Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù) với cựu thiếu tá Trương Dưỡng. Một đặc điểm khác: tác phẩm chỉ kể lại theo trí nhớ những người thật, việc thật, không cường điệu, không “Lên gân”, không hào hùng phét lác, không anh dũng phường tuồng như phần đông các cuốn hồi ký khác.

Nhà văn kiêm họa sĩ Khánh Trường, ĐĐ91ND

Có nhiều sách moa đọc một trang là không muốn coi tiếp, sách của toa, moa đọc một mạch tới 2 giờ khuya, thật hấp dẫn, dễ đọc, đáng khích lệ. Kỳ họp mặt Hội Võ Bị Houston, moi đã lên micro với thiệu và các bà K20 đến từng bàn mời. Nhờ vậy bán 2 lần được hơn 50 cuốn.

Đinh Văn Nguyên ở Houston, Texas

Anh viết hay quá! Binh chủng Dù sẽ được rửa mặt, anh cần muốn biết thêm gì về SĐND thì cứ gọi, vì số quân trong Dù của tôi là 0022, đã đi lính Dù 20 năm, từ thời Pháp ở ngoài Bắc.

Thiếu úy Phạm Gia Cầu, Houston

Đọc rồi mới biết được sự gian khổ, anh dũng, và thiện chiến của binh sĩ Nhảy Dù, nhất là cảnh lúc về phép lo chở vợ mới cưới đi chơi đó đây, rồi lại can đảm dứt tình riêng tư để trở ra đơn vị, tiếp tục chiến đấu bảo vệ an ninh cho xứ sở.

Một độc giả ở St Peterbursg, Florida

Ông nhớ hay thiệt, đọc rất hấp dẫn, những hình ảnh xưa lúc tụi mình còn ở TĐ9ND như hiện ra trước mắt, sẽ gởi hình cho. Tôi mua ủng hộ ông 5 cuốn để tặng cho mấy đứa con và thân hữu.

Nguyễn Đức Tâm, K18ĐL, nguyên ĐĐT91ND

Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” quả thật là một kinh cầu nguyện cho những oan hồn uổng tử, là một liều thuốc an thần, một phương thuốc trị liệu cho những người thương tật, và một liên kết cho những cuộc tình tan vỡ khắp nơi của mọi người trong mọi hoàn cảnh.

Nguyễn Cao Thượng, Bạn thiếu thời của Dưỡng

Tôi mua sách tại Tú Quỳnh, đọc thấy hay và hấp dẫn nên gọi điện thoại cho anh để khích lệ, tôi sẽ gởi E-mail giới thiệu.

Nguyên Xuân Hoàng, K16ĐL, New Jersey

Em mới qua 2 năm, cảm thấy thua kém bạn bè nên chán nản, nhưng khi đọc xong sách của Niên Trưởng, tinh thần phấn khởi rất nhiều. Thằng bạn làm chung hãng nói: “Ảnh như vậy mà còn phấn đấu vươn lên, cực khổ của tụi mình đâu có thấm gì ”

Đặng Thành Long, K29ĐL, Atlanta

Đầu thập niên 70, chúng ta đã được đọc những tác phẩm tuyệt vời và rất nóng bỏng về cuộc chiến của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam...Những tác phẩm nói về sự chiến đấu dũng cảm, những hy sinh tuyệt đối của các chiến sĩ Nhảy Dù nói riêng và QLVNCH nói chung trong nhiệm vụ cứu nước, an dân. Mới đây ta lại được đọc cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” của Trương Dưỡng. Thật sự Trương Dưỡng không phải là một nhà văn mà là một chiến sĩ thuần túy. Lần đầu tiên anh viết văn mà lại dùng thể loại Hồi Ký. Hồi Ký là để viết cái “Ta”, một loại sách khó viết và rất dễ bị người đời bỏ qua bởi vì “Cái ta là đáng ghét”. Thế nhưng với lối viết văn giản dị, trong sáng, chân chất, trung thực, mạch lạc, và rất có lửa nên đã lôi cuốn người đọc từ trang đầu đến trang cuối.

Nhà văn Nguyễn Thượng Vũ, Chicago

Phần kể về cố gắng vượt bực của Dưỡng sau ngày bị tai nạn, và chuổi ngày đen tối dưới chế độ Cộng Sản mới là phần thật sự cuốn hút mình vào những suy tư đầy thích thú. Dưỡng ơi! bạn đã có một ý chí sắt đá trong những cố gắng vượt qua định mệnh khắc khe đó (do một phần ở bản lãnh của bạn, và bạn đã may mắn có một người vợ tuyệt vời, một người bạn đời có quá nhiều thương yêu, hy sinh cho bạn và các con).

Cũng như các con của bạn đã biết suy nghĩ và làm gì để cùng cha mẹ ngoi ra khỏi vũng lầy của cuộc đời đen tối mà chúng mình (một lớp trai trẻ có lẽ sinh ra không gặp thời) và dân tộc Việt Nam phải cay đắng nhận lấy định mệnh.

Cựu Trung tá Huỳnh Bá An, Khóa 20 ĐL

Đã nhận được sách Hồi Ký của Niên Trưởng, dự định sẽ đọc vài trang mỗi ngày, nhưng rồi không thể nào xếp cuốn sách lại được cho đến khi trang cuối đã đọc xong!!!

Phạm Trung Cang, Khóa 28 ĐL

Đời người là một cuốn sách. Đối với Trương Dưỡng thì chưa đủ vì anh chưa viết hết. Anh còn sống thật lâu và làm được nhiều việc mà những người thể lực còn toàn vẹn, tứ chi còn lành lặn, sức dài vai rộng khác không làm được như anh. Ở đây tôi muốn làm nổi bật cái cá nhân phi thường và ý chí tự thắng tới mức tuyệt vời trong con người Trương Dưỡng.....

Viết Hồi Ký là viết về mình. Mình là nhân vật trong tác phẩm gắn liền với quá khứ vui buồn, thăng giáng, và thành bại.....Hồi Ký cũng là những câu chuyện của những con người phi thường, lẫy lừng tên tuổi hay những người đặc biệt như Trương Dưỡng chẳng hạn....

Có người lợi dụng viết Hồi Ký đề cao “Cái Ta”, để thỏa mãn ý đồ nham hiểm thấp hèn, bao biện cho thành kiến, đố kỵ ghen ghét, hoặc phịa ra thành chuyện để trả thù người khác. Nhưng họ đã lầm và không lường được hậu quả của nó. Họ đã lòi ra những góc cạnh đê tiện của chính cái Ta của họ, họ đã đánh lừa chính lương tâm và tự đào hố chôn mình.

“Một Cánh Hoa Dù” của Trương Dưỡng viết dưới dạng Hồi Ký nhưng chính là một bản trường ca, hay đúng hơn là một bức tâm thư viết cho bạn bè và chiến hữu....Những câu chuyện bạn bè sát cánh bên nhau, sáng còn chiều mất, sắt đá cũng nhỏ lệ, núi rừng cũng để tang!!! Những hình ảnh dũng mãnh oai hùng, hiên ngang đầy khí phách tại trận tiền mà tên tuổi bao chiến sĩ Nhảy Dù đã đi vào chiến sử như cố Đại úy Nguyễn văn Đương, cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo .....

Trương Dưỡng quả là con người đa năng, đa hiệu và đa tình, đa cảm và đa thực nữa. Nói về tính đa năng đa hiệu luôn sôi động trong con người anh, nó là thực tế chứ không phải huyền thoại. Đây là hậu quả của ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, không phải tự nhiên có, hay do một phép lạ.

Về phương diện tình cảm, Trương Dưỡng là người rất sòng phẳng và đặt đúng chỗ như người xạ thủ nhắm bia nào thì bắn bia đó và tính chung thủy được nói lên rõ nét. Tình cảm của anh trải dài trong cuốn sách....

Trương Dưỡng có lần thú nhận anh thương lính như thương vợ, trong đầu óc anh luôn chia đều: “Nửa phần cho lính, nửa phần cho em”, nên người lính Việt gốc Miên Châu Non của đơn vị đã gọi anh bằng bốn chữ “Sắc Muội Nực Bol” (Thiếu úy nhớ vợ). Tình cảm là sự tác động hai chiều, anh thương các con dĩ nhiên anh sẽ được các con báo hiếu đáp đền công sinh thành dưỡng dục. Với bạn bè, anh đối xử chí tình, không cò kè, không đắn đo, và đặt niềm tin nơi họ. Anh là người vui tính, thẳng thắn, mộc mạc chân tình, nặng nhân nghĩa, chẳng hạn đặt tên con để nhớ bạn bè. Cuốn sách có 5 chương, chương nào cũng hầu như nhắc đến thực đơn “Quốc hồn Quốc túy” làm cho độc giả cồn cào bao tử. Đặc biệt là món rựa mận, dồi chó chấm mắm nêm, củ riềng lá mơ ở Vạn Kiếp Bà Rịa, và đuông chà là chiên, bún nước lèo, cá lóc nêm mắm bồ hóc, canh Xiêm Lo ở Vĩnh Bình, thật là tuyệt vời. Có một đại niên trưởng đọc “Một Cánh Hoa Dù”ø đã ví như cuốn băng video thật hấp dẫn vì cả đoạn đời binh nghiệp của tác giả rất hào hùng, sôi động, và đầy lý thú.

Vũ Văn Quý, K10P, Houston

Tuy đi làm về rất mệt mỏi, nhưng tôi đã đọc hết cuốn Hồi Ký của anh trong 2 đêm liền. Nhiều lúc phải ngưng lại vài phút vì nước mắt ứa ra không nhìn thấy chữ. Thật đáng tội nghiệp cho các anh em chúng mình! Gương kiên nhẫn, bất khuất của anh là tấm gương soi sáng cho mọi người. Tấm lòng đối với bạn bè của anh khiến mọi người phải khâm phục. Cho tôi gởi lời thăm hỏi bà xã kiên cường, chung thủy của anh, và cũng cho tôi gởi lời cám ơn chị ấy đã hết lòng săn sóc niên đệ của tôi,... Phạm Trọng Sách, k18, Oregon

Mặc dù mày không nhận là nhà văn, nhưng rõ ràng là tác phẩm có một giá trị văn chương do lối viết kể giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhạc tính của mày. Công nhận mày có trí nhớ siêu đẳng thật. Tuy nhiên tao có đề nghị, trong lần tái bản, nhiều phần nên được khai triển, mở rộng thêm. Những phấn đấu trong nghịch cảnh của tác giả sau khi bị thương để tồn tại, vươn lên và vượt qua, nhất là những phấn đấu để tồn tại trong xã hội Cộng Sản và cuộc tranh đấu để được sang Hoa Kỳ định cư. Gương phấn đấu đáng được nhiều người noi theo.

Mặc dù tao không có ý bốc mày quá đáng, nhưng rõ ràng mày đã làm một việc rất đúng khi viết và in quyển sách nầy. Có thể tóm lại những điều suy nghĩ của tao sau khi đọc sách :

a). Tất cả những cựu SVSQ /Võ Bị Đà Lạt cần đọc để tìm thấy một phần đời mình trong đó, cùng với niềm tự hào đã được đào tạo từ ngôi trường nổi tiếng trong vùng Đông Nam Á.

b). Tất cả các chiến sĩ Nhảy Dù cần đọc để thấy rằng mình đã chiến đấu không tồi, và tự hào là một binh chủng giỏi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và của cả quân đội khác trên thế giới.

c). Tất cả những người Quốc Gia cần phải đọc để có cái nhìn đúng hơn nữa về quân đội mình, một quân đội dù mất nước nhưng không thiếu những anh hùng thực sự.

d). Mọi người cần phải đọc để biết thương yêu, tự hào.

Tao cám ơn mày đã viết ra được những điều bản thân tao cũng muốn viết nhưng không làm nổi.

Trần Văn Thành, Khóa 20 ĐL, Minosota

Good! Được lắm! Dưỡng nhớ nhiều quá. Lúc trước nơi nào đơn vị Dưỡng đi qua thì súng địch chất cả đống ở phía sau, nhưng giá trị nổi bật của Dưỡng chính là chí kiên cường vươn lên trong hơn 24 năm bị thương tật.

Nguyễn Văn Thành, cựu ĐĐT92, Sacramento

Tôi rất cảm kích và say mê khi đọc cuốn sách nầy. Trong buổi họp mặt dạ tiệc thường niên của Hội Võ Bị Houston, BCH đã để cho anh Nguyên K20 lên máy micro giới thiệu cuốn sách Hồi Ký. Sau đó các anh các chị K20 chia nhau đi từng bàn mời mua sách. Tôi không rõ đã bán được bao nhiêu cuốn, nhưng thấy có rất nhiều người mua ủng hộ...Để giúp anh hơn nữa, ngày Tết Âm Lịch sắp tới, Hội sẽ tổ chức rất lớn....hy vọng sẽ bán được nhiều hơn.....Có một Niên Trưởng, rất cảm kích về cuốn sách của anh, sẽ viết một bài trên bản tin của Hội.

N.T. Trần Văn Hiển, k16, HT Hội VB Houston
Tổ trác! Tổ trác!!!

Chưa mua đừng mua, mua rồi đừng đọc, mà nếu đọc rồi thì đừng đưa cho vợ con đọc!!!

Kính gửi quý Niên Trưởng, Niên Đệ, Thân hữu, và các cháu có ý định mua cuốn Hồi Ký “Một Cánh Hoa Dù” của niên trưởng Trương Dưỡng. Tôi đã đọc từ A tới Z cuốn sách nầy, trong đó đề cập đến tấm gương hy sinh sáng chói của người đàn bà có một không hai trên cỏi đời nầy là chị Trương Dưỡng. Tôi muốn lấy tấm gương nầy để nhắc khéo bà xã nên đưa cuốn sách cho bả đọc. Ý của tôi là muốn bả đọc cái phần nào cần đọc mà thôi, rồi áp dụng đúng như vậy cho tôi nhờ.

Ai ngờ bả cũng như tôi, đã đọc từ A đến Z. Nhưng cái phần người đàn bà hy sinh cho chồng con bả phớt tỉnh ăng lê, thay vào đó bả chú ý đến cái phần người đàn ông tàn phế đầy nghị lực, đầy tinh thần chiến đấu, cả một cuộc đời đấu tranh không ngừng nghỉ. Bả đem cuộc đời người đàn ông nầy ra so sánh với cuộc đời tôi!!!

Ôi thôi còn gì bất hạnh cho bằng, nào là người ta ngồi xe lăn mà còn học được, còn làm việc được, còn anh thì ngồi .......... xa-lông uống bia, xem TV. Người ta lớn hơn anh nhiều mà có tư tưởng phấn đấu, còn anh cứ như là ông cụ non, ăn rồi chỉ biết nói phét, bàn chuyện đại sự mà xem ra rổng tuếch chẳng có chút kết quả nào cả. Người ta lo phụ giúp vợ con, làm công việc nhà còn anh vừa ăn xong ra ngồi xa-lông mở TV coi football, xem hoa hậu áo cụt, quần ngắn, la hét um sùm v.v. ....

Quý vị có thấy tôi bị tổ trác khi đưa sách cho bà xã coi không?

Thấy bả so sánh hơi nhiều nên tôi bèn an ủi bả, lấy tâm lý học ra phân tách cho bả nghe: “Em có biết không, mỗi người có mỗi ý thích thì công việc trong nhà mới suôn sẻ được, hai người mà làm việc cùng một lúc sẽ bị conflict (va chạm). Chẳng hạn như sau khi ăn xong, em thích rửa chén còn anh thích nghe nhạc. Rửa chén xong em thích hút bụi còn anh thì thích coi TV, mỗi người làm một việc. Làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu, ai làm việc nấy thì chắc chắn sẽ có ngày nhà mình là một gương sáng cho xã hội chủ nghĩa noi theo !”

Chưa hết đâu, thua vợ tôi bèn nghĩ đến con. Cái bài học ngồi xe lăn đến trường, châm chỉ làm homework, tôi nghĩ là có thể áp dụng cho mấy đứa con tôi được. Tôi bèn đem cuốn sách dụ khị bọn nó đừng có lười biếng học. Nhưng sau khi nhìn cái hình ông sĩ quan trẻ, đẹp trai ở trang đầu, với cái hình ông già ngồi xe lăn lãnh bằng ở trang cuối, bọn nó đồng thanh tuyên bố: “Không phải đâu ba ơi, cái hình nầy giả đó, con không biết đọc tiếng Việt nên ba muốn nói gì cũng được. Làm sao ba biết hai cái hình đó là một người? Với lại nếu ông bị thương tật sao không chịu ăn tiền trợ cấp mà lại đi học chi cho nó mệt vậy??”

Phạm Bốn, K27 ĐL, Colorado
Lời Giới Thiệu

Của Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh SĐND
Trương Dưỡng là một sĩ quan Nhảy Dù năng động, mặc dù thân thể bất toàn mà cũng cố gắng sưu tầm tham khảo các nhân chứng trong những cuộc hành quân của các đơn vị Nhảy Dù mà Dưỡng đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự, nhằm nói lên quân sử oai hùng của Binh Chủng.

Sách “Một Cánh Hoa Dù” đã kể gần hai chục trận chiến, tuy tổng quát và vắn tắt, nhưng nhờ lối viết trung thực, không dùng từ hoa mỹ, khiến cho người đọc hình dung được sự anh dũng chiến đấu không nề gian lao, khổ cực, và nguy hiểm của các anh em binh sĩ Nhảy Dù. Mong rằng các anh em khác viết lại các điều mình ghi nhớ để nói lên cho quần chúng biết sự chiến đấu anh dũng về binh chủng thân yêu của chúng ta.

Ngoài ra tôi cũng rất khâm phục chí phấn đấu vươn lên của Trương Dưỡng, nhất là 9 năm ở lại Việt Nam, sống dưới chế độ hà khắc Cộng Sản, hai vợ chồng đã đồng lòng hợp sức chịu nhiều vất vả để nuôi nấng ba con còn nhỏ dại.

Những năm tha hương, mặc dù xa lạ về ngôn ngữ, mặc dù chịu đựng sự dày dò về các biến chứng do bệnh tật gây ra, Trương Dưỡng vẫn tiếp tục đến trường, để làm gương và hướng dẫn các con học hành nên người.

Sách nầy có giá trị ở phần chân chất, viết sự thật, có thể làm tài liệu quân sử, đóng góp không nhỏ vào công cuộc tìm hiểu những sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam.

California, ngày 15/7/97

Lê Quang Lưỡng


Chương 1 
 Vào Quân Trường 
 1. Xếp Bút Nghiên Theo Việc Đao Cung
 Tôi đang ăn ở Phạn xá, tưởng không ai để ý, nên kéo ghế ngồi sâu vào trong gầm bàn, hòng cho đôi chân được thoải mái đôi chút. Vì suốt cả ngày bị các cán bộ khoá đàn anh, thay phiên nhau quần phạt đủ mọi cách!

Bỗng có tiếng quát to từ đằng sau lưng :

- Anh kia!

Và một cây gậy dí vào lưng, vì anh cán bộ nầy đã để ý theo dõi từ lâu, mà tôi nào có hay biết trời trăng gì đâu ?

Anh sinh viên sĩ quan cán bộ nói tiếp:

- Anh có biết Tân Khoá Sinh chỉ được ngồi một phần ba ghế, và mọi động tác đều phải giữ vuông góc hay không ?

Chờ cho tôi biết ngồi đúng thế xong, anh ta nói tiếp:

- Gắp thức ăn cũng phải vuông góc. Anh đã ngồi uể oải mà còn banh chân ra nữa. Như vậy mất tư cách lắm, có biết không?

- Dạ thưa cán bộ biết.

Anh sinh viên cán bộ chỉnh xong, rồi quát to:

- Anh biết lỗi thì làm 20 cái nhảy xổm, vừa làm vừa đếm thật to cho cả tiểu đoàn nghe coi.

Như người ăn vụng bị bắt gặp, tôi vừa sợ vừa xấu hổ, liền đứng ra phía  sau ghế vừa làm vừa đếm thật to . Khi nhảy được hơn 10 cái thì anh bảo  ngưng: - Thôi đủ rồì, thấy anh làm mệt, tôi

thưởng anh trái "Chuối Võ Bị" nè. Anh

có từng thấy chuối võ bị chưa?

- Dạ ...thưa chưa !

Anh cán bộ chìa nắm tay tới trước, rồi mở rộng bàn tay, bày ra một nắm ớt đỏ tươi và nói:

- Chuối võ bị đây anh, ăn thử một trái coi có ngon không?

Tôi ngó nắm ớt, chần chừ chưa biết phải làm gì, hết dòm sinh viên cán  bộ, rồi lại nhìn vào nắm ớt! Cuối cùng đành phải nhặt một trái bỏ nhanh  vô miệng định nuốt trôi cho xong. - Không được nuốt, phải nhai từ từ để  thưởng thức chuối võ bị chứ anh! SVSQ cán bộ quát.

Thế là tôi bắt  buộc phải nhai nhòm nhoàm trái ớt, rồi nuốt vội, ớt cay quá làm nước  mắt nước mũi chảy ròng ròng. Tôi phải há miệng hít hà lia lịa. Vậy mà  anh cán bộ vẫn không động lòng chút nào, còn hỏi một cách vô lương tâm:

- Ăn có ngon không anh ?

Tôi bấm bụng trả lời:

- Dạ...dạ...ngon!

Miệng thì nói ngon mà lòng lại cay đắng trăm chiều. Tôi cứ để mặc cho  hai dòng lệ tiếp tục trôi chảy theo niềm cay đắng vì quá khổ cực và xót  xa! Có lẽ vì cả hai. Bây giờ tôi mới thấy cái thấm thía, cái gian truân  khốn khổ của đời lính! Vì đây chỉ là bước đầu của đời binh nghiệp mà  thôi.

Trong phòng ăn, tiếng hát Hoàng Oanh vang lên :

Xếp áo thư sinh, mười sáu trăng tròn....

Lênh đênh báng súng,lời thề chinh nhân

Lời nhạc rất đúng với hoàn cảnh hiện tại, khiến lòng tôi lâng lâng bồi  hồi nghĩ lại, lý do tại sao mình quyết định tình nguyện vào trường Võ Bị  Quốc Gia Việt Nam nầy.

Cuối năm 1963, sau khi cuộc đảo chánh  Tổng thống Ngô Đình Diệm thành công, không khí chánh trị ở Saigòn vẫn  còn sôi động. Tại các phân khoa đại học, một số giảng sư chẳng hạn như  gs Chu Phạm Ngọc Sơn cứ lên diễn đàn tuyên truyền toàn chánh trị, vì thế  việc học của sinh viên gần như bế tắc.

Tôi là một sinh viên  nghèo, mong sớm thành đạt để giúp đỡ gia đình. Nhưng gặp tình trạng như  thế nầy thì nếu cứ tiếp tục học sẽ không đạt kết quả như ý. Do đó tôi  quyết định nộp đơn tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khoá 20  Nguyễn Công Trứ.

Thực ra còn một động cơ mạnh mẽ khác đã thúc đẩy  tôi vào trường Võ Bị nầy. Số là dịp lễ Quốc Khánh vừa rồi, tôi có đi  dạo phố với anh bạn cùng trường trung học Trần Trung Tiên ở tỉnh Vĩnh  Bình. Anh Lâm Văn Rớt, so với tôi trước kia, thì ốm yếu lờ khờ rất  nhiều. Chẳng ngờ, mới có một năm thụ huấn tại quân trường, mà anh đã  thay đổi không thể nào tưởng tượng nổi. Người anh bây giờ thật hiên  ngang quắc thước, trong khi Rớt chỉ đi rảo bước một cách khoan thai hùng  dũng; bên cạnh nghe như có tiếng gió sột soạt, còn tôi thì phải chạy  lúp súp, mới kịp theo ngang hàng với anh, làm mệt thở hổn hển gần muốn  đứt hơi! Lúc đó tôi cảm thấy mình cũng là thân nam nhi mà sao quá yếu  ớt. Mặc dù tôi cũng thường xuyên trau giồi sức khỏe, sáng nào cũng thức  sớm trước sáu giờ, đạp xe từ Phú Nhuận đến lò Nguyễn Bình ở đường Chi  Lăng để tập nhu đạo. Rồi đúng 7 giờ rưởi, phải đạp xe tới trường Petrus  Ký học lớp Đệ Nhứt ban toán với các thầy Phạm văn Lược, thầy Binh, thầy  Đảnh,…

Nói tới Nhu đạo, tôi nhớ đến một chuyện hiểu lầm nực cười:  số là khi học lớp Đệ Nhị tại trường Âu Lạc do nhà văn Chu Tử làm giám  hiệu. Ngồi cạnh bàn có thằng bạn tên Đặng Thông Phong, thấy nó lùn và  nhỏ con nên tôi thường hay chọc: "Mầy mà lộn xộn tao quăng ra cửa sổ".  Phong chỉ mỉm cười một cách hiền lành chớ không nói năng gì hết. Nhưng  có lần tôi gặp Phong ở trường dạy Nhu Đạo của võ sư Nguyễn-Bình cùng với  ông võ sư Đệ Thất Đẳng Hiệp Khí Đạo người Nhựt. Thấy Phong đeo tới đai  nâu, tôi giật mình vì lúc đó mình chỉ mới có đai vàng. Phong tới bảo cứ  quật mạnh đi, hắn sẽ không trả đòn. Tôi nghĩ anh ta nhỏ con nên cũng còn  coi thường, nhưng khi nạp đủ mọi đòn hông, đòn vai, và kể cả đòn chân  mà cũng không thể nào quật ngã được, lúc đó tôi hết sức phục tư cách của  Phong, một người võ giỏi mà lúc nào cũng khiêm nhượng. Vị võ sư đệ ngũ  đẳng nhu đạo người Nhật nầy rất tài ba, từ ngày ông tới phụ chỉ thêm thì  ai nấy đều tiến bộ thấy rõ. Ông bảo ngày nào võ sinh cũng nên cố gắng  vô đòn hông vài trăm lần. Có lẽ Phong được chân truyền của ông nên võ  nghệ rất xuất sắc. Có lần tôi thấy anh thi lên đai đen ở đường Phan  thanh Giãn, Đa-Kao, thân hình anh mềm dịu như con mèo. Những người đai  đen lớn con mà không thể nào quật cho lưng anh xuống nệm được. Còn Phong  tuy thấp nhỏ mà cũng có thể hạ những tay đẳng cấp cao hơn, anh đúng là  một kỳ tài. Sau nầy anh làm huấn luyện viên nhu đạo ở trường bộ binh  Thủ-Đức, lúc ấy anh đã có đệ tam hoặc đệ ngũ đẳng gì rồi. Nghe nói hiện  anh là Võ sư rất nổi tiếng ở California.

Chúng tôi tập trung ở một địa điểm gần Ngã Sáu để chờ đưa ra phi trường.

Cùng đi khóa nầy có Phan Thanh Miên, bạn cùng lớp Đệ Nhứt B1 ở Petrus  Ký. Má tôi có đưa tiễn, bà sắm đủ thứ đồ mang theo không hết, phải nhờ  Miên xách phụ dùm giỏ cam. Bà gởi gấm đủ điều và nhờ Miên coi sóc dùm,  làm như tôi còn con nít vậy! Đúng là lòng mẹ bao la như biển Thái Bình.

Chiếc máy bay dân sự chở đám thanh niên, trong đó có tôi, xuống phi  trường Liên Khương Đà Lạt. Từ cánh cửa bước ra, mọi người lần lượt rời  phi cơ một cách mệt mỏi, đến tập trung tại nơi hai chiếc GMC và một  chiếc xe Jeep đang đậu. Đám thanh niên ngơ ngác ngó ngang ngó dọc như sợ  bỏ sót một thứ gì. Tất cả khoảng ba mươi người, tuổi từ 18 tới 25. Y  phục gọn gàng, cùng với túi hành trang nhẹ đeo vai. Những người tuổi trẻ  nầy trông có vẻ bơ phờ vì họ chưa quen đi phi cơ. Bấy giờ là khoảng  cuối tháng 12, thời tiết mùa đông ở Đà Lạt đã lạnh giờ lại càng lạnh  thêm, những luồng gió cắt da thổi vào người khiến ai cũng bị nổi ốc,  rùng mình! Xung quanh phi trường là đồi thông bát ngát, lá thông reo lên  như những bản nhạc buồn làm se lòng những chàng trai đầy nhựa sống, vừa  rời bỏ thành phố thân yêu. Đứng cạnh chiếc xe Jeep là 4 SVSQ khoá 19,  họ mặc quân phục dạo phố mùa Đông bằng nỉ xám đen. Trên đầu đội mũ  Casquette có huy hiệu Tự Thắng Để Chỉ Huy. Hai vai gắn alpha vàng trên  nền đỏ thẩm, cánh tay trái có đeo giây biểu chương màu anh dũng, giày  bóng loáng, kèm theo khuôn mặt nghiêm trang, trông rất oai nghi hùng  dũng. Rồi chợt cả bốn người cùng tiến về phía đám thanh niên trẻ; nhìn  dáng đi của họ như toát ra một cung cách hiên ngang, sắt đá, và uy lực  thể hiện sau một năm tôi luyện ở quân trường. Họ và những chàng trai trẻ  vừa mới đến, tuy mỗi người một vẻ nhưng cùng chung một hoài bão là đem  tài trai để phục vụ non sông, tổ quốc. Đó là hoài bão oai hùng của người  chiến sĩ. 
 2. Giai Đoạn Tân Khóa Sinh

Cũng nên lược sơ qua  về trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, đây là một nơi chuyên đào tạo cho chiến  trường những sĩ quan hiện dịch, có trình độ văn hoá bậc đại học. Trường  có thể liệt vào tầm cỡ nhứt, nhì trong vùng Đông Nam Á, nó được đỡ đầu  bởi trường Võ Bị West Point ở Mỹ. Hằng năm vào ngày mãn khoá đều có sự  tham dự của vị Chỉ huy trưởng trường nầy. Trường được xây cất trên một  sườn thoai thoải ở độ cao 1515 mét, dưới chân Đồi Bắc, chảy dài kề cận  bên ấp Thái Phiên trù phú, với vô số rau cải tươi xanh, cung cấp cho  thành phố của xứ hoa anh đào. Chính tại đây đã tạo ra nhiều cuộc tình  thơ mộng giữa các chàng trai Võ Bị và các nàng thôn nữ ngọt ngào diễm  lệ. Nhờ khí hậu mát mẻ nên mỗi Chủ nhật, thành phố được làm đẹp thêm bởi  những chàng trai Võ bị trong các bộ đồ dạo phố mùa Đông, mùa Hè, với  những màu sắc hài hoà tạo cho họ vừa rực rỡ vừa hiên ngang, làm đẹp lòng  các nàng nữ sinh của trường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt.

Theo tổ chức  của trường thì đứng đầu là Chỉ Huy Trưởng, đặc biệt Khoá 20 của chúng  tôi có đến năm vị CHT: Đại tá Trần Ngọc Huyến, Chuẩn tướng  Nguyễn-Văn-Kiểm, Đại tá Trần-Văn-Trung, Thiếu-tướng Trần-Tử-Oai, và  Đại-tá thiết giáp Lâm-Quang-Thơ, người đã chủ tọa lễ gắn cấp bậc Tân  Thiếu úy cho chúng tôi.

Trường gồm có Văn Hoá Vụ, Quân Sự Vụ, và  Ban Yểm Trợ. Văn Hóa Vụ lo giảng dạy chương trình văn hóa bậc Đại học;  Quân Sự Vụ huấn luyện hành binh chiến thuật, vũ khí, và tác xạ; Ban Yểm  Trợ lo tổng quát các nhiệm vụ huấn luyện và còn cung cấp các lính giả  địch, xe cộ vật liệu, và đạn dược,...

Liên Đoàn Sinh Viên chia  thành 2 tiểu-đoàn, mỗi tiểu-đoàn có 4 đại đội (thời kỳ Tướng Oai nhập  lại còn 4 đại đội và đại đội cờ đỏ được khen thưởng, còn đại đội nhận cờ  đen thì bị cúp phép).

Có hai hệ thống: Tự-Chỉ-Huy và Tuần-Sự. HT  Tự Chỉ Huy do sĩ quan cán bộ liên đoàn trưỡng đề cử, dựa theo thành  tích điểm văn-hóa và quân-sự trong năm thứ nhứt để chọn. Hệ thống Tuần  Sự do các sinh viên sĩ quan cán bộ thuộc hệ thống Tự Chỉ Huy cắt cử, hệ  thống nầy điều hành công việc hằng ngày, luân phiên mỗi tuần thay đổi để  trực tiếp chỉ huy các tân khoá sinh.

Khí hậu Đà Lạt thật tốt,  lúc ở trong máy bay tôi mệt mỏi buồn nôn, nhưng vừa bước ra cửa phi cơ  là cảm thấy khoẻ ngay! Sau khi tự giới thiệu, bốn sinh viên sĩ quan cho  chúng tôi biết rằng họ có nhiệm vụ tiếp đón những anh em Tân Khoá Sinh,  tức là những tân sinh viên sĩ quan tạm thời. Các thanh niên chia ra làm  hai, mỗi nhóm lên một xe GMC.

Chiếc Jeep dẫn đầu chạy phăng  phăng, đoàn xe chạy vòng qua các thắng cảnh nổi tiếng của thị xã Đà Lạt,  nào thác Prenn, thác Cam Ly, hồ Hồ xuân Hương, khu chợ Hoà-Bình; gần  đến trường có hồ Than-Thở, ấp Thái-Phiên. Ôi Đà Lạt sao có nhiều cảnh  đẹp và thơ mộng quá! Khi xe chạy ngang qua phố chợ, nhiều người vẫy tay  như chào mừng, nhất là các cô gái Đà Lạt với đôi má đỏ hồng trông thật  dễ thương. Họ gật gật cái đầu tỏ dấu như nhắn nhủ một điều gì. Chúng tôi  ai nấy đều cảm thấy buồn vui lẫn lộn. Mãi đang ngắm nhìn cảnh đẹp hai  bên, bỗng chiếc xe quẹo gắt và ngừng lại trước cổng tam quan, bên hông  có treo một bảng lớn đề những dòng chữ to đập vào mắt mọi người:

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Nơi Qui Tụ Những Chàng Trai Có Lý Tưởng

Nhìn dòng chữ nầy tự nhiên tôi cảm thấy tự hào, liên tưởng đến hình ảnh  một Thiếu úy tuổi trẻ, hiên ngang, mang danh dự về cho gia đình và họ  hàng, nhất là bà mẹ hiền, lúc nào cũng ủng hộ và khuyến khích tinh thần  của con mình.

Chiếc cổng trường rất lớn, xây bằng gạch đỏ Đồng  Nai, có nhà kiếng làm trạm kiểm soát ở ngay chính giữa, chia cổng làm  hai lối, bên phải để đi vào, bên trái là lối ra. Trước nhà gương có gắn  những chữ nổi bằng đồng bóng loáng:

Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Tự Thắng Để Chỉ Huy

Khi xuống xe tôi thấy một số người từ các địa phương khác đến. Có người  đi bằng xe lửa, cũng có một số người đi bằng máy bay như nhóm ở Sàigòn  chúng tôi. Tất cả được các SVSQ cán bộ mời ra câu lạc bộ ở trên sườn đồi  thấp, xây bên ngoài cổng trường. Các thanh niên ai cũng háo ăn vì đói  bụng đã lâu. Họ ngồi ngã nghiên thoải mái, cười cười nói nói huyên  thiên, có gã còn liếc mắt đưa tình với mấy cô hầu bàn người Hoa duyên  dáng.

Anh sinh viên cán bộ hỏi:

- Tình hình bên ngoài ra sao, các anh?

Một thanh niên nói giọng Huế trả lời:

- Chán lắm anh ơi! Đâu có học hành gì được, chính trị lồng vào khuôn  viên đại học, làm mất hết ý nghĩa của sinh viên thuần tuý, hơn nữa lúc  nào cũng đe dọa tổng động viên. Tui đi con bồ tui nó khóc quá chừng,  nhưng tui nói với nó là hai năm sau ra Thiếu úy mặc sức em hãnh diện!

Sau khi ăn uống no nê rồi thì họ mời chúng tôi ra xếp hàng tập họp  trước cổng. Từ khi xuống máy bay tới giờ, tôi thấy các sinh siên sĩ quan  Khoá 19 nầy thật là lịch sự dễ thương. Các anh cán bộ bây giờ mặc quân  phục kaki vàng, quần túm ống bỏ vào giày Map được đánh bóng như gương  soi. Đầu họ đội nón nhựa thoa dầu láng bóng, lưng đeo dây nịt trắng to  bản. Tất cả đều cầm chiếc gậy ngắn trên tay trông như những tướng Patton  của Mỹ thời Đệ Nhị Thế Chiến, vừa oai hùng vừa hung dữ, sẵn sàng gõ vào  đầu những chú nào ba gai. Họ còn mang lên cổ áo những cấp bậc hai gạch,  ba gạch màu đỏ, trông giống như các cấp bậc của sĩ quan SS thời  Đức-Quốc-Xã. Những cặp mắt ngó trừng trừng che khuất dưới vành nón nhựa,  như xoi mói vào tim của từng chàng trai được gọi danh hiệu mới là Tân  Khóa Sinh. Một anh đứng trước chúng tôi, cổ đeo hoa mai viền đỏ trên nền  trắng, nói một cách nhỏ nhẹ lịch sự:

- Tôi, sinh viên sĩ quan  Cán bộ tiểu đoàn trưởng, Tiểu Đoàn Tân Khoá Sinh, hân hoan chào mừng và  đón nhận các anh là những Tân Khoá Sinh của khoá 20 Trường Võ Bị Quốc  Gia VN.

Đảo mắt một vòng, anh nhìn thẳng vào các tân khoá sinh, rồi nói tiếp:

- Các bạn là những người đã nộp đơn tình nguyện vào quân trường nầy, để  rèn luyện thành những sĩ quan hiện dịch, hầu cung cấp cho chiến trường  những cán bộ thao lược. Khi vào quân trường các anh cần phải giữ đúng  nội quy, và thi hành kỷ luật như các khoá đã đi trước. Ngay từ bây giờ  nếu ai muốn đổi ý vẫn còn kịp, chúng tôi sẵn sàng mua vé máy bay đưa về  nguyên quán ?

Nói như vậy chớ đâu có ai muốn trở về; mọi người  trước khi ra đi đều đã bịn rịn từ giã bà con, bạn bè, và nhiều lời hứa  hẹn hùng hồn với bồ bịch.

Anh sinh viên sĩ quan cán bộ lập lại ba lần:

- Có anh nào muốn đổi ý không ?

Chúng tôi đồng loạt trả lời:

- Không! không! không!

- Tất cả theo lệnh tôi: Bên phải..quay!

- Đàng trước...bước!

Một ấn tượng về đời lính đã bắt đầu len lỏi vào tâm tư của những chàng  trai trẻ. Mọi người thi hành theo như phản xạ, họ sửa lại điệu bộ cho có  vẻ nghiêm chỉnh. Do đó tiếng giày của họ cũng nện mạnh từ từ bước theo  như cán bộ.

Trong khi nộp đơn ở Saigòn, tôi đã được hướng dẫn đầy  đủ về nếp sinh hoạt trong Võ Bị. Vì nhu cầu chiến tranh, khoá 20 phải  học cấp tốc hai năm, thay vì 3, 4 năm như các khoá khác, về văn hóa thì  tương đương với 2 năm ngành đại học. Còn chương trình quân sự thì sẽ học  như các khoá khác: về cá nhân chiến đấu, hành quân tác chiến từ cấp  tiểu đội, trung đội, và đại đội. Ngoài ra cũng học về địa hình, vũ khí,  tác xạ, cùng lãnh đạo chỉ huy.

Nhưng mọi người đều hoang mang  nhất về Tám Tuần Sơ Khởi. Có người gọi đó là tám tuần địa ngục trần  gian, có người gọi đó là tám tuần lột xác, sẽ lột bỏ hết những cá tính  dân sự để trở thành một một quân nhân thuần tuý.

Giai đoạn nầy  chỉ biết có tuân lệnh tuyệt đối, không được thắc mắc phân trần gì hết!  Thật là giai đoạn trăm cay ngàn đắng,giống như sắt bị trui rèn trong lò  luyện thép vậy.

Thế rồi kèn trống nổi lên như chào đón, như mời  mọc, và cũng như thúc giục chúng tôi đi vào. Nghe tiếng nhạc vui tươi  chẳng khác nào khi còn ở ngoài dân chính trong những đêm liên hoan nhảy  nhót ở các Phân khoa Đại học, ai cũng có cảm giác oai phong, hớn hở!

Nhưng!!!..

Người cuối cùng vừa bước qua khỏi cổng thì hỡi ơi! Tiếng quân nhạc cũng  vừa chấm dứt. Mọi sự đều trái ngược, họ trở mặt một cách trắng trợn!  SVSQ cán bộ ùa ra đông như kiến!

Một người kèm một tân khoá sinh; họ bắt đầu nạt nộ, la hét. Một anh cán bộ chạy tới quát vào mặt tôi và bảo :

- Anh nầy, chạy theo tôi coi, anh thấy toà nhà ngang phía trước không? Ráng chạy cho qua mặt tôi.

- Chạy nhanh lên, bộ tà tà muốn ba gai hả ?

Đoàn quân hàng một khi nãy như bị tan loãng ra từng cặp một. Rồi mỗi  người chạy đua với một sinh viên cán bộ, nhưng chắc chắn phần thua cuộc  phải là những anh chàng lính mới nầy. Họ không biết, cứ ráng chạy qua  mặt sinh viên cán bộ để về phạn xá (dãy nhà ngang là phạn xá) phía trước  để thi hành đúng lệnh của đàn anh, mong rằng làm xong sẽ được nghỉ sớm,  vì đi suốt ngày mệt mỏi quá chừng.

Nhưng than ôi, giống như các  tân khóa sinh khác, tôi đã lầm. Lúc đang chạy ngon trớn giữa đường thì  bị một cán bộ khác chận lại và quát to:

- Anh chạy giỏi lắm, giờ chạy ngược cho tôi coi.

Như chiếc xe bị giật lùi, tôi bị vấp té ngã, vì hai chân chẹn vào nhau.

Tức thì đàng sau, một tiếng hét như sấm nổ bên tai:

- Yếu đuối như vậy sao ? Làm mười cái nhảy xổm coi.

Tôi chưa từng biết thế nào là nhảy xổm, vì thế anh ta làm trước một cái  biểu diễn, rồi bắt tôi thi hành theo lệnh. Lúc nãy chạy nước rút làm  tôi mệt thở hổn hển, tim đập mạnh quá nên mặt tái xanh. Đầu óc choáng  váng mà cũng ráng nhảy 10 cái xổm. Nhưng thiện chí đã như vậy mà vẫn  chưa được yên thân.

- Nhảy thêm 10 cái hít đất !

Tôi tự nhủ mẹ kiếp, 10 cái nầy rồi 10 cái khác, cứ như thế thì chỉ có thác thôi! Chẳng lẽ hình phạt nầy vô tận hay sao?

Đang nghĩ vẫn vơ, bỗng nghe tiếng quát:

- Tiếp tục chạy 1 vòng sân cho tôi coi.

Lại tiếp tục như cái máy, tôi lúc đó vừa chạy vừa tức, vì mình đã chấp  hành đúng lệnh, có ba gai gì đâu. Hồi nào tới giờ ở ngoài đời chỉ được  chiều chuộng, chứ chưa từng bị ai nạt nộ hành hạ như thế nầy. Rồi họ hai  ba người kèm, bắt tôi chạy và bò qua ống cống làm áo quần bị ướt nhẹp  dính đầy bùn sình, thật là dã man hết sức. Tôi quá tức giận định chạy  thẳng ra cổng luôn, nhưng không hiểu sao hai chân cứ bẻ quanh vô theo  những người chạy trước!

Từ bốn sinh viên sĩ quan tại phi trường,  rồi lên bốn chục người, bây giờ thì tứ bề bị vây kín bởi những sinh viên  cán bộ. Một vòng rồi một vòng, tôi cứ tiếp tục chạy cho đến khi bị ngã  té xuống đất lúc nào mà cũng không hay, nhưng lỗ tai thì vẫn nghe rõ  tiếng quát:

- Ai chỉ anh vô Võ Bị mà biết mang giày Bata vậy?

Tôi vừa thở vừa trả lời:

- Thưa có người mách tôi là vào đây sẽ bị phạt. Mang giày tốt, sợ bỏ uổng!

- Bộ anh khinh dễ Võ Bị phải không? Vô Võ Bị mà mang giày không đứng đắn vậy sao ?

Đang ấm ớ không biết trả lời ra sao, bỗng lúc đó tôi lại nghe một cán  bộ quây một thanh niên khác đang đứng ủ rũ như con gà chết:

- Anh tưởng vô Võ Bị để nhảy đầm hay sao mà mang giày đẹp vậy, lại còn mũi nhọn hoắc nữa chứ.

Tôi chửi thầm trong bụng, đúng là "Quan thì to miệng, dân thì ngậm tăm"!

Làm quan trên thì muốn phát ngôn thế nào cũng được, mang giày xấu cũng  bị phạt, còn mang giày tốt thì bảo là đi nhảy đầm. Mẹ ơi! sao con khổ  thế nầy ?

Tôi thắc mắc là tại sao khi ở câu lạc bộ, và ngay cả ở  trên xe GMC, họ đã tử tế chở vòng vòng để cho ngắm cảnh. Lúc đó các anh  quả thật là những chàng sinh viên sĩ quan bặt thiệp dễ thương. Thế mà  sao bây giờ họ dữ tợn quá vậy? Nghĩ như thế chừng một thoáng rồi bỗng  mắt tôi nhòa dần, đầu chúi ngã về phía trước. Mắt nhìn một anh cán bộ  thành hai người, thành ba, bốn, năm,...rồi mờ dần. Trong giây phút đó,  tôi mơ hồ nhớ lại hình ảnh khuôn mặt của những người dân ở chợ Đà Lạt,  những cái cười vẫy tay ấy như hàm ý là: "Bây giờ cười vui đi các cậu  trẻ, chút nữa đây rồi sẽ biết". Còn những nụ cười của các cô nữ sinh xứ  hoa đào, tôi đã hiểu những nụ cười ấy ngầm chứa một ẩn ý như nhắn nhủ,  như dặn dò: "Hãy ráng lên, cố gắng vượt qua những thử thách đầy gian  khổ, rồi đây các anh sẽ là những chàng trai hùng, những người yêu lý  tưởng của chúng em "!

Các thức ăn mà tôi cho vào bụng một cách  thoải mái ở câu lạc bộ, bây giờ ọc ra hết trọi, con người lờ đờ không tự  chủ, nghe họ bảo sao thì cứ làm như cái máy.

Một lúc sau đó, nhờ  không khí lạnh của Đà Lạt làm tôi tỉnh lại, vừa mở mắt ra thì thấy một  anh cán bộ đã đứng sẵn đó từ bao giờ, tôi chưa kịp có phản ứng gì thì  anh ta quát lớn:

- Giả bộ xỉu phải không anh? Tưởng tôi thương  tiếc cái mạng của anh lắm sao? Mạng của anh chỉ bằng một tờ giấy thôi.  Anh hãy đứng lên trình diện tôi coi.

Như con ngựa đua bị thằng  nài thúc hối bởi roi giọt, cứ nhắm mắt lao tới. Tôi gắng gượng đứng dậy,  chân trước đá chân sau; khệnh khạng bước đến trước mặt anh ta, chưa kịp  đứng vững thì bị quát:

- Anh có biết đứng nghiêm không? Hãy chào tay và xưng danh tôi coi?

- Thưa anh, tôi tên là Trương Dưỡng.

- Quân đội không có anh em gì cả. Dân chính lắm, phải nói là thưa Niên Trưởng.

Nhắc tới chữ anh em tôi chợt nhớ tới một trường hợp tức cười là chuyện  hai anh em ruột phạt nhau. Người anh tên Long ở ĐĐA (sau nầy ra trường  vài tháng thì bị hy sinh) quát:

- Anh là gì của tôi?

- Dạ là em của anh. Người em là Nguyễn Bảo Sơn trả lời!

- Quân đội không có anh em gì hết, xưng danh lại.

- Dạ ... mình cùng máu mủ!

Theo lời Sơn kể lại: Long tức giận em không nghe lời ở nhà săn sóc bà  mẹ yếu, mà cứ nộp đơn đi Võ Bị! Nên hôm đó Long đã phạt Sơn tơi bời!

Có lẽ thấy tôi quá mệt mỏi, anh cán bộ giả lãng, thay vì tiếp tục hành  xác, anh lại chỉ vẽ cho cách chào, cách gập càm ba ngấn, thế nghiêm, thế  nghỉ, cách xưng hô, trình diện.

Anh sinh viên cán bộ bảo tôi lập lại theo:

- Tân khoá sinh T.D, danh số...., trình diện niên trưởng. Tôi lập  lại...nhưng đến hai chữ "Niên trưởng" thì bị khựng, vì nghe nó ngờ ngợ  làm sao. Niên trưởng? Sao lại là niên trưởng? Niên trưởng là cấp bậc gì  trong quân đội? Thôi thì tìm hiểu cái quái gì, lệnh ra thì cứ làm cái  đã, tôi cứ lập lại như con vẹt. Nhưng nghĩ hai chữ niên trưởng nó mới lạ  khó nói chẳng khác nào anh chàng vừa cưới vợ, phải sửa đổi gọi nhạc gia  là bố mẹ, thay vì mọi lần kêu là hai bác.

Hơn mấy giờ bị quần  thảo, đám tân khoá sinh được dẫn đi hớt tóc và lãnh quân trang. Phòng  hớt tóc gồm 5 ghế, đặt trước gương dài, từng 5 người được gọi lên .....  "Bàn cạo". Ai nấy như nhẹ nhõm vì từ khi bước chân vào cổng trường tới  giờ chỉ có dịp nầy mới được tự do ngồi nghỉ ngơi đôi chút, họ chẳng còn  thì giờ để ý tóc sẽ được cắt theo kiểu nào. Khi hớt xong, thấy đầu bị  cạo trọc còn ba phân, mặt mày ai nấy đều méo xẹo!

Sau đó họ đưa  chúng tôi vào phạn điếm để ăn cơm. Cứ bốn người ngồi một bàn, họ chỉ tôi  cách ngồi thẳng lưng, hai tay buông thòng xuống, cầm gập và mặt ngó  thẳng, lúc ăn phải giữ vuông góc, trông giống như người máy "Rô bô"â  vậy. Bỗng tôi nghe tiếng hét trước mặt:

- Anh kia! Xưng danh coi.

Tôi đứng bật dậy chợt thấy đó là bạn Lâm Văn Rớt, định lên tiếng bảo  cứu mạng, tao bị tụi nó hành quá trời mầy ơi, nhưng Rớt làm mặt lạ quát:

- Xưng danh nhanh lên.

Tôi tưởng hắn nói chơi ai dè hắn trở mặt thiệt. Tức quá tôi hét lớn:

- Tân khoá sinh Trương Dưỡng trình diện.

- Anh đã ăn được mấy chén?

- Thưa 5 chén (trời ơi bạn bè mà phải dạ với thưa!!)

- Anh ăn thêm 2 chén nữa cho tôi coi.

- Tuân lệnh!

Nhưng đồ ăn đã hết rồi, đành phải ăn cơm với xì dầu.

Sau khi cơm nước xong, họ dẫn đi lãnh quân trang và quân dụng, hành  trang đầu đời quân ngũ gồm: một túi đựng quân trang, một cái balô, 2 đôi  giày trận, hai bộ đồ tác chiến, một cái mũ sắt hai lớp nặng chình  chịch, một nón lưỡi trai và một số đồ cá nhân lỉnh kỉnh. Mọi người thay  đồ tại chỗ, với bộ đồ mới rộng thùng thình, trông ngơ ngáo thật nực cười  .

Rồi họ đưa chúng tôi về phòng, trên lầu ba. Các tân khoá sinh  bắt đầu xả nước nóng tắm rửa thật là thoải mái, mọi gian lao suốt ngày  như được trút đi theo dòng nước.

Phòng tắm ở đây xung quanh tường  lót toàn gạch men, và dưới nền toàn là gạch bông. Hằng ngày sinh viên  phải quét dọn lao chùi bằng bột Nap bóng loáng trông rất sạch sẽ. Lúc đó  trời đã tối đen, bỗng nghe tiếng kèn thổi báo ngủ. Tất cả tân khoá sinh  mọi phòng đều phải lên giường và tắt đèn đi ngủ.

Đây chỉ mới  ngày đầu trong 8 tuần lễ sơ khởi, còn lại năm mươi lăm ngày thử lửa nữa,  với nhiều trò phạt hành xác mới mẽ, khi nhớ tới cảm thấy rùng mình,  thật là đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Suốt 8 tuần, tân khoá  sinh bị phạt tập thể hoặc phạt dạ chiến cho cá nhân nào bê bối, từ sáng  đến tối chỉ toàn là cực hình, nhiều hình phạt thật là vô lý không thể  tưởng. Có lần cả tiểu đoàn tân khoá sinh bị sinh viên Phạm Hiệp Sĩ, Cán  Bộ Tiểu Đoàn Trưởng, phạt tập hợp kiểu " Nhanh như lá vàng rơi ". Tất cả  tân khóa sinh đều ở trên lầu ba, khi nghe tiếng còi, một cán bộ thả  chiếc lá, cũng từ lầu ba, mọi người phải chen nhau chạy xuống tập họp.  Làm thế nào mà hơn 400 người có thể thi hành kịp với một chiếc lá rơi,  có thể nếu biết bay thì may ra. Thế là lên lầu làm lại, chạy lên chạy  xuống cho tới gần xỉu thì vị tiểu đoàn trưởng lên bục xỉ vả nào là ba  gai, nào là tránh né, rồi bắt bò, hít đất, nhảy xổm,...

Có hình  phạt bắt lấy cây tăm đo chiều dài của sân trại, hoặc ăn trái ớt và bảo  nó là trái chuối, hoặc bảo đổ đầy bình bi-đông bằng chai dầu gió. Có anh  tân khóa sinh nhận thư tình dài tới 7 trang giấy! Sinh viên cán bộ bảo  anh lấy keo dán lại thành tờ giấy dài lê thê giống như sớ Táo Quân, rồi  bắt anh ta đứng lên bục gỗ, đọc to cho tất cả cùng nghe! Nhiều đoạn  trong thơ thật ướt át, mùi không thể tả! Nghe anh đọc lên ai cũng muốn  cười bể bụng,... nhưng nếu anh nào cười thì sẽ bị phạt ngay.

Mỗi  lần ra sân bắn, tân khoá sinh thường thi đua với nhau "chầu tê liệt", hễ  ai thua điểm thi tác xạ thì tối về đãi một chầu bao bụng cho người  thắng cuộc, ăn no nê mệt nghỉ! Nhiều tân khoá sinh trong khi học môn địa  hình, tìm cọc và điểm đứng. Khi đi qua khu vực trồng cà rốt trong ấp  Thái Phiên, có anh muốn thưởng thức món cà rốt tươi ướp lạnh, đã nhổ lén  một củ ăn rất ngon lành, xong nhét đồng tiền chì vào lỗ vừa mới nhổ  trống, coi như mua vậy. Có toán vì lo kiếm anh chàng nào đó đang lén tìm  lùm cây chui vô ngủ, vì đêm qua gác nên thiếu giấc. Do đó cả toán về  trễ giờ quy định nên bị phạt tập thể.

Mọi sự di chuyển trong  doanh trại của tân khoá sinh đều đi đúng nhịp hoặc chạy lúp súp, chớ  không được đi rảo bộ khơi khơi. Mỗi buỗi sáng thức dậy lúc 5 giờ chạy  sáng, rồi dùng bột Nap để lau chùi phòng ngủ, phòng vệ sinh cho bóng.  Lúc nào tân khoá sinh cũng phải đi nhón gót, vì nếu cán bộ thấy dấu chân  dính trên nền các phòng thì tối đó sẽ bị phạt dạ chiến.

Ngoài ra  giày phải đánh bóng, áo quần để trong tủ cá nhân và mền drap đều phải  xếp vuông thẳng, sinh viên cán bộ mỗi Thứ Bảy đều đeo găng tay trắng,  rồi họ cố tình rờ dưới tủ, dưới giường, ở kệ sách, và các bộ phận tháo  rời của súng cá nhân.

Trong khi thi hành lệnh phạt thường bị xỉ vả:

- Anh thích cười ruồi với thợ giặt hả ?

- Tà tà hả, tránh né hả, anh nào ba gai sẽ bị ra trung sĩ đó.

- Anh yếu xìu như vậy mà đòi ra trường chỉ huy binh sĩ hả?

- Anh uể oải, chán nản, không hiểu thế nào là Tự Thắng để chỉ huy sao ?

Vài chuyện đáng kể là trường hợp tân khoá sinh Đỗ Quang Xuân có người  anh họ là Đại tá Quân Sự Vụ Trưởng. Ông ta sắp đổi đi ra đơn vị tác  chiến nên bảo với sinh viên cán bộ tuần sự đại đội cho gặp Xuân, nhưng  sinh viên cán bộ nói :

- Theo qui chế tân khoá sinh không được  gặp bất cứ sĩ quan nào trong suốt 8 tuần sơ khởi, nếu đại tá gặp xong  tôi sẽ phạt anh Xuân.

Vì muốn nhắn chuyện gấp nên ông ta đành gật đầu ưng chịu. Tối hôm đó Xuân bị phạt dạ chiến trước đại đội.

Đại uý Đại đội trưởng Đại đội A là một sĩ quan rất khắc khe và cứng  rắn, nên hôm cháu ông nhập trường, khi đang thọ phạt, anh xưng là cháu  của Đại úy Di để may ra họ nể mặt mà phạt nhẹ. Nhưng anh sinh viên cán  bộ nghe được càng phạt nhiều thêm. Tội nghiệp anh bị xỉu lên xỉu xuống,  lúc đó tôi là sinh viên sĩ quan đại đội trưởng hệ thống tự chỉ huy,  trong khi anh đang xỉu, tôi lén thoa dầu cho anh. Có lần khi tân khoá  sinh khoá 21 tên Lê hữu Khiêm đang thọ phạt, tôi thấy trung uý Lê hữu  Khái, sĩ quan Đại đội trưởng Đại đội B, đi tới đi lui, hai tay cứ xoa  với nhau, như muốn tìm cách giúp đỡ em mình, mà không thể làm được! Khoá  tôi có một đứa em ruột của một vị trung tướng mà cũng bị ra trung sĩ vì  thiếu điểm.

Những thí dụ trên chứng tỏ sự chí công vô tư, không  sợ quyền thế. Đó là tinh thần đặc biệt của những sĩ quan xuất thân từ  quân trường mẹ nầy.

Vì tập quá vất vả và phải chạy hoài nên toán  nào cũng có những tân khoá sinh bị bong chân, cứ đi cà nhắc theo sau  hàng quân, chúng tôi đặt tên cho họ là " Phái Đoàn Thiện Chí ".

Đối với tân khoá sinh, thợ giặt lúc bấy giờ có thể được coi như người  thân tốt bụng duy nhất. Với tiền lương trung sĩ cho năm thứ nhứt, tôi có  thể nhờ thợ giặt mua dùm thuốc bổ calcium B1, sữa hộp, kẹo,.. Mỗi buổi  chiều thợ giặt cũng bán gà rôti, hột vịt lộn, bánh mì nem, chả chiên,...  Sau khi học quân sự về, TKS sợ nhứt là lúc tập họp đi ăn, vì đây là dịp  để các sinh viên sĩ quan cán bộ phạt tập thể, họ nêu nhiều lý do rồi  phạt chạy, bò, hít đất, nhảy xổm,...Những người nào có cử chỉ không thi  hành tích cực thì bị cán bộ đại đội gọi trình diện phạt dạ chiến vào  ngay tối hôm đó, với balô chất đầy quân trang, nón sắt và vũ khí cá  nhân, rồi bị hành xác từ 8 tới gần 10 giờ đêm. Vì vậy mỗi lần tập họp đi  ăn, tôi thường uống 2 ống calcium B1, húp một ít sữa đặc, để có thể thi  hành hình phạt đàng hoàng, hầu tránh bị xỉu hoặc bị gọi phạt dạ chiến  phụ trội.

Vì bị phạt tập thể mỗi lần gần hai tiếng đồng hồ, nên  khi vào phạn xá, ai nấy đều đói meo, người nào cũng ăn trên năm chén  cơm. Khóa tôi đặc biệt có anh Nguyễn hiền Triết, cao 1.85 m, tiêu chuẩn  tối thiểu của nó là 7 chén. Triết thủ cờ Liên Đoàn trong năm thứ hai,  sau nầy ra Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, rồi về làm sĩ quan cận vệ phủ Tổng  Thống.

Tánh Triết rất tếu và tốt với bạn bè, có lần vào đêm cuối  năm, Nghiêm đang chỉ huy Đại đội Nhảy dù đóng ở vườn Tao Đàn với nhiệm  vụ phòng thủ vòng ngoài phủ tổng thống, Triết qua rủ người bạn đồng khoá  nầy, lợi dụng giờ giới nghiêm, lấy xe đi đến các khu nhà giàu, nơi nào  có để các chậu bông ngoài cửa, Triết, Thành, và Nghiêm đều bợ hết. Khi  tới một biệt thự nọ, có chậu bông thật to, cả ba đang hì hụt lăn lên xe,  bỗng có một cảnh sát viên từ trong hẻm đi ra. Ba đứa đang lúng túng,  nhanh trí Thành chồm tới kéo cổ áo ra hù:

- Đại úy nè, sao còn đứng đó, không tới đây lăn phụ.

Thấy tới ba ông Đại úy Nhảy Dù vừa trẻ tuổi vừa cao lớn oai nghi, anh cảnh sát đâu dám chần chừ:

- Dạ! Dạ! Đại úy.

Rồi anh săn tay áo, phụ khiên chậu bông lên xe!

Nghiêm và Triết vừa làm vừa cười thằng quỉ Thành nầy ma le lanh trí  quá! Sáng hôm sau, Triết chở mấy chậu bông đem phân phát cho những thằng  bạn cùng khoá, trong đó có phần của tôi là một chậu bông giấy.

Triết chẳng những to con mà mũi lại cao, nước da hơi ngâm đen, trông  giống người Mỹ gốc Mễ lắm. Có lần chúng tôi cùng Triết đi ăn chè, chị  bán hàng hỏi:

- Ông Mỹ nầy cũng biết ăn chè sao ?

Tôi sẵn dịp nói đùa:

- Hắn là Mỹ mà biết nói tiếng Việt đó.

Chị ta không tin, tôi làm bộ nói với Triết:

- Can you speak Vietnamese ?

Triết cười hô hố giọng như Mỹ rặc:

- Oh yeah ! Of course !!!

Chúng tôi bảo cá nồi chè, chị ta cười cười bảo cứ làm thử.

Triết làm bộ nói bập bẹ:

- Cộ...thu..ơng t..ui kh...ôn ?

Cô bán chè nghe nói mặt đỏ như e thẹn, trố mắt nhìn Triết một cách ngạc  nhiên, cuối cùng cô tặng cho ông Mỹ da vàng chén chè khỏi trả tiền.  Nhưng bụng của Triết ăn một chén đâu thấm tháp gì, sẵn trớn hắn làm thêm  chục chén, khiến chị bán chè hôm đó trúng mối dẹp gánh về nghỉ sớm.

Cũng tại cái bao tử to ấy mà khiến Triết phải vô cùng điêu đứng khổ sở,  vì suốt mười năm trong trại tù tập trung, mỗi buổi ăn chỉ có một chén  cơm trộn củ sắn với nước muối, thì làm sao mà chịu cho thấu. Đã vậy lúc  ra tù, sáng nào với bụng rỗng, đôi chân run rẩy, Triết cũng ráng chạy  xích lô vòng vòng kiếm khách, mong tìm chút tiền mua cơm ăn dằn bụng  trước đã.

Lúc đó dưới chế độ kiểm soát bằng lý lịch, các sĩ quan  ra tù về chỉ có nước đi vá xe đạp ngoài đường, hoặc khá lắm thì mướn  được xe xích lô để sống lê lết qua ngày. Nhưng xích lô thì nhiều mà  người thì nghèo, Triết kiếm ăn rất khó, đã khổ lại càng khổ thêm, lu gạo  nhà Triết lúc nào cũng trống rỗng. Mặc dù chị Triết cũng hết sức chịu  khó, nhưng kiếm tiền không ra, vì thế các con anh (đứa nào cũng nặng hơn  4 ký khi chào đời, sức ăn mạnh như cha) bị đói dài dài. Đôi khi Triết  cứ chạy lang thang ngoài đường hoài vì sợ về nhà thấy cảnh vợ con nheo  nhóc! Đúng là anh hùng mạt lộ chỉ có trời ngó thôi!

Có lần chở  khách ở khu Bà Quẹo, sẵn dịp Triết ghé thăm tôi. Thấy anh ốm nhom, mặt  mày xanh lét, tôi hết sức xúc động, hơn mười năm gặp lại mà đã suy tàn  như thế nầy. Tôi vội nói bà xã nấu một nồi cơm to, để hai đứa vừa ăn vừa  hàn huyên lại những kỷ niệm vui buồn ở quân trường. Hiện nay Triết đang  sống bằng nghề sửa áo quần ở tiểu bang Arkansas, với bản chất của người  trai Đa Hiệu, anh ta từ tay ngang bây giờ đã là thợ sửa đồ vét, đồ cưới  được khách hàng hết sức ưa chuộng, còn Thành tuy đẹp trai giống Châu  Nhuận Phát nhưng đã hy sinh năm 1971!

Bây giờ xin trở lại chuyện  dài về tân khoá sinh; sau 8 tuần huấn nhục, Khoá 20 có khoảng 7, 8 người  bị trả về dân chính vì lý do sức khỏe, không chịu đựng nỗi, mọi người  đều như thay da đổi lớp, dáng dấp yểu điệu thư sinh không còn nữa. Bây  giờ tôi cân lên thêm được tám ký, người dẻo dai hơn trước, mọi thứ đều  tiến bộ cả về thể xác cũng như tinh thần. Chúng tôi ai nấy đều hiểu rằng  mục đích của những hình phạt cực hình đó không ngoài việc tạo cho sinh  viên sĩ quan một cơ thể chắc chắn, một tinh thần chịu đựng có thể thích  ứng với mọi khó khăn dù gian nan tới đâu cũng biết tự thắng để chỉ huy.  Nhất là những hình phạt gọi là vô lý đó, cũng không ngoài mục đích tạo  cho chúng tôi thích ứng, làm quen với kỷ luật sắt trong quân đội. Đó  chính là: "Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu".

Mọi  người đã dần dà có cảm tình với các niên trưởng, mến phục thái độ đàn  anh của họ. Những hành động đáng nhớ như khi kèn ngủ đã thổi lên, mọi  đèn phòng tắt, các sinh viên niên trưởng đã lặng lẽ đi từng phòng kéo  chăn mền đắp lên người khoá đàn em, vì sợ họ mệt quá ngủ quên sẽ bị  trúng gió. Cũng có những lần các sinh viên cán bộ biết các tân khoá sinh  chờ tắt đèn im lìm đâu đó, rồi mới lặng lẽ tu những hộp sữa đặc đã dấu  sẵn dưới mền, nhưng họ đã lờ đi vì các niên trưởng biết những đàn em hết  sức tội nghiệp nầy cần phải bồi dưỡng thêm cho cơ thể sau mấy ngày học  tập và chịu hình phạt hết sức vất vả.

Những hành động đó tuy âm  thầm, nhưng thể hiện biết bao nhiêu tình đồng đội của những người cùng  chung mái trường mẹ thân yêu! Bằng chứng là sau 30 năm gặp lại các đồng  môn ở xứ người, lòng tôi tràn đầy hân hoan, lúc nào cũng cảm thấy ấm  cúng như gợi nhớ lại những kỷ niệm vui buồn, nhớ nhứt là các niên trưởng  cán bộ thời kỳ Tám Tuần Sơ Khởi Tân Khoá Sinh.

Riêng anh Lâm văn  Rớt, sau khi tốt nghiệp về Tiểu đoàn 7 Nhảy dù, đã bị thương nặng ở  trận Bình-Giã. Rồi về làm sĩ quan chính huấn ở Đại đội Tổng hành Dinh Bộ  Tổng Tham Mưu. Năm 1975, anh bị tù gần mười năm, khi về nhà thì vợ đã  mất. Anh phải ngồi bán thuốc lá dạo ở chợ Vĩnh Bình để nuôi các con lúc  ấy còn thơ dại. Hiện tại anh đang ở Pháp .

Comments

Popular posts from this blog

​Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế

Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế… Người ấy không hỏi nhiều, không kể lể, chẳng tranh phần đúng, cũng chưa từng đòi phần hơn. Nhưng lạ lắm – cứ mỗi lần nhà có chuyện, thì chính người ấy lại là người đầu tiên chao đảo. Khi ai đó gặp hạn, người ấy lại ốm. Khi cả nhà cùng lo âu, người ấy lại gánh thêm những điều chẳng ai thấy. Không phải vì người đó yếu. Mà bởi trời đất đôi khi có một cách sắp đặt kỳ lạ: Để một người chịu nhiều hơn một chút – Để những người còn lại, được bình yên hơn một chút. co là con út trong một gia đình năm người. Chị gái lấy chồng xa, anh trai có công việc ổn định, bố mẹ vẫn khỏe mạnh ở tuổi về chiều. Chỉ riêng Co – đi đâu cũng lận đận, làm gì cũng va vấp. Đã có lúc, cô ngồi một mình và hỏi: "Hay là mình là đứa gánh nghiệp cả nhà?" Và rồi cô để ý – rất rõ – Mỗi lần trong nhà có người gặp chuyện: mẹ ốm, bố té xe, hay chị gái buồn bực chuyện chồng con… Thì chỉ vài hôm sau, Linh lại là người "đón hạn": xe hư, mất việc, hay bỗng dưng té ...

Khủng hoảng kinh tế 2008 và các sói già phố Wall

  Có lẽ nhiều người đã biết khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 xảy ra do bong bóng thị trường cho vay mua nhà (mortgage) của Mỹ sụp đổ, khi hàng loạt người có điểm tín dụng xấu – không có khả năng chi trả nợ - được cho vay mua nhà (subprime mortgage). Thời điểm 2000-2007, việc 1 người có thể sở hữu 2-3 căn nhà là hoàn toàn bình thường nhờ vay tiền từ các tổ chức tín dụng. Đến 1 thời điểm, khi người mua nhà không còn khả năng phát chi trả nợ, bong bóng này chắc chắn sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, việc tín dụng xấu có thể tồn tại trong 1 thời gian dài và tạo nên ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới chắc chắn không chỉ phụ thuộc vào những người có tín dụng xấu. Từ 1 đống rác, mortgage tín dụng xấu đã được hô biến thành 1 món hàng cực kỳ uy tín và chất lượng, tóm gọn lại trong hai yếu tố: 1. Biến subprime mortgage thành 1 sản phẩm hoàn toàn mới 2. Dát vàng cho sản phẩm mới này 1 trò chơi hoàn hảo đã được bày ra bởi các sói già phố Wall. Thay đổi nhận diện Yếu tố thứ...

Việt nho

Theo triết gia Lương Kim Định người Tàu đã biến đổi Việt nho thành Hán nho, phản bội ý nghĩa bản thể của chữ nho/nhu, thay thế phép ứng xử mềm mại, thuần nhất thành lối ứng xử cương cứng, hai mặt "trong pháp ngoài nho"... + Từ Việt nho đến Hán nho Mặc dù sinh ra trong một gia đình nhà nho, nhưng không hiểu sao, hoặc chính vì thế, mà tôi có ác cảm với Nho giáo. Ở Việt Nam, Nho giáo và tính tiểu nông là căn nguyên nhị trùng kìm hãm sự phát triển của đất nước. Và, cũng vì thế, mà tôi lảng đọc Kim Định, nghĩ rằng ông là toàn-nho. Gần đây, do tìm hiểu văn hóa Việt Nam, tôi mới buộc phải đọc ông. Hóa ra, thứ nho mà tôi ghét bấy lâu nay là Hán nho, một thứ nho đã bị tha hóa, xa vời nguồn gốc hoặc bị người ta cố tình bẻ quẹo, còn nho Kim Định tán dương là nguyên nho, được ông gọi là Viẹ...