Skip to main content

10. CỐ GẮNG TRONG TUYỆT VỌNG

 Ngay lúc ấy tại Mạc Tư Khoa , thủ đô đầu não của khối Cộng sản vẫn chưa nắm được chính xác những tin tức biến động trong chính trường Đông Kinh , thậm chí quyết định tiến chiếm bán đảo Đông Dương tại phiên họp ngày 02 tháng 07 họ cũng không biết được mảy may nào . Hotsumi Ozaki , một nhân viên tình báo cũng chỉ thoang thoáng nghe theo tin đồn là Nhật sẽ dồn quân tấn công về phía Nam thay vì ngược lên mạn Bắc tấn công Tây Bá Lợi Á . Để xác quyết nguồn tin ấy , Richard Sorge , thượng cấp của Ozaki muốn ông đi ngay đến Mãn Châu . Và cũng tại nơi đây Ozaki phát giác ra nhóm hơn 3 nghìn nhân công đường sắt trước kia được Đội Quân Quang Đông bí mật đào tạo , cung cấp vũ khí và giao nhiệm vụ tấn công những toán Hồng quân dọc theo biên giới ; bây giờ đã giải tán . Ngày 04 tháng 10 Sorge điện ngay về Mạc Tư Khoa báo cáo tình hình , kèm theo một bức điện văn kể rõ những diễn biến ngoại giao vừa xảy ra gần đây nhất :


  “Căn cứ theo những nguồn tin đáng tin cậy được tiết lộ bởi những viên chức Nhật : Chính phủ Nhật Bản yêu cầu Hoa Kỳ mở một cuộc hòa đàm vào khoảng trung tuần tháng này (10) . Nếu phía Hoa Kỳ không đáp ứng sự yêu cầu trên thì bộ phận đầu não chính phủ Nhật Bản hoặc hàng loạt từ chức hoặc có một cuộc cải tổ quyết liệt , thậm chí cũng có thể xảy ra chiến tranh với Hoa Kỳ . Nếu tình trạng này đến thì chậm lắm có lẽ là cuối năm nay .


  Một nhân vật được giới thẩm quyền Nhật đặt hết kỳ vọng vào là Đại Sứ Grew , vì ông này sẽ đại diện một phần nào của cuộc vận động đi đến bàn hội nghị ….


  Chính giới Nhật hầu hết đều có một quan điểm chung , nếu Đức thắng trên chiến trường châu Âu thì Nhật sẽ tung quân tiến chiếm toàn cõi Đông Dương và không cần thiết phải đối chọi với Liên Xô trên mặt phía Bắc , và giả thử Đức bị sa lầy ở chiến trường Liên Xô để đi đến đại bại ở mặt trận này thì quân Nhật sẽ không vội , họ chờ một cơ hội tốt sang năm . Hoa Kỳ dù có tinh ma đến đâu cũng không thể nào đoán nổi bước tiến quân của Nhật” .


  Bản báo cáo quá đầy đủ và mức độ chính xác của nó đã được Mạc Tư Khoa đánh giá cao . Vì thế toàn bộ Hồng quân trấn đóng dọc theo biên giới Mãn châu được lệnh rút về phòng tuyến phía Tây .


  Ngày 23 tháng 10 , tại một phiên họp của bộ chỉ huy , Tham Mưu trưởng Hải Quân Nagano đưa ra một lời phát biểu như than phiền  “Hành động và quyết định chả bao giờ đi đến đâu cả  nhưng chỉ biết trong mỗi một giờ đồng hồ hải quân chúng ta phải tiêu mất đi 400 tấn dầu . Tình trạng này coi bộ khẩn cấp lắm rồi , chẳng biết mấy ông ấy lại tính sao đây ?” . Phe Lục quân cũng đồng ý , họ đóng góp ý kiến “Cả một tháng trời chẳng tìm ra giải pháp nào cả . Chúng ta nhất định phải tiến tới chớ chẳng lẽ ngồi chờ chết sao !” Bấy giờ Thủ Tướng Tojo mới lên tiếng , giọng ông bất giác lại giống như cựu thủ tướng Konoye hôm nào “Tôi không hiểu tại sao Bộ Tư Lệnh lại thúc giục quá hấp tấp đến thế . Chính phủ đã chẳng nhắc nhở rằng vấn đề hệ trọng cần phải cân nhắc kỷ càng trước khi quyết định hay sao . Từ khi chúng ta có những ông Bộ Trưởng mới : Hải quân , Kinh tế và Ngoại giao . Chúng ta đã thay đổi đường hướng , có nên chấp nhận quyết nghị 6/9 hoặc đi tìm một giải pháp mới . Vậy ý kiến của Bộ Tư Lệnh các ông ra sao ?”.


  Nagano cùng Sugiyama trả lời rằng họ không có ý kiến .


  Đây là lần đầu tiên Tojo chứng tỏ khả năng quyền lực của ông . Có thể bảo rằng sự quyết đoán của Kido là đúng : Tojo chứng minh được ông có thể đối phó lại sự bất bình của phía quân đội .


  Liên tục những phiên họp tiếp theo hầu như họ đều dành hết nhiệt tâm vào một mục tiêu quan trọng là thương thuyết với Hoa Thịnh Đốn , nhưng bên cạnh ấy vẫn không quên suy tính lợi hại nếu trường hợp chiến tranh xảy ra . Họ đều đồng ý duy trì Hiệp Ước Liên Minh và tôn trọng 4 điều khoản của Hull mà chính quyền Konoye đã chấp thuận . Việc duy nhất mà họ không thống nhất với nhau là rút hết toàn bộ binh lực ở Trung Hoa lục địa . Tojo cứng rắn tuyên bố “như một hành động bày tỏ thiện chí trong việc ngoại giao” sẽ không có sự hiện diện của quân đội Nhật Bản trên thềm đại lục nữa . Sugiyama chống cự quyết liệt viện lẽ đó là một mối sỉ nhục to lớn cho đất nước khi phải chấp nhận một sự nhượng bộ quá đáng . Bầu không khí trong buổi họp càng lúc càng căng thẳng hơn vì không ai chịu nhường ai dù chỉ một bước . Bất chợt có tiếng nói ồm ồm vang lên từ phía bên phải của hội trường “Cách tốt nhất là rút lui toàn bộ hoạt động quân sự về . Rồi thì mọi việc sẽ được giải quyết ổn thỏa ngay !”


  Không ai khác hơn là vị tân Bộ Trưởng Ngoại Giao Togo , người ủng hộ mạnh mẻ Tojo trong hướng đi mới này . Ông chủ trương “dĩ hòa vi quí” “nín thở qua sông” , một khi yêu cầu đã được Hoa Kỳ chấp thuận rồi thì đâu lại vào đấy thôi .


  Tóm lại lời đề nghị ấy quả thật táo bạo , có vài người cho rằng Togo đã mất trí đến độ họ phải hoãn cuộc họp lại cho đến ngày hôm sau với lý do chờ cho “đầu óc Togo thật sự tỉnh táo lại” .


  Nhưng vì Tojo cố nài kéo dài thêm phiên họp . Mỗi phút ngắn ngủi trôi qua phải gắng vận dụng tim óc tìm ra phương cách để đi đến một quyết định chung cho toàn cục dù phải ngồi lại suốt đêm cũng phải ráng . Tojo nêu lên ba vấn đề chính yếu là : vì tài nguyên quốc gia có hạn nên tránh lao vào một cuộc chiến qui mô với những chiến phí khổng lồ , bởi vậy chúng ta chỉ còn hai chọn lựa duy nhất hoặc phát động ngay một cuộc chiến bất thình lình để dành lấy ưu thế trên chiến trường hoặc một mặt lo thương thuyết một mặt bí mật chuẩn bị chiến tranh nếu cần thiết . Nhưng theo cá nhân Tojo thì ông hy vọng cuộc thương thuyết sẽ dẫn đến hòa bình .


  Sugiyama và Tsukada rời phòng họp sau đó , họ đều hoang mang cùng cực trước những thay đổi đột ngột của Tojo , lời phát biểu của ông ta đâu có khác nào lời nói của một thường dân nhát gan tham sống sợ chết , thật không phải là khẩu khí của một trang chiến tướng từng trãi tí nào ! Trong lúc ấy thì Tojo cũng trở về văn phòng của ông để gặp lại kẻ tri âm , Kenryo Sato , bấy giờ là Trung Tướng , để bàn kỹ lại ba phương sách đã vạch ra trong phòng họp ban nãy . Sato góp ý rằng quyết định tuyên chiến vội vàng là một hành động liều lĩnh dại dột , nó chẳng giải quyết được những bế tắc giữa Mỹ và Nhật cũng như sự xáo trộn ở lục địa Trung Hoa . Tuy nhiên hạ sách này cũng có thể dùng được khi bộ Hải quân dám chứng minh sức mạnh của họ có khả năng mang lại chiến thắng . Khi ấy tôi sẽ hoàn toàn ủng hộ chiến tranh . Bằng ngược lại ra quân mà không nắm chắc phần thắng thì án binh bất động vẫn là thượng sách .


  Tojo bảo Sato ngầm báo với Sugiyama chớ nên đưa ra ý kiến hối thúc chiến tranh vào phiên họp sáng ngày mai . Nhưng ông Tham Mưu Trưởng này vẫn giữ vẻ cương quyết bảo “Nói với ông Bộ Trưởng Chiến Tranh rằng chỉ có một câu trả lời dứt khoát là “đánh” mà thôi !”.


  Phiên họp bắt đầu vào lúc 9 giờ sáng . Nhưng Tojo cho đòi Sugiyama đến gặp ông sớm hơn , với hy vọng cuộc gặp gở ngắn ngủi có tính cách cá nhân này sẽ dàn xếp được những gì ông sắp đặt . Đúng 7:30 sáng , Sugiyama và Tsukada cùng người ủy quyền của ông cùng bước vào văn phòng của Tojo .


  Tojo nhập đề ngay “Thiên Hoàng phản đối mạnh mẽ việc cắt đứt ngoại giao và mở rộng chiến tranh vùng Đông Dương” , đoạn ông quay ra nói như khuyên với Sugiyama “Nếu như ông nghĩ mình có thuyết phục để Ngài thay đổi ý định và ông cảm thấy tự tin thì hãy tự mình vào yết kiến Ngài một chuyến đi . Còn tôi , tôi chẳng có ý kiến”.


  Sugiyama trả lời rằng ông nghĩ hy vọng để được đàm phán với Hoa Kỳ đã không còn nữa , và một khi người Mỹ đã tỏ ra ngang bướng thì chúng ta chẳng còn hy vọng nào nữa . Nói chuyện thương thuyết với một kẻ hách dịch như thế chỉ có hoài công vô ích mà thôi . Hy vọng đã hết thì chỉ còn một đường lối duy nhất giải quyết là chiến tranh .


  Nói đến đó ông Tham Mưu Trưởng gắt gỏng nặng lời chỉ trích Tojo là một quân nhân và hành sự còn thua xa một người dân dã tầm thường . Tojo im lặng chẳng nói chẳng rằng , ông vừa là Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Bộ Chiến Tranh .


   Cuộc hội nghị được ghi dấu trọng đại của quốc gia , đây là lần thứ 66 kể từ ngày thành lập ngày 01 tháng 11 năm 1936 , phòng họp được thiết kế ngay trong nội điện , giữa không khí nghiêm trang và cổ kính . Giữa lúc vận mệnh đất nước nghiêng ngã , Thủ Tướng đang cố chống lại những ý kiến kỳ quặc của phe quân đội , đó là những ý kiến được đại đa số tán thành . Tojo mang ra phương sách vừa đề cập ngày hôm qua để mổ xẻ trong cuộc họp . Phương sách thứ nhất là đi theo con đường giải quyết bằng chiến tranh .


  Kaya , Bộ trưởng kinh tế lên tiếng hỏi “Nếu chúng ta cứ ngã theo chiều hướng hòa hoãn thì liệu trong vòng vài ba năm nữa Hoa Kỳ để chúng ta yên không ? Hải quân có bao nhiêu phần trăm hy vọng có thể chiến thắng họ được ?”


  Đô Đốc Nagano đáp cộc lốc “Chỉ có Trời mới biết !”.


  Kaye lại hỏi “Chắc chắn rằng Mỹ sẽ khai chiến với chúng ta hay không ?”


  Nagano trả lời kiểu huề vốn “Năm mươi , năm mươi”


  Kaye mắt vẫn không rời Nagano “Nếu chiến tranh xảy ra , liệu Hải quân mấy ông có nắm chắc phần thắng không ?”


  Nagano chậm rãi như muốn nhấn mạnh từng lời , từng câu “Một cuộc chiến sẽ xảy ra trong sớm muộn mà chúng ta không thể nào tránh được . Thay vì ngồi đây vẽ kế hoạch hòa hoãn chờ thời thì tại sao không thình lình ra tay tấn công trước . Tiên hạ thủ vi cường , có như vậy Nhật Bản mới chiếm được thế thượng phong chứ !”


  Kaye nhắc lại lời tuyên bố của Nagano trong một phiên họp hôm trước rằng : chiến thắng chả mang lại vẽ vang gì khi phải lún sâu vào cuộc chiến ít nhất là vài năm . Rồi ông nhìn thẳng vào Nagano nói “Rồi tiếp tục sau đó thì số phận của Nhật Bản sẽ ra sao ? Tôi quả quyết rằng Hoa Kỳ không thể nào ra tay tấn công chúng ta trước . Cơ hội ấy rất nhỏ , nhỏ đến đổi chúng ta không cần phải đề cập tới . Vậy tôi khuyên quí vị là ý kiến tấn công họ trước chẳng phải là một ý kiến hay !”


  Ngoại Trưởng Togo gật gù khen lời phát biểu của Kaye thật đúng ý ông . Nhưng Nagano lại bảo “Hảy nhớ người xưa có câu ‘đừng quá vội tin vào những việc chưa xảy ra’ . Tương lai những ngày kế tiếp chỉ là một dấu hỏi to tướng và việc gì cũng có thể xảy đến . Chỉ trong vòng 3 năm nữa thôi thì ảnh hưởng của Hoa Kỳ sẽ bao trùm cả Đông Nam Á” .


  Kaye chợt lên tiếng hỏi “Tốt ! Vậy bao giờ chúng ta nên tấn công và thắng họ đây ?”


  Nagano dứt khoát “Ngay lập tức . Bây giờ thật đúng lúc để phát động chiến tranh . Cơ hội ấy sẽ không bao giờ trở lại !”


  Sugiyama bấy giờ mới lên tiếng phụ họa “Thượng tuần tháng Chạp là thời điểm thuận lợi để ra quân . Nhưng trước mắt việc thương thuyết với Hoa Kỳ vẫn phải tiến hành để quân đội ta có đủ thời giờ lên kế hoạch và chuẩn bị chu đáo” .


  Togo lớn tiếng phản đối “Chúng ta quyết không thể làm như vậy được !”


  Tham Mưu phó Hải quân làm bộ không nghe , ông nói lớn “Thay mặt Hải Quân , chúng tôi hạn định cho mấy ông phải hoàn tất việc đàm phán trước ngày 20 tháng 11”.


  Phe Lục quân cũng nôn nóng vô cùng , và họ sẽ không bao giờ chịu bó gối ngồi chờ mãi vì thời hạn chót cuộc đàm phán dù thắng hay bại  do họ tự quyết định lấy là ngày 13 tháng 11 .


  Sự việc xảy ra tình trạng càng lúc càng xấu đi . Thế yếu nghiêng hẳn về phía chủ hòa . Đối với Kaye thì nhóm người này đầu óc hoàn toàn quá ngang bướng không bao giờ chịu nghe theo lẽ phải . Thường tự hào là một quốc gia hùng mạnh với 2.600 năm lịch sử mà lại không biết xấu hổ khi dùng đến hạ sách ngoại giao quỉ quyệt hầu giải quyết những khó khăn của đất nước . Togo cũng kịch liệt phản đối , ông nói với giọng đầy căm phẩn “Tôi không thể tiếp tục đi theo đường lối ngoại giao trừ khi có được một cơ hội để đạt đến thành công . Tôi cũng không chấp nhận được cái gọi là “hạn chót” của cuộc đàm phán mà mấy người đã tự vạch ra để khó dễ tôi , cũng như những suy tính và hành động có thể gây ảnh hưởng xấu cho việc đàm phán trong tương lai . Quí vị không thể nào gạt bỏ được cái ý nghĩ “chiến tranh” trong đầu của quí vị hay sao ?”


  Chỉ có Thủ Tướng Tojo vẫn ngồi yên giữ vẻ điềm tỉnh suốt trong buổi họp để mặc cho Togo và Kaye ra mặt chống đối phe quân đội . Bấy giờ phe quá khích lại quay sang tập trung vào Togo , thậm chí ngay trong giờ nghỉ giải lao họ cũng không tha . Họ tuyên bố thẳng thừng “Nếu Ngoại Trưởng Togo từ chối không ủng hộ chiến tranh thì họ sẽ thay thế chiếc ghế của ông tức thì” . Sau buổi nghỉ giải lao , Togo trở lại hội trường và vẫn giữ thái độ cứng rắn lớn tiếng mắng phe quân đội không tiếc lời . Cuối cùng , như đã mắng nhiếc đã nư , ông thở dài và xuống giọng “Thời hạn 13 tháng 11 quả thật là một yêu cầu thái quá ! Phe Hải quân lại nới rộng thêm thời hạn đến ngày 20 tháng 11 . Mọi người có thấy rằng sự đòi hỏi của mấy người quá vô lý không ?”


  Nhưng chẳng để ý đến lời nói của Togo , Tsukada dõng dạc như thách thức “Ngày 13 tháng 11 là thời điểm cuối cùng . Càng trễ nải càng gây rối loạn trong hàng ngũ quân đội” .


  Bộ Trưởng Hải quân Shigetaro Shimada vốn là một vị Đô Đốc có lối suy nghĩ không mấy linh động nên thắc mắc , ông nêu lên câu hỏi không hiểu vì sao cuộc đàm phán không thể tiếp tục cho đến cuối tháng 11 .


  Tướng Tsukada quát to “Tất cả im lặng !” Ông nhìn Shimada và nói “Lời đề nghị của ông không có căn cứ” . Đoạn ông quay sang Togo lớn tiếng hỏi “Thời hạn chót nào thích hợp nhất cho ông ?”.


  Một lần nữa cuộc họp vẫn chưa đi đến đâu mà không khí lại quá căng thẳng . Tojo cho nghỉ giải lao . Trong vòng 20 phút ngắn ngủi phe Lục quân hội ý và đi đến quyết định : việc thương thuyết được tiếp tục , nếu thấy cần thiết , cho đến cuối tháng 11 .


  Trở lại bàn hội nghị lần này , Thủ Tướng Tojo tỏ ra nhượng bộ hơn nên lên tiếng hỏi “Quí vị nghĩ sao nếu chúng ta quyết định chọn ngày 1 tháng 12 làm thời hạn chót cho việc đàm phán ? Ngoại giao là một vấn đề tế nhị , phải tham khảo bàn bạc từ những phần cơ bản đến từng chi tiết rất tốn kém thời gian , chứ có phải như quí vị vẽ chiến thuật hành quân xung trận đâu . Cho nên chúng ta chấp nhận cho việc đàm phán càng có được rộng rãi thời gian chừng nào thì cơ hội thành công càng nhiều chừng nấy”.


  Tsukada vẫn không tán thành , ông nói “Nhất định là không thể được ! Chúng tôi chỉ có thể đợi đến 30 tháng 11 là thời hạn chót , không thể bàn thêm nữa !” . Đô Đốc Shimada vội hỏi “Ngày 30 tháng 11 , lúc mấy giờ mới được ? Nửa đêm chăng ? Như vậy thì chúng ta chiều ý Thủ Tướng Tojo , quyết định hạn chót là ngày 01 tháng 12” . Tsukada đành chấp nhận , ông xuống giọng nhắc nhở “Thôi được . Nhưng chỉ đến nửa đêm thôi nhé !”


  Hạn chót cho việc thương thuyết đã được quyết định mặc dù bên cạnh đó còn lắm người miễn cưỡng gật đầu chưa dứt khoát . Giờ đến lượt cố thuyết phục làm sao cho Hoa Thịnh Đốn đồng ý ký kết một hiệp định chung , trọng trách này phải do Ngoại Trưởng Togo gánh lấy . Ông tuyên bố rằng ông đã chuẩn bị xong hai bản dự kiến để gửi sang Hoa Kỳ . Dự kiến A thì không khác gì một phiên bản nhằm xoa dịu đi phần nào những đòi hỏi lúc trước của Hoa Kỳ đã đưa ra . Một sự hứa hẹn quan trọng trong dự kiến này là rút hết toàn bộ lực lượng quân sự đang trú phòng tại Trung Hoa , bao gồm những đơn vị đang chiến đấu chống Cộng Sản . Dự kiến B chỉ để khi nào Hull không chấp nhận dự kiến A mới mang ra , và đây là phương sách cuối cùng . Nó được Togo tỉ mỉ thảo ra hầu giảm mối nghi ngờ của Hull về việc Nhật tiến quân vào Đông Nam Á , vì chính nó đã bảo đảm với ông rằng Nhật hoàn toàn bác bỏ  ý tưởng dùng quân sự xâm chiếm vùng Nam Á .


  Theo bản dự kiến B thì Nhật hứa hẹn sẽ không mang quân tiến xuống miền Nam , và một khi trật tự đã vãn hồi ở Trung Hoa cũng như toàn cõi Thái Bình Dương nền hòa bình được củng cố lại thì quân đội Nhật sẽ rút hết ra khỏi bán đảo Đông Dương . Để thực hiện được từng bước của kế hoạch lui quân từ những nơi xa xôi miền Nam Á , Nhật cần Hoa Kỳ chấp thuận bán cho họ một số lượng dầu lên đến 1 triệu tấn .


  Sugiyama phản đối bản dự kiến B , ông nói “Lợi thế việc đồn binh ở thuộc địa Đông Dương là giữ vững thế cờ Trung Hoa . Một địa thế chiến lược quan trọng nó sẽ giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong việc phòng chống mưu đồ ám muội của Mỹ trên vùng Thái Bình Dương , đồng thời chúng ta cũng thu được nguồn lợi nguyên liệu vô tận nơi này . Thỏa thuận được với Hoa Kỳ không có nghĩa là họ sẽ cung cấp cho chúng ta nguyên liệu ! Chúng tôi dứt khoát không chấp nhận bản dự kiến B” . Lại một lần nữa phải đối diện với những con người quá khích cứng đầu , bắt buộc Togo ra mặt bênh vực cho chủ ý của mình . Ông nhấn mạnh rằng chưa chắc gì bản dự kiến A có nhiều cơ hội được Hoa Thịnh Đốn chấp thuận ngay một khi thời gian điều đình thì quá hạn hẹp . Thực tế mà nghĩ , nếu muốn tìm được ánh sáng hòa bình thì phải tập trung lại một vấn đề Đông Dương . Đoạn ông lớn tiếng trách “Ông đặt tôi vào một hoàn cảnh hết sức khó khăn và bảo tôi phải hoàn thành những gì mà tôi không thể tùy tiện làm được !” .


  Một vài người , trong đó có Tổng Thư Ký Hoshino và Kaye công nhận rằng Togo đúng . Nhưng phía quân đội vẫn trơ ra như đá một mực giữ mãi lập trường đối lập của mình “Chúng ta không thể nào rút quân ra khỏi Đông Dương” Tsukada nhắc lại lập luận của Sugiyama “Rút ra khỏi vùng Nam Á , chúng ra sẽ bỏ lại không biết bao nhiêu nguồn tiếp liệu từ những tài nguyên dồi dào , rồi đó sẽ là một ân huệ lớn dành sẳn cho Hoa Kỳ khi họ đến . Chẳng những với nhiều thiệt hại đáng kể như trên , rút quân đi chỉ đơn thuần kềm chân cuộc khủng hoảng vài tháng hoặc 1 năm là cùng . Với lợi thế của thời tiết , Nhật có nhiều cơ hội thủ thắng bằng vũ lực . Cơ hội ấy chỉ đến rồi đi và sẽ không bao giờ trở lại . Vì thế bản dự kiến B không có giá trị gì cả” .


  Phe quân đội cứ tranh cãi hàng giờ và chẳng hề nhượng bộ bằng lòng rút quân ra khỏi vùng Đông Dương . Họ , phe quân đội chỉ đồng ý duy nhất một bản dự kiến mà họ cho là còn có chút giá trị , bản dự kiến A .


  Tuy hai phe Hải Lục quân liên hiệp nhau ra mặt chống đối cố tạo sức ép nhưng Togo vẫn không chùn bước , cố giữ quyết định bỏ ngỏ Đông Dương . Bấy giờ Thủ Tướng Tojo mới nhắc nhở cho mọi người nhớ rằng ông chỉ là người thừa hành ý nguyện của Thiên Hoàng . Các người là bậc tôi thần cũng nên dành cho Ngài một sự kính trọng nào đó cho đúng đạo nghĩa quân thần .


  Cuối cùng thì Sugiyama đành phải chấp nhận nhưng ông cẩn thận nhắc lại là chỉ mang bản dự kiến B ra khi nào bản dự kiến A bị họ chính thức từ chối . Sugiyama lại tỏ ra lo ngại phải làm thế nào để kềm chế những kẻ quá khích trong hàng ngũ quân đội không vùng lên làm loạn khi họ thấy rằng chính phủ của họ đã quyết định nhượng bộ Hoa Kỳ một cách nhục nhã như thế . Thủ Tướng Tojo lại trấn an  “Ông hãy an tâm , việc này tôi đủ sức đối phó” . Rồi họ tiếp tục ngồi lại bàn bạc cụ thể hơn những việc cần phải làm cho đến lúc nửa đêm mà vẫn còn nghỉ giải lao để vào bàn tiếp .


  Cả nhóm người đổ dồn ra ngoài vườn Thượng Uyển , lại một lần nữa nơi đây bị bao phủ bởi một màng không khí nặng trĩu của những cuộc tranh luận cãi vả .


  Đô Đốc Nagano vỗ nhẹ vào vai Togo khẻ hỏi “Ông Ngoại Trưởng có thể nhận lấy trọng trách này và giải quyết êm thắm cả chứ ? Về phía Hải Quân chúng tôi thì tin tưởng rằng ông có thể dàn xếp êm đẹp mọi rắc rối bằng sự tính toán của riêng ông”


  Togo thoáng giật mình . Chỉ mấy phút trước đây thôi hắn còn là một đối thủ lợi hại của ông mà bây giờ bất giờ lại lên tiếng cổ vũ , thật là một việc mà Togo không hề tin nổi ở tai mình . Ông hân hoan trở lại phòng họp với một hùng tâm kiên quyết .


  Cuộc họp tiếp tục . Nhưng khi ngồi vào bàn thảo luận tiếp vấn đề thì Nagano quay trở lại  ủng hộ chiến tranh ngay . Đấy là bộ mặt thật của phe Hải Quân , tỏ vẻ yêu chuộng hòa bình ở những nơi riêng tư kín đáo và nhiệt liệt ủng hộ chiến tranh lúc ở ngoài chỗ công cộng đông người , cốt ý của họ là để giữ lấy thể diện và không muốn mất chỗ đứng trong quân đội đối với phe Lục Quân . Nagano nói “Dĩ nhiên chúng ta có thể thất bại . Nhưng nếu như chúng ta không chiến đấu thì chúng ta phải chịu nhục để lạy lục van xin Hoa Kỳ . Nhưng nếu đồng lòng chiến đấu thì chúng ta cũng có cơ hội chiến thắng họ được . Không ra quân , không chịu chiến đấu nó cũng có nghĩa là chúng ta đã chấp nhận thua cuộc !”

  Lời tuyên bố của Nagano gây khó chịu không ít cho Tsukada , vì ông nhận thấy nó như một lời cảnh báo rất mơ hồ . Giả như Nagano quyết định đi đến chiến tranh thì tại sao ông ta không dám mạnh dạn đứng lên “ăn to nói lớn” như Tướng Sugiyama ? Nghĩ vậy nên Tsukada nói “Tất cả chúng ta đều tự hỏi rằng không lẽ chẳng còn con đường nào nữa để tái tạo hòa bình hay sao . Vả lại chẳng có được một ai dám thẳng thắn bảo rằng “Đừng có lo , tôi sẽ hoàn toàn đứng ra nhận lãnh hoàn toàn trách nhiệm ngay cả khi đất nước này bị chìm sâu vào một cuộc chiến dai dẳng” . Tuy nhiên , vì chúng ta không thể duy trì được thực trạng nên chỉ có một lối thoát độc nhất là phải chiến đấu . Tôi , Tsukada , tin tưởng rằng chúng ta không bao giờ thoát khỏi một cuộc chiến . Một cuộc chiến mà nếu không xảy ra hôm nay nó cũng sẽ xảy ra ở ngày mai . Quân đội Thiên Hoàng mở mặt trận phía Nam là Nhật đã gián tiếp giúp Đức và Ý đánh bại Nga Xô tạo sức ép bắt buộc Trung Hoa phải đầu hàng . Chiếm lấy miền Nam Á là Nhật đã giáng cho Hoa Kỳ một đòn nặng . “Chúng ta sẽ xây dựng một bức tường thép bao bọc và từ từ nghiền nát những kẻ nội thù bên trong châu Á . Kế đến là Anh và Mỹ cũng sẽ cùng chung số phận với bọn họ” .


  Biện luận này bị thượng cấp của Tsukada bác bỏ ngay lập tức . Sugiyama bảo rằng “Vì trường hợp miễn cưỡng đặc biệt” nên ông đành phải chấp nhận lời đề nghị của Tojo , rút toàn bộ lực lượng quân đội đang trấn đóng ở miền Nam Đông Dương .


   Lời tuyên bố đột ngột của Sugiyama đã gây nên một cú sốc lớn cho toàn thể đại biểu trong hội trường , ngoại trừ vài người bạn đồng sự phe nhà binh đã được ông tiết lộ cho biết trước . Sự nhượng bộ này là một mối đe dọa cần phải quan tâm vì ai cũng biết rằng nó có thể gây nên một làn sóng căm phẫn cực độ trong mọi tầng lớp binh sĩ .


  Và người ta cũng tin rằng với thiện chí của Sugiyama , rút quân ra khỏi Đông Dương là không còn sự đối kháng của phe dân sự chủ hòa nữa để họ hiệp lực cùng nhau bắt tay ngay vào công việc đàm phán hòa bình . Nhưng không ngờ Kaye , bộ trưởng Kinh Tế lại từ chối không muốn tiến hành ngay . Ông nói “Tôi không thể đồng ý với một quyết định quá vội vàng khi quyết định này có liên quan đến vận mệnh quốc gia như vậy” .


  Trên đường về nhà Kaye miên mang suy nghĩ . Những gì sẽ xảy ra nếu như mình cứ khư khư chống lại chiến tranh ? Việc này có ảnh hưởng đến Tojo , bắt buộc ông ta phải giải tán cả nội các và thành lập một tân nội các khác . Không nghi ngờ gì nữa , tân nội các này sẽ nghiêng hẳn về phe quân đội . Song , một khi chiến tranh bùng nổ thì kinh tế quốc gia dĩ nhiên sẽ bị ảnh hưởng rất nặng , vậy ai là ông Bộ trưởng có đầy đủ kinh nghiệm để tìm cách ngăn chận không cho cơn lạm phát xuống dốc ? Mặt khác , cuộc đàm phán với Hoa Thịnh Đốn vẫn còn có nhiều cơ hội tốt . Vậy ta có nên đeo đuổi kế hoạch trên không ? Kết luận của ông tuy có vẻ hợp lý nhưng hiểm họa chiến tranh với Hoa Kỳ vẫn là một đều khó có thể hình dung ra được cho nên ông không thấy không đủ can đảm để điện thoại cho Tojo biết những ưu tư đang canh cánh bên lòng .


  Đâu phải chỉ riêng Kaye lòng đầy trăn trở , trên đường về lại tư gia , ngồi một mình trước tay lái , Togo cũng thả dòng tư tưởng tận đâu đâu . Bản dự kiến B của ông tuy đã được chấp thuận . Một bước thắng lợi với phe chống đối nội bộ , nó chưa đủ cho ông tin chắc rằng có thể làm vừa lòng chính giới Hoa Thịnh Đốn . Nếu như còn nhiều nhượng bộ nữa thì sẽ gây tổn thương trầm trọng cho phía quân đội . Và lúc ấy thì mình sẽ xử sự như thế nào ? Từ chức chăng ?


  Sau khi chợp mắt được vài giờ , Togo gọi điện thoại đến gặp Koki Hirota , một người bạn vong niên để hỏi ý kiến . Vị cựu Thủ Tướng ngạc nhiên cho rằng Togo nên ở lại văn phòng làm việc . “Ráng tìm cho được cơ hội thành công trong việc đàm phán hòa bình” .


  Togo đến văn phòng Thủ Tướng Tojo để tìm một sự ủng hộ cho việc “tin tưởng hơn vào những quan ngại nếu phải đi xa hơn nữa trong việc nhượng bộ” trường hợp Ngoại Trưởng Hull bác bỏ cả 2 bản dự kiến A và B .


  Tojo tỏ ra sốt sắng trong yêu cầu này . Ông sẳn sàng làm bất cứ điều gì để đi đến thỏa hiệp . Tojo cũng không ngại gì khi nói thẳng cho Togo biết là hằng đêm ông vẫn cầu nguyện sao cho Nhật Mỹ có thể sớm đi đến một thỏa thuận chung . Và để trấn an vị tân ngoại trưởng , Tojo nói ông nghĩ có 50 phần trăm cơ hội bản dự kiến B được Hoa Kỳ chấp thuận .


  Trở lại tình trạng ngấm ngầm chống đối không ra mặt của ông Bộ Trưởng Kinh Tế Kaye , Tojo phải điện thoại thúc giục để hỏi quyết định riêng của ông . Biết không còn có thể ngồi lì mãi ở tại tư gia nên Kaye đành phải lái xe đến văn phòng của Thủ Tướng Tojo . Lúc gặp Thủ Tướng , Kaye chỉ đáp vỏn vẹn có một câu “vạn bất đắc dĩ tôi mới chịu chiều theo ý kiến của đại đa số !”


  Cuối cùng thì cũng tạm gọi là đạt được sự thống nhất chung của nội bộ . Bây giờ đến lúc Ngoại trưởng Togo một mình tự gồng gánh lấy trọng trách và phải cố nỗ lực chạy đua với thời gian quá hạn hẹp mà phe quân đội đã quy định . Togo thầm nhủ chỉ có một cơ hội để thành công ở Hoa Thịnh Đốn là phải gửi người phụ tá sang phụ giúp Đặc nhiệm Đại Sứ Nomura . Người ấy là ai ? Ông suy nghĩ hồi lâu và quyết định chọn Kurusu , một cựu nhân viên ngoại giao đã từng phạm nhiều lỗi lầm trong công tác . Dạo trước Saburo Kurusu được một vị Đô đốc tiến cử vào một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong lĩnh vực ngoại giao . Chính Kurusu đã thay mặt chính phủ Nhật Bản đặt bút ký vào Hiệp Ước Liên Minh . Nhưng cũng chính ông ta là người có mối quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ , Alice Jay , vị hôn thê của Kurusu là một công dân Mỹ , sinh ra và lớn lên ở Anh Quốc , cha mẹ nàng hiện cư ngụ tại Washington Square , thuộc  Newyork City .


  Lúc ban đầu Kurusu còn lưỡng lự không nhất quyết nhưng sau đó ông đồng ý nhận nhiệm vụ mới . Cái khó là bằng cách nào để Kurusu đến được Hoa Thịnh Đốn càng nhanh càng tốt nhưng phải tuyệt đối giữ bí mật . Nếu để cho những sĩ quan có khuynh hướng chủ chiến hoặc những kẻ cực đoan quá khích phát giác thì sẽ vô cùng bất lợi , có thể dẫn đến một cuộc ám sát cũng không chừng .


  Chuyến bay Pan-American theo đúng lịch trình sẽ rời phi cảng Hồng công 48 tiếng đồng hồ sau đó , trong khi Kurusu phải mất ba hoặc bốn ngày mới hoàn tất thủ tục xuất ngoại và do yêu cầu của phe Hải Quân , họ cần Kurusu nán lại dự buổi tiệc do ban tiếp tân của họ tổ chức gọi là khuyến khích tinh thần . Cũng nhờ Đại Sứ Grew khéo léo ngoại giao với Maxwell Hamilton , tổng giám đốc cơ quan thương mại vùng Viễn Đông , dời ngày khởi hành của chuyến bay Pan-Am trễ thêm hai ngày nữa .


  Buổi chiều ngày 04 tháng 11 Kurusu đến cáo biệt Tojo để lên đường . Tại đây Kurusu nghe Tojo dặn dò “Người Hoa Kỳ đa số đều khinh ghét chống đối chiến tranh . Tôi tin tưởng ở khả năng của ông , dù phải trả bất cứ giá nào cũng phải cố gắng để đạt lấy thỏa thuận với họ” .


  Đến khuya hôm ấy Kurusu mới trở về nhà . Ông nhẹ nhàng bước vào phòng ngủ và ngồi khẻ xuống bên cạnh người vợ đang ngon giấc nồng . Nghe tiếng động , vợ ông choàng dậy và ngạc nhiên hỏi “Anh định đi đâu thế ?” . Kurusu khẻ bảo “Anh sẽ đi Hoa Kỳ vào ngày mai” . Rồi ông thuật lại cho vợ nghe chi tiết của chuyến đi xa này . Nghe xong , Alice khuyên chồng nên để đứa con , một kỹ sư trẻ 22 tuổi đang phục phụ tại ngành hàng không quân đội , tháp tùng với ông trên con đường từ nhà ga Đông Kinh đến Yokosuka . Như vậy bà mới an lòng vì nơi đây “bất cứ đều gì cũng có thể xảy ra” , việc đón đường ám sát vẫn là một chuyện hết sức bình thường mà bà lúc nào cũng lo canh cánh bên lòng .


  Kurusu gật đầu đồng ý , trước khi từ giả , ông còn nói thêm “Tôi có thể sẽ không bao giờ quay lại !”


  Hôm sau , lúc 10:30 sáng , mười ba người đã hiện diện trong phòng họp , vẻ mặt ai nấy đều tỏ ra hết sức nghiêm trọng . Người thứ 14 xuất hiện , đó là Thiên Hoàng Hirohito . Mọi người cúi đầu hành lễ rồi phân theo ngôi thứ ai nấy đều an tọa . Tất cả như cùng có chung một mối băn khoăn khi Thủ Tướng tuyên bố xác nhận rằng Nghị định 6/9 đang được nghiên cứu lại “Như phải nói đến kết quả của Nghị Định này thì chúng ta phải quyết định dứt khoát đi đến chiến tranh . Với lần gia hạn này , từ bây giờ cho đến 01 tháng 12 , trong giời gian hạn hẹp và cấp bách cho phép chúng ta cần phải nỗ lực làm bất cứ việc gì để giải quyết mọi khó khăn bằng đường lối ngoại giao duy nhất”.


  Ngoại Trưởng Togo cân nhắc lại khả năng thành công của chính sách ngoại giao mình đã đề ra . Ở đó vẫn còn “một chút kẻ hở để dùng thủ đoạn” có cơ hội mang lại thành công là “tỏ ra vô cùng hối hận” .


  Tướng Suzuki lập lại vấn đề rắc rối hàng đầu của Nhật là tiềm năng quốc gia “Tóm lại , đó không phải là một việc dễ dàng cho chúng ta khi phải lún sâu vào một cuộc chiến chống lại Hoa Kỳ , Anh và Hòa Lan ; trong khi cuộc chiến ở Trung Hoa vẫn chưa ngã ngũ” Tuy nhiên một khi cuộc chiến bùng nổ , cơ hội làm chủ chiến trường trong những tháng đầu quá lớn , nó khiến cho ông tỏ ra lạc quan đến đổi lắm lúc muốn ngã theo đường lối giải quyết bằng chiến tranh . Như thế vẫn còn tốt hơn đơn thuần chỉ “ngồi chờ đến lúc kẻ thù đến để chúng ta hoàn toàn rơi vào thế bị động” .


  Đô Đốc Nagano thì kêu gọi hoạch định một chiến thuật bí mật .Ông nhắc nhở mọi người rằng vận mệnh của Nhật Bản hoàn toàn tùy thuộc vào một chiến thắng quyết định ở giai đoạn đầu trọng yếu khi cuộc chiến mới bùng nổ . Tướng Sugiyama khuyên rằng nên nghiên cứu tỉ mỉ tầm quan trọng của thời điểm quyết định “Khi bắt tay vào chiến dịch , nếu cuộc khai chiến bị chậm trễ , sự tương quan lực lượng giữa ta và địch là mối quan ngại to tác . Càng kéo dài thời gian càng gây bất lợi cho ta . Nhưng ở đây , tôi xin đặt tất cả niềm tin vào giai đoạn đầu , một giai đoạn hết sức vẻ vang cho Đại Nhật” . Ông cũng thận trọng nhắc lại rằng dù sao thì chúng ta cũng phải chấp nhận một cuộc chiến có thể nói là “sẽ kéo dài” . Và ông có cảm tưởng Nhật Bản có thể “xây dựng một pháo đài kiên cố bất khả xâm phạm” vô hiệu hóa những cuộc tiến công của kẻ thù .


  Với những lời tuyên bố chắc nịch đầy hào khí của những con người yêu nước dũng cảm ấy cũng không thể sưởi ấm lại bầu không khí ngột ngạt mang nặng một màu tuyệt vọng đang bao vây kín lấy căn phòng . Tướng Sugiyama đề nghị áp dụng đường lối “đẩy mạnh ngoại giao” . Ông bảo rằng Hoa Kỳ chỉ thích sử dụng những “lời lẽ hoa mỹ trong đường lối ngoại giao” . Khi nhắc lại bản dự thảo thời Konoye , Sugiyama nhấn mạnh “Hiệp Chủng Quốc chẳng thừa nhận bất cứ điểm nào , vì họ cho rằng mục đích của nó chỉ làm cho sự đòi hỏi thái quá của Nhật tăng mãi lên mà thôi” .


  Điểm bàn cãi quyết liệt nhất là vấn đề đồn trú binh lực tại lãnh thổ Trung Hoa . Ông nói “Chúng ta đã gửi đi hơn một triệu quân nhân , trong đó đã có gần hai trăm ngàn vừa là tử sĩ vừa là thương binh . Biết bao nhiêu gia đình tan nát , con xa mẹ , vợ xa chồng . Bốn năm trời gian khổ điêu linh tốn phí quốc gia lên đến hàng chục tỷ Yen . Nếu thình lình ta rút bỏ Trung Hoa , tức thì dân chúng họ sẽ nổi lên chống lại chúng ta” để cố giành lại cho được Mãn Châu và Triều Tiên” .


  Chủ Tịch Hội Đồng Cơ Mật Hara hỏi Togo rằng ông nghĩ Mỹ sẽ phản ứng như thế nào về hai bản dự kiến A và B . Togo trình bày rằng với khoảng thời gian quá hạn hẹp , bản dự kiến A sẽ không mang lại kết quả ngay được , tệ hơn nữa là bản dự kiến B tuy nhiều hy vọng thành công nhưng lại không có đủ thì giờ để mang ra sử dụng . Bởi vậy cho nên tôi nghĩ cơ hội mong muốn sẽ rất nhỏ . Với trách nhiệm là một Ngoại Trưởng , tôi xin gắng hết sức mình . Nhưng … thành thật xin lỗi …


  Trong đầu Hara vẽ ra một viễn ảnh tối đen đầy chết chóc , ông cảnh báo rằng rồi đây màu da cũng sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến cuộc chiến . Anh , Mỹ và Đức đều là chủng tộc da trắng “Tôi e rằng nếu Nhật tấn công Mỹ , Mỹ và Đức sẽ bắt tay liên minh với nhau và bỏ rơi Nhật . Chúng ta có thể sẽ phải đương đầu với những người mang đầy lòng căm thù do sắc tộc và màu da gây ra . Sự oán ghét Đức Quốc Xã của họ sẽ quay lại trút hết lên đầu người da vàng chúng ta để kết quả là đảo ngược cuộc chiến Anh-Đức thành một cuộc chiến người da trắng chống lại người da vàng " .


  Tojo cũng lên tiếng nhắc nhở - mối nguy hiểm cho một cuộc chiến dài lâu mà kẻ thù là Hoa Kỳ “Khi tôi nghĩ về việc Hoa Kỳ gia tăng kiểm soát vùng Tây Nam Thái Bình Dương , trong khi tình trạng Hoa Lục vẫn chưa được vãn hồi , cộng thêm muôn vàn khó khăn khác , nó đã cho tôi thấy rằng sự lo lắng của chúng ta sẽ không bao giờ chấm dứt . Mình tất cả có thể nói chuyện “nằm gai nếm mật”, nhưng thử hỏi bao nhiêu năm , bao nhiêu tháng nhân dân Phù Tang này có thể chịu đựng được chứ ?”


  Câu nói của Tojo có ngụ ý : mặc dù vài phút trước đây chính ông đã tỏ ra lạc quan đi tìm hòa bình , rồi sau đó lại đồng ý phải dùng biện pháp chiến tranh để giải quyết . Từ khi Anh và Mỹ bắt đầu đe dọa sự tồn tại của Nhật Bản thì chúng ta đã có chuyến tuyến hẳn hòi . “Tôi e rằng đất nước này lại phải tụt xuống ngang hàng với những quốc gia nghèo của thế giới thứ 3 nếu chúng mình cứ bó gối ngồi chờ mãi như thế này . Bằng một cách khác mà nói , nếu nền cai trị chỉ lấy công bằng và lẽ phải làm đầu thì tôi nghĩ những kẻ bị trị sẽ không bao giờ nổi lên chống lại . Người Mỹ áp dụng chính sách thiếu nhân nhượng như thế này thì rồi đây họ sẽ hiểu vì sao chúng ta tiến hành một cuộc chiến chống lại họ " .


  Chủ kiến của Thủ Tướng Tojo đã rõ như ban ngày . Mọi người nán lại bàn bạc cho đến một lúc lâu sau mới giải tán . Thiên Hoàng Hirohito từ đầu đến cuối vẫn giữ vẻ im lặng tuyệt nhiên không có một ý kiến gì .

  

  

  

  Có thể nói Grew là người hiểu rõ nỗi thất vọng chán chường của giới lãnh đạo Nhật Bản . Ông đã ghi vào quyển nhật ký những dòng như sau “Rõ ràng là Nhật đang chuẩn bị chiến tranh . Và những gì sẽ xảy ra nếu như cuộc đàm phán thất bại . Phương pháp cứu cánh cuối cùng đầy kịch tính này thật nguy hiểm khôn lường”  Nhận thấy tình hình càng lúc càng tồi tệ , Grew gửi ngay về cho Hull một bức điện tín với mục đích đề nghị nên hòa hoãn :


  “… Nếu mọi cố gắng đều thất bại , tôi tiên liệu Nhật Bản đang có khuynh hướng thay đổi đương quyền . Sự kiện này có thể dẫn đến hậụ quả nghiêm trọng như họ từng mô tả là dốc hết toàn lực thà chết vinh hơn sống nhục . Người Nhật chấp nhận chịu sự thiệt thòi vì phong tỏa kinh tế còn hơn phải khuất phục dưới sự khống chế của ngoại bang . Đây là một sự thật quá rõ ràng , là một người đã từng có một thời gian dài sống ở Nhật , hiểu biết rất tường tận đặc tính riêng của dân tộc đất nước họ , tôi không còn hoài nghi gì nữa , biến cố bất ngờ rồi sẽ đến . Không phải chỉ là có thể mà chắc chắn rằng sẽ xảy đến ….


  Grew cầu nguyện sao cho Hoa Thịnh Đốn có thể hiểu nhiều hơn . Nhưng thật sự thì Hoa Kỳ đã bỏ ngoài tai bức điện tín của ông . Stanley Hornbeck nhận xét rằng ông là một vị Đại Sứ kỳ cựu , ngay thẳng nhưng lại quá cả tin nên dễ bị lừa . Hơn nữa , ông vốn chịu ảnh hưởng nặng của Dooman , một người rất am hiểu Nhật Bản vì đã sống và làm việc với người Nhật trong một thời gian rất dài .


  Những bức điện trao đổi tin tối mật của Nhật bị cơ quan tình báo chận bắt và nhờ vào chiếc máy Magic tài tình , một dụng cụ mở khóa các loại mật mã tối tân của Nhật đã khiến cho Hornbeck nhận rõ trò lá mặt lá trái của họ . “Làm sao tôi có thể tin cậy được một quốc gia đang chơi trò hai mặt , vừa lo thương thuyết hòa bình vừa tất bật chuẩn bị chiến tranh ?” Hornbeck tin chắc rằng Nhật đang chơi trò tháu cáy và hình như họ cũng chẳng e ngại gì khi phải chống trả lại một cường quốc hùng mạnh như Hoa Kỳ , bởi thế nên ông khuyên Hull nên lờ đi lời cảnh cáo của Grew .


  Trớ trêu thay , ngay lúc ấy có hai vị sĩ quan cao cấp trong quân đội : Tướng Marshall , tham mưu trưởng lục quân và Đô Đốc Stark , chỉ huy trưởng hải quân Hoa kỳ , cả hai ông đang dốc tâm hiệp lực dâng thỉnh cầu lên Tổng Thống Roosevelt phải có hành động nếu không có thể dẫn đến tình trạng khủng hoảng trầm trọng . Mục tiêu đánh bại Đức Quốc , rốt cuộc lại trở thành mục tiêu chiến lược tối quan trọng . “Nếu Nhật bị thua và Đức vẫn chưa bị tiêu diệt hoàn toàn thì sự giải quyết vẫn chưa đi đến đâu” . Họ còn giải thích cho Tổng Thống Roosevelt thêm rằng chiến tranh với Nhật có thể làm tê liệt phe Đồng Minh tham chiến đang chiến đấu chống lại “kẻ thù nguy hiểm và hung hãn nhất” là Đức Quốc Xã . Họ muốn không có bất cứ  “tối hậu thư” nào cho Nhật ít nhất cũng 3 hoặc 4 tháng nữa , đến khi nào những chiến tuyến ở Phi Luật Tân cũng như Tân Gia Ba được củng cố vững mạnh hơn .


  Roosevelt bắt đầu tìm cách kéo dài thêm thời gian . Nhưng những báo cáo , tin tức gửi về khiến cho ông nghĩ rằng cuộc khủng hoảng này không thể nào tránh được . Bức điện tín được gửi từ Ngoại Trưởng Togo sang Đại Sứ Nomura đã bị cơ quan tình báo phát giác , sau khi giải mã và chuyển ngay đến Hull . Bản điện tín bao gồm Dự Kiến A và B , kèm theo một bản tài liệu bí mật , tất cả đã được phiên dịch sang tiếng Anh . Đoạn văn đầu tiên của bản tài liệu bí mật khiến cho người ta có nhận xét rằng Nhật đã chính thức từ bỏ cuộc thương thuyết :


  “Tình hữu nghị giữa Nhật và Hoa Kỳ đã đi vào tình trạng gay go . Đã đến lúc đồng bào ta không còn tin tưởng vào một cuộc hòa giải nào có thể dàn xếp được”


  Những lời lẽ đầy bi quan này dĩ nhiên chẳng phải là lời của Ngoại Trưởng Togo viết . Khi dịch một đoạn văn từ những điện tín mật thường thì nhân viên tình báo Hải Quân Hoa Kỳ đều cố ý dịch sai bản chính . (Cho đến bây giờ nhiều người Nhật cũng không thể biết được mục đích của họ để làm gì , bởi vì chẳng có một ai chịu đứng ra làm nhân chứng giải thích cụ thể . Một số khác lại cho rằng vì những nhân viên phiên dịch được đào tạo quá vội vàng và họ lại muốn dịch bản văn sao cho dễ đọc và tạo được nhiều chú ý) . Căn cứ theo bản chính thì đoạn văn trên đúng ra Togo đã viết như sau :


  “Hăng hái nỗ lực làm việc cả ngày lẫn đêm hầu giải quyết những mối bất đồng trong tình giao hảo đang rạn nứt của hai quốc gia Nhật Mỹ”


  Đoạn văn thứ 2 được phiên dịch sai lạc đến độ không ngờ :


  “Tình trạng rối ren trong cũng như ngoài vòng kiểm soát của chúng ta đã quá căng thẳng đến độ không thể nào còn chần chờ được . Tuy nhiên , chúng ta vì chữ tín , vì tình giao hảo tốt đẹp của Đế Quốc Đại Nhật và Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ , sau nhiều lần bàn cãi , chúng tôi đi đến quyết định chung là : đành một phen mạo hiểm đi đến bàn hòa đàm . Nhưng đây là cố gắng cuối cùng của chúng tôi ….”


  Theo bản chính thì Togo viết :


  “Tình trạng hết sức thúc bách trong cũng như ngoài nước và chúng tôi không thể nào trì hoãn được nữa . Vì mục đích duy trì tình hữu nghị với Hoa Kỳ , chính phủ Đế Quốc Nhật quyết định tiếp tục thương thảo sau khi đã cân nhắc thận trọng . Cuộc hòa đàm này là sự cố gắng cuối cùng của chúng tôi …”


  Vì những bản dịch quá sai lạc nên khi đến tay Hull , những gì Togo viết , ý nghĩa đã lệch lạc đi nhiều . Điều này dĩ nhiên Ngoại Trưởng Togo không thể nào biết được .


  Chiều ngày 07 tháng 11 , Nomura đến phòng làm việc của Hull với bản dự kiến A trong tay . Hull chỉ liếc nhanh một cái là đã biết ngay , ông dư hiểu nội dung của bản dự kiến ấy toàn là những sự nhượng bộ giả dối . Thái độ của Hull tỏ ra quá thân thiện đến độ Nomura không ngại ngùng khi ngõ lời muốn gặp ngay Roosevelt . Đối với Đại Sứ Nomura thì thời gian lúc này quả là quí báu còn hơn vàng bạc , vì vậy ông đường đột xin được gặp Tổng Thống cũng không phải là chuyện lạ . Trớ trêu thay , trong khi Nomura nóng nãy vội vàng ngồi đứng không yên vì bị ông Tham Mưu Trưởng lục quân thúc ép thì Hull vẫn lần lựa nhẩn nha vì Tham Mưu Trưởng lục quân Hoa Kỳ yêu cầu ông kéo dài thời gian để lo việc củng cố bố phòng chiến tuyến Thái Bình Dương . Thủ đoạn này cũng góp phần vào việc thất bại cho cuộc đàm phán .


  Cuối cùng rồi đến ba ngày sau Nomura mới được gọi Tòa Bạch Ốc để diện kiến Tổng Thống Roosevelt . Ông nêu ra “những nhượng bộ đáng cứu xét” của Nhật và ngõ ý muốn Tổng Thống bắt tay vào việc ngay vì e thời gian không còn chờ đợi được nữa . Roosevelt dĩ nhiên cũng như Hull , đã có sẳn chủ ý nên ông tà tà không hứa hẹn mà cũng chẳng chối từ . Ông nói “Phàm , trước quyết định một việc gì cũng phải cân nhắc kỷ càng . Nói chi , đây hẳn là một vấn đề tối quan trọng cần phải bàn bạc nghiên cứu tỉ mỉ . Đừng vội mà hư việc lớn . Tôi đề nghị ít nhất cũng cần đến 6 tháng hoặc hơn nữa để lo cho việc đàm phán này . Và nên nhớ , tôi không muốn đặt bút để ký vội ký vàng bất kỳ một hiệp ước tạm thời nào cả !” .


  Nomura hụt hẫng , những mơ tưởng vừa bùng lên chợt tắt ngấm trong ông và ông cảm thấy mình bất lực hơn bao giờ hết . Ông vội điện tín báo cáo về Đông Kinh rằng Hoa Kỳ “vẫn chưa chịu nhìn nhận” bản dự kiến A .


  Trở lại với Giám Mục James Walsh . Khi vừa trở về sau chuyến đi Viễn Đông , ông viết một giác thư dài gửi đến Hull ngày 15 tháng 11 với thiện ý hòa bình chung cho hai dân tộc Nhật-Mỹ .


  Khi đọc xong giác thư của Walsh , Hornbeck đánh dấu nhiều đoạn và ghi xuống những dòng mỉa mai biểu lộ thành kiến riêng của ông  để cho Hull đọc .


  Ở đoạn Giám Mục Walsh giải thích rằng bất cứ chính sách nào đã được Thiên Hoàng phê chuẩn đều được toàn thể con dân Nhật kính trọng “ấn tín đã đóng , Thiên Hoàng đã phê tất nhiên chính sách ấy không thể nào hủy bỏ được” . Hornbeck ghi xuống bên cạnh bằng bút chì “Nếu chính sách đã được Thiên Hoàng phê chuẩn là không thể hủy bỏ hoặc thay đổi thì dĩ nhiên sự liên minh với phe Trục cũng không thay đổi được” . Và ở đoạn “Cầu xin có sự thông hiểu giữa hai quốc gia” , ông lại ghi xuống “ngây thơ thật” .


  Theo nhận xét của Walsh “Rút quân về có lẽ là một việc đáng làm . Trung Hoa đã từng cộng tác rất tốt với Nhật nhưng từ khi sự kiện Mãn Châu , vì có sự xung đột nhau nên sự quan hệ của hai quốc gia đã bước sang một ngã rẻ khác” . Để phản đối nhận xét này , Hornbeck ghi xuống rằng “Ông ta cứ tưởng “sự kiện Mãn Châu” là do Trung Hoa gây ra không bằng” . Đến đoạn Walsh xác nhận “Chẳng có một nền hòa bình thật sự nào ở toàn bộ khu vực Viễn Đông cả” , Hornbeck lại ghi “Trong tình trạng đó ai là người đứng ra nhận trách nhiệm – Nhật hay Đức ?”


  Chờ cho đến khi Saburo Kurusu đến được Hoa Thịnh Đốn rồi Nomura vội dẫn ông vào gặp Hull ngay . Chỉ liếc nhìn sơ qua mẫu người nhỏ thó , đôi kính trắng mang vẻ trí thức và đôi ria mép được cắt tỉa gọn gàng , đấy là một nhân vật đã từng đặt bút ký hiệp ước liên minh với Đức và Ý dạo nào hay sao ? Câu hỏi ấy đã giúp cho Ngoại Trưởng Hoa Kỳ có đủ kết luận là ông đang đối diện với một con người không thể nào tin tưởng được . Hull ghi lại cảm nghĩ này vào nhật ký như sau “Bất kể diện mạo phong cách của hắn như thế nào đi nữa nhưng lần xuất hiện đầu tiên của hắn đã cho ta thấy hắn đúng là một con người dối trá lừa lọc …. Điều làm cho ta có được một chút cảm tình với người này là nói tiếng Anh lưu loát và kết hôn với một cô gái Mỹ”


  Hull tin rằng Kurusu là người đã quá rõ sự quỷ quyệt của chính phủ ông nên định dùng thủ đoạn “ru ngủ chúng ta bằng lối đàm phán hứa hẹn và kéo dài thời gian cho đến khi nào họ sẳn sàng bước sang giai đoạn vũ lực”.


  Hull tiễn chân hai người đến Tòa Bạch Ốc . Roosevelt đón chào bằng nụ cười cởi mở . Ông nói “Đã là bạn bè thì chẳng có lời nào là lời cuối cho nhau cả” . Kurusu trả lời rằng “Lẽ dĩ nhiên rồi , vì vậy chúng ta nên thẳng thắn bàn bạc vạch ra con đường hoàn thiện ngõ hầu tránh được can qua” . Roosevelt vui vẻ đồng ý .


  Bàn về vấn đề hiệp ước liên minh (hiệp ước tay ba) Kurusu bảo rằng “Tôi không biết tại sao phía Hoa Kỳ lại cho rằng chúng tôi theo đuổi và tôn trọng một chủ trương chống lại thế giới và bắt buộc chúng tôi phải từ bỏ nó” . Nhà cầm quyền Nhật đã cam đoan với Hoa Kỳ rằng hiệp ước ấy không thể tự nó đưa đến chiến tranh , đơn thuần chỉ dùng với mục đích bảo vệ mà thôi . Tuy nhiên , sự thông cảm nhau “sẽ tự làm sáng tỏ” hiệp ước ấy . Một khi Hoa Kỳ đã hiểu tường tận những vấn đề then chốt trong hiệp ước tay ba này thì sẽ không còn chống đối cho việc làm của chúng tôi nữa . Và nếu cần , chúng tôi cũng có thể hủy bỏ nó ngay cũng được” . Dù Kurusu đã nói như vậy nhưng Hull vẫn tỏ ra không tin tưởng chút nào . Ông nói “Đấy là những luận điệu mùi tai , một luận điệu bào chửa không hơn không kém” . Trong khi ấy Tổng Thống Roosevelt vẫn giữ thái độ hòa hoãn , ôn nhu của một nhà chính trị lão thành .

  

  

  

  

  Cũng trong ngày hôm ấy Thủ Tướng Tojo đọc bài diễn văn trước Quốc Hội . Bài diễn văn của ông được các hảng thông tấn cho phát trực tiếp trên toàn cõi quốc gia . Về vấn đề thương thuyết với Hoa Kỳ ông giải thích rằng sự thành công còn tùy thuộc vào ba điểm : Hoa Kỳ đừng nhúng tay vào sự giải quyết của Nhật ở lục địa Trung Hoa ; Hoa Kỳ phải ngưng ngay mọi hoạt động quân sự có khả năng đe dọa Đế Quốc Đại Nhật và từ bỏ lệnh cấm vận ; dùng mọi ảnh hưởng có thể của họ để ngăn chận chiến tranh Âu Châu không để nó lan ra đến vùng Đông Á .


  Bài diễn văn của ông được dân chúng Nhật hoan hô vang dội , nhưng ngược lại một bài diễn văn xuất sắc dễ bị thất bại vì không được mấy ai hưởng ứng . Tại Đại sứ quán Hoa Kỳ , một tùy viên Hải quân kề tai người bạn rỉ nhỏ “Cũng tốt thôi , dù sao thì ông ta (Tojo) cũng không tuyên chiến” .


  Phóng viên tờ Asahi-Shimbun đang ngồi gần đó thấy vậy liền ghi vội xuống một mảnh giấy :


   “… Bốn nhân viên Tòa Đại sứ Hoa Kỳ thình lình chụm đầu vào nhau thì thào bàn tán , thỉnh thoảng họ lại gật đầu tỏ vẻ đồng ý một điều gì . Mọi con mắt trong phòng đều đổ dồn về họ và hiển nhiên chẳng ai biết họ đang giở trò gì  …..”


  Nỗi kỳ vọng của cấp lãnh đạo Nhật Bản cứ theo từng ngày trôi qua mà tan dần vì Hoa Thịnh Đốn tuyệt nhiên không có một ý kiến rõ ràng nào đến bản dự kiến A . Quan điểm của Hoa Kỳ hình như trở nên khó khăn hơn và căn cứ trên những vấn đề trọng đại khác . Tất cả chỉ còn lại một cứu cánh cuối cùng , Ngoại Trưởng Togo vội điện tín cho Nomura , lệnh cho ông hãy đưa ra bản dự kiến B . Ngày 20 tháng 11 , Nomura trình bản dự kiến ấy cho Hull . Hull cầm nó trong tay như một tối hậu thư . Trong tập hồi ký , Hull mô tả lại tình trạng lúc bấy giờ “với những điểm hoàn toàn vô lý đến đổi không một chính khách Hoa Kỳ nào có thể nghĩ rằng nên chấp nhận nó” . Nhưng trước mắt Nomura , Hull đành phải đánh đòn trì hoãn “tránh không để Nhật viện cớ rút lui khỏi bàn đàm phán” nên bảo với Nomura “tôi sẽ nghiên cứu bản dự kiến này” .


  Và phản ứng của Hull quả thật không thích hợp và chẳng cần thiết chút nào . Chỉ một trong năm khoản của bản dự kiến B – khoản “sẽ không giúp đỡ viện trợ Trung Hoa” – Đây là một vấn đề hết sức vô lý vì nó đã làm cho ông cảm thấy quá bực tức đến đổi ông coi đây là một vấn đề sinh tử “Trong lối suy nghĩ của người Mỹ thì sự quan hệ gắn bó của Đức Quốc Xã và Đế Quốc Nhật Bản không ngoài mục đích hiệp lực để thống trị thế giới . Hiệp Ước Liên Minh vốn chẳng phải để củng cố thêm niềm tin và sức mạnh của giấc mộng bá chủ này hay sao ?” .


  Thế là thiện chí của Nhật một lần nữa đã bị Hull dìm . Ông bắt đầu tìm đủ mọi cách để chống đối những điều yêu cầu của Togo . Nomura và Kurusu đành phải bó tay ngồi nhìn nhau với muôn ngàn nghi vấn . Chỉ mới vài ngày trước đây thôi , khi gặp nhau Hull còn cho họ biết rằng không có gì rắc rối khi cả hai quốc gia đang có thiện ý xây dựng hòa bình , thậm chí nếu Nhật cứ bám giữ hiệp ước liên minh cũng chẳng phải là một vấn đề trọng đại . Nhưng sao bây giờ hiệp ước ấy lại trở thành đề tài quan trọng ? Thật ra thì sự quan hệ Nhật-Mỹ chẳng có gì tiến triển , vẫn như thời kỳ Matsuoka còn nắm quyền Ngoại trưởng .


  Giống như phản ứng của Hull đối với bản dự kiến B , một nhân vật khác tuy quá hiểu và cảm thông nhiều cho Nhật Bản , Joseph Ballantine e rằng nếu được chấp thuận thì “Hoa Kỳ tha thứ cho hành động xâm lược của Nhật và tán thành cho những cuộc xâm lăng khác về sau của họ ….. có khác gì Hoa Kỳ phản bội lại người dân Trung Hoa …. Và sau cùng là mối đe dọa trầm trọng đối với nền an ninh quốc gia của Mỹ” .


  Với Roosevelt thì trái ngược hẳn , hình như ông đã thấy sự nhượng bộ của Nhật và tỏ ra rất cảm động nên quyết định dùng chính sách “tạm ước” của riêng mình để đáp lại bản dự kiến B . Ông dùng bút chì ghi vội xuống mảnh giấy và cho chuyển ngay đến Hull


                                           Thời gian sáu tháng


1 …Hoa Kỳ cho phục hồi lại mối giao dịch  - dầu và gạo ngay bây giờ - những thứ khác tiếp tục sau .


2 … Nhật không được gửi thêm quân số đến Đông Dương hoặc biên giới Mãn Châu


3 … Nhật đồng ý không sử dụng Hiệp Ước Liên Minh để chống đối ngay khi Hoa Kỳ tham chiến ở Châu Âu .


4 … Hoa Kỳ sẽ đứng ra làm trung gian cho Nhật và Trung Hoa thương thuyết hòa bình nhưng Hoa Kỳ không tham dự vào bàn thương thuyết .


                                      ……………………………….


  Bản “tạm ước” này là một bằng chứng chứng tỏ rằng Roosevelt không giống như Hull , ông quả là một nhà chính trị rất thực tế biết uyển chuyển theo thời cuộc trong khi chính sách Hoa Kỳ vốn cứng nhắc không linh động chút nào . Mặc dù phật lòng không ít về bản tạm ước này nhưng vì trách nhiệm nên Hull phải thi hành . Khi nghĩ đến khuôn mặt của Kurusu , Hull càng thêm căm ghét . Ông vốn không có thiện cảm với va , nhìn vào bản tạm ước của Tổng Thống ông càng điên tiết và nghĩ rằng mình tức chắc đến chết mất .


  Tuy rằng không còn cơ hội nhưng Kurusu vẫn nán lại Hoa Thịnh Đốn . Sau khi gặp Hull và Hull đề cập đến vấn đề hệ trọng của bản hiệp ước liên minh , ngay ngày hôm sau Kurusu liền gửi đến Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ một lá thư điều trần , rằng hiệp ước ấy không bắt buộc Nhật Bản phải cộng tác hoặc liên minh với bất cứ một âm mưu xâm lăng nào do phe “quyền lực thứ ba” khởi xướng .


   … Chính phủ của chúng tôi sẽ không bao giờ đặt dân tộc Nhật Bản vào hoàn cảnh chiến tranh theo chỉ thị của bất cứ một quyền lực ngoại nhân nào . Và chỉ chấp nhận nó như một cứu cánh cuối cùng khi không còn sự chọn lựa nào khác , chấp nhận nó với mục đích duy trì an ninh trật tự xã hội , bảo vệ cương thổ và cùng nhau chống lại bất công .


  Tôi hy vọng rằng những trình bày trên sẽ giúp quí ngài phá tan mọi sự nghi ngờ đối với chúng tôi từ bấy lâu nay …..”


  Chẳng cần biết lời trần tình của Kurusu có bao nhiêu phần trăm sự thật và có giúp cho Hull nguôi ngoai cơn bực tức phần nào hay không , nhưng chắc chắn rằng sau khi cơ quan tình báo “magic” bắt được bức điện tín đánh đi từ Đông Kinh sang cho Nomura , với nội dung nhắc nhở hạn chót của thời hạn quy định cho cuộc đàm phán là 29 tháng 11 , đã được mã hóa và chuyển đến Hull , khiến cho sự nghi ngờ của ông càng tỏ rỏ . Bức điện tín có nội dung như sau :


  “ … Thời hạn đã quy định tuyệt đối không thay đổi . Những việc xảy ra sau đó sẽ xảy ra ...”


  Tối hôm ấy , tức thứ Bảy ngày 22 tháng 11 , Nomura cùng Kurusu đến văn phòng của Hull để trực tiếp xin ông một câu trả lời dứt khoát về kết quả của bản dự kiến B . Khi gặp nhau , họ vẫn tỏ ra thân thiện với nụ cười nhã nhặn trên môi và một vài lời thăm hỏi thủ tục . Đối với Hull , thật quá khó khăn khi phải đóng vai hòa nhã lịch sự trước mặt hai anh chàng Nhật Bản , vì sau khi đọc được bức điện tín bí mật của Đông Kinh , trong thâm tâm ông đã coi họ là một bọn người “đang chơi trò bất chính” mà thôi . Hai người ngồi đó với dáng điệu nhẫn nại hòa hoãn , trong lòng họ đang nghĩ gì thì Hull không tài nào biết được . Có lẽ họ đang ưu tư một vấn đề trọng đại , rằng giả như họ báo cáo sự thật bại này về thượng cấp ở Đông Kinh thì chỉ vài ngày nữa thôi chính phủ họ sẽ mở màng một trận chiến mới đối đầu với Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ , rồi sẽ có hàng ngàn hoặc hàng triệu người phải bỏ mình trên chiến địa .


  Hull nói với họ “Điều đáng tiếc là chính phủ Nhật không thể làm dù chỉ một vài việc có giá trị cho nền hòa bình để thoát ra khỏi tình hình nan giải của đôi bên”.


  Nomura cảm thấy không thoải mái chút nào , ông khẩn thiết lặp lại lời yêu cầu câu trả lời dứt khoát của Hoa Kỳ .


  Hull gắt “Thật là vô lý tại sao bất kỳ những đòi hỏi gì cũng đều nhắm vào chúng tôi cả . Tôi thật sự không mấy hài lòng vì tôi đã hết sức cố gắng nhưng các ông vẫn cố bắt buộc phải trả lời cho những yêu cầu của các ông ngay” . Hull không tìm ra lý do tại sao Đông Kinh không thể chờ thêm vài hôm nữa , nhưng dù sao thì ông cũng hứa với hai người là ông sẽ cho họ biết câu trả lời sớm . Có thể sớm lắm là ngày thứ Hai , sau khi ông tham khảo ý kiến của vài vị chính khách thân quen có nhiều quan tâm đến Viễn Đông .


  Câu trả lời đã có sẳn trong đầu của Hull , nó cũng là một phiên bản của Roosevelt , nghĩa là sao chép vội vàng lại bản “tạm ước” của ông


  Ngày thứ Hai 24 tháng 11 , Hull mời tất cả đại diện chính phủ Anh Quốc , Trung Hoa , Úc Đại Lợi và Hòa Lan đến văn phòng của ông và trao cho mỗi người một bản sao của bản “tạm ước” . Hồ Thích , Đại Sứ Trung Hoa lấy làm khó chịu . Tại sao năm ngàn quân nhân Nhật vẫn còn được công nhận cho chiếm đóng tại Đông Dương ? Hull trả lời ấy là do lời đề nghị của Tướng Marshall , thậm chí hai mươi lăm ngàn quân cũng không phải là một mối đe dọa cho chúng ta . Hull giải thích thêm “Bao giờ chính phủ của chúng tôi quyết định không công nhận dù chỉ một tên lính Nhật Bản ở Đông Dương thì lúc ấy chúng tôi sẽ có thái độ khác . Hiện tại thì chúng tôi cần kéo dài thời gian vì Bộ Quốc Phòng đang ráo riết thiết lập hệ thống phòng thủ dọc theo những điểm chiến lược quan trọng hầu chuẩn bị đối phó với Nhật . Nếu như việc thương thuyết bất thành có thể họ sẽ ra quân bất thần tấn công” .


  Alexander Loudon , đại diện chính phủ Hòa Lan thẳng thắn tuyên bố quốc gia của ông sẽ ủng bộ bản tạm ước trên , ba quốc gia còn lại đều nói phải đợi câu trả lời chính thức từ chính phủ của họ . Vừa nôn nóng vừa khó chịu khiến cho Hull cau mày bảo “Mỗi chính phủ của quí vị đều quá quan tâm đến sự phòng thủ lãnh thổ riêng của mình và tỏ ra thờ ơ cho sự an nguy của Hoa Kỳ , hoặc giả họ chỉ nhìn vào một góc độ nào đó chứ chẳng bao giờ hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề chúng ta đang bàn bạc . Tôi thật sự lấy làm thất vọng vì những xu hướng sai lạc , thiếu quan tâm , thiếu khuynh hướng cộng tác của quí vị !” .


  Hôm sau , Hồ Thích trao cho Hull lá thư của Ngoại Trưởng Trung Hoa . Thư cho biết Tưởng Giới Thạch “có phản ứng mạnh” với bản tạm ước và ông ta có linh cảm rằng Hoa Kỳ “có ý định nhân nhượng với kẻ thù xâm lăng của Trung Hoa” .


  Hull càng cáu tiết điên lên , ông bảo Hoa Kỳ dĩ nhiên cũng có thể hủy bỏ bản tạm ước . Nhưng nếu làm như thế thì Hoa Kỳ không tài nào có cớ để đặt chân gần đến vùng Đông Dương và lãnh hải của Nhật Bản , và như vậy Nhật Bản càng có cơ hội tốt để mở rộng cuộc Nam tiến .


  Sau khi Hồ Thích ra về thì trời đã nhá nhem tối . Hull cho gọi tất cả nhân viên đến để bàn bạc thêm . Cá nhân Hull , ông tỏ ra nôn nóng muốn gửi ngay bản tạm ước cho Nhật mặc dù cơ hội được các quốc gia liên minh chấp thuận rất mỏng manh . Nếu chẳng có một cản trở nào từ các quốc gia bạn thì giờ này bản tạm ước có thể đến tay Nomura rồi cũng nên .


  Tối hôm ấy , một bức điện tín gửi đến Roosevelt từ Chuchchill :


  “  … dĩ nhiên đó là một mối giao dịch mới mà Ngài là người có đủ thẫm quyền quyết định . Nên nhớ là chúng ta chẳng ai muốn chiến tranh cả .CònTưởng Giới Thạch , ông ta cũng chẳng có được một quốc hội cho ra hồn . Mối lo lắng nhất của chúng ta là Trung Hoa , nếu họ tan rã thì sự rạn nứt của chúng ta thật sự sẽ trở nên trầm trọng …”


  Rõ ràng là Tưởng Giới Thạch đã mang vấn đề phàn nàn với Anh Quốc và sự từ chối khéo léo (bản tạm ước) này đã làm cho Hull không còn kiên nhẫn được nữa . Nguồn tin tình báo Magic đã cho ông thấy rõ mọi toan tính của Nhật : bản dự kiến B là yêu cầu cuối cùng của chính phủ Nhật và ngày 30 tháng 11 là thời hạn chót , chấm dứt mọi sự thương thuyết . Tojo có còn hoạch định những nhượng bộ xa hơn nữa không thì Hull thật sự chẳng biết được , nhưng ông không tin rằng Tojo lại làm điều đó . Suốt từ giữa mùa hè năm ấy Hull đã “vững tin rằng Nhật sẽ tiếp tục đường lối xăm lăng bằng vũ lực” .


  Vì nguyên nhân đó mà Tưởng đã phản đối dữ dội và Churchill thì miễn cưởng tán thành . Sự bất mãn này cộng thêm những mối nghi ngờ có sẳn trong ông về thiện chí của Nhật và thời gian mấy tháng dài mệt lứ chạy lo cho việc đàm phán quá phiền hà , nó đã khiến cho Hull thêm chán ngán và coi bản tạm ước như một cái “của nợ gây rắc rối cuộc đời” , lắm lúc bực mình ông muốn mang nó “xếp xó” cho xong . Thay vào đó ông sẽ đề nghị với Nhật một kế hoạch mới “một chương trình hợp tác trong hòa bình và lợi ích lẫn nhau , đường lối phát triển chung cho hai quốc gia” . Người phụ tá của Hull chép ngay đề nghị này xuống . (Sau khi chiến tranh kết thúc , Tojo than với Kenryo Sato rằng nếu trước kia ông nhận được bản tạm ước của Roosevelt  thì diễn biến của lịch sử sẽ sang một dòng khác . “Tôi chưa cho ông biết , lúc ấy tôi đã dự trù sẳn một kế hoạch với những thỏa hiệp mới . Bởi vì lúc nào tôi cũng muốn đi đúng theo chủ trương ôn hòa , đó mới là mơ ước muôn đời của Đức Thiên Hoàng” . Đoạn Tojo thở dài thườn thượt “Nếu như chúng ta đã nhận được bản tạm ước ngay lúc đó thì hay biết mấy !”).


  Hôm sau , ngày 26 tháng 11 , Henry Morgenthau , Bộ Trưởng Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ đến Tòa Bạch Ốc ngay lúc Tổng Thống Roosevelt vừa ngồi vào bàn điểm tâm . Chuông điện thoại lại reo vang khi ông còn dỡ bữa . Người đầu dây bên kia là Ngoại Trưởng Hull , ông báo cho Tổng Thống rõ rằng Trung Hoa cực lực phản đối lại bản tạm ước của ông . Roosevelt đáp gọn trước khi gát điện thoại trở lại bàn ăn : “Tôi sẽ điều đình với họ” . Thay vì tiếp tục dùng điểm tâm , Roosevelt lại thừ người đăm chiêu , thỉnh thoảng lại nhíu mày suy nghĩ . Henry bụng bảo dạ “Ta đến thật chẳng đúng lúc vì Tổng Thống xưa nay không quen gặp ai khi đang dùng điểm tâm” .


  Sau khi điện thoại cho Tổng Thống , Hull lại liên lạc ngay với Stimson , bộ trưởng bộ quốc phòng , để cho ông ta biết ý định của mình là “đã quyết định không trao đề nghị tạm ước của Tổng Thống Roosevelt cho Nhật Bản . Đồng thời cũng cho họ biết là mình cũng chẳng có một đề xuất nào khác hơn”.


  Stimson chưa tin hẳn lời Hull nên điện thoại đến Roosevelt để xác định sự thật và hỏi Tổng Thống có nhận được bản tin của ông đã gửi từ đêm hôm qua , báo cáo Nhật thình lình cho chuyển quân từ Thượng Hải đến Đông Dương . Roosevelt nghe xong nỗi trận lôi đình quát tháo ầm ỉ . Rằng ông chưa nghe biết gì cả “Thế là cục diện lại hoàn toàn thay đổi . Đó là bằng chứng xác thực chứng minh ý đồ lừa gạt của Nhật khi cuộc thương thuyết đang tiến hành”


  Một lúc sau Hull lại đến . Ông đề nghị vì Trung Hoa chống đối không ủng hộ bản tạm ước nên bắt buộc phải dùng đến sách lược mới gọi là “thỏa thuận cho nền hòa bình chung” .


  Roosevelt chấp thuận đề nghị của Hull nhưng trong lòng vẫn còn hậm hực nhóm lãnh đạo cháu con Thái Dương Thần Nữ . Chiều cùng ngày , Nomura và Kurusu được mời đến Bộ Ngoại Giao . Hull trao cho họ hai tập hồ sơ . Đau khổ trong nỗi tuyệt vọng họ lại ước mong rằng trong giây phút cuối cùng này một chút lương tri con người sẽ thức tỉnh được những đầu óc hiếu chiến của Đông Kinh . Nomura và Kurusu nôn nóng dán mắt vào tập hồ sơ và bắt đầu đọc . Trang nhất phần mở đầu , trình bày rằng Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ “nghiêm túc” yêu cầu hoạch định chương trình hòa bình chung trên toàn cõi Thái Bình Dương nhưng nghĩ rằng bản dự kiến B “gần như không có chút đóng góp nào vào mục đích cơ bản là bảo đảm một nền hòa bình cho đúng nghĩa của nó ….” . Trang thứ nhì có đánh dấu “Bảo mật” , giải pháp của Hull mang ra để thay thế bản dự kiến B của Togo . Kurusu đọc chưa xong mười điểm đã thấy mất hết tinh thần . Theo mười điểm trong giải pháp của Hull đưa ra , bắt buộc Nhật Bản phải rút toàn bộ Hải Lục Không quân , thậm chí nghành an ninh cảnh sát cũng không được phép đồn trú tại các khu vực : trên toàn lãnh thổ Trung Hoa và vùng Đông Dương . Ngưng mọi viện trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho bất cứ chính quyền hoặc chế độ nào của Trung Hoa ngoại trừ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch . Và , thực tế trước mắt phải hủy bỏ hiệp ước liên minh ngay .


  Đề nghị này so ra thì quá khắc khe , nó đòi hỏi phải nhượng bộ nhiều hơn đề nghị mà Hull đã vẽ ra ngày 21 tháng 06 , khi chưa có sự tham khảo của Tướng Marshall và Đô Đốc Stark , người đứng ra đòi hỏi Hoa Thịnh Đốn kéo dài thời gian để tổ chức tuyến phòng thủ chạy dọc bờ biển Thái Bình Dương trên địa phận Phi Luật Tân . Đề nghị này quyết định giết chết hiệp ước liên minh mặc dù Kurusu đã đính chính hiệp ước này chẳng có một tầm quan trọng nào đáng kể . Mặt khác , nó đưa vào một đề xuất mới được gọi là “hiệp ước bất tương xâm” và những quốc gia liên minh gồm có : Anh , Mỹ , Trung Quốc , Nhật Bản , Liên Xô , Hòa Lan và Thái Lan . Kurusu dư biết hiệp ước này rất ư là rắc rối và rắc rối là nguyên nhân gây ra chậm trễ . Trong khi Nomura ngồi chết lặng thì Kurusu cố lấy bình tỉnh để hỏi Hull “Đây có phải là câu trả lời cho bản dự kiến B của chúng tôi ?” . Hull gật đầu đáp phải . Rồi ông vạch ra những lợi thế về kinh tế nếu Nhật đồng ý hợp tác : sẽ bãi bỏ lệnh đóng băng tài khoản Nhật Bản , hưởng mọi quyền lợi giao dịch dựa trên căn bản hỗ tương của các quốc gia trong khối liên minh , ổn định giá cả đồng Yen , v.v và v.v.


  Kurusu có linh tính rằng Đông Kinh sẽ đánh giá lời đề nghị này như một sự lăng nhục quá đáng và dĩ nhiên là họ lên tiếng phản đối . Chính phủ của ông đâu có quá vô lý để chấp nhận một cuộc triệt thoái quân đội vội vàng và vô điều kiện như họ mong muốn chứ . Và Hoa Kỳ chỉ có chờ mong như vậy thôi , khi họ thấy Nhật Bản “ngả mũ chào Thống Chế Tưởng Giới Thạch và tỏ ra ăn năn hối lỗi với toàn dân Trung Hoa” thì lúc ấy họ mới vừa lòng .


  Hull yêu cầu Kurusu và Nomura hãy nán lại cùng ngồi xuống thân mật thảo luận vấn đề vì tốt hơn hết là nên đi vào chi tiết trước khi gửi về Đông Kinh .


  Hull bảo “Đến một chừng mức nào đó mà chúng tôi có thể cố gắng vì nếu đi quá xa công chúng sẽ phản đối mạnh” . Kurusu cảm thấy có một cái gì đó thật buồn cười trong câu nói của Hull . Thì ra những thất bại liên tục này một phần lớn là do sự định đoạt của khối quần chúng .

  

Comments

Popular posts from this blog

PI IS NOT FREE MONEY

Đôi lời gởi tới các bạn Pioneers, Vốn dĩ mình đã ở ẩn từ lâu từ sau vụ PNG , Trang Trại Pi Nodes , CVG 314k vừa ngu vừa ngáo quá thắng thế thành công tẩy não cộng đồng Pioneers và khiến cộng đồng luôn mang tư duy Pi lên sàn phải có giá cao để bán ( xả ) Pi để lấy tiền tiêu nên kể từ đó đến giờ 2 năm mình chọn ở ẩn và chẳng quan tâm tới các cộng đồng ngáo đá nữa . Nay có một thằng em FB hỏi thăm về Pi và mang hy vọng Pi có trong danh sách Quỹ Dự Trữ Chiến Lược Kỹ Thuật Số ( Strategic Crypto Reserver - SCR ) của Tổng Thống Trump ngày 7 tháng 3 sắp tới nên mình có đôi đều phải nói rõ cho các bạn hiểu . Thứ nhất : Quỹ Dự Trữ Chiến Lược Kỹ Thuật Số là sáng kiến mang lại cho Dân Mỹ , giúp trả nợ công và đặt nước Mỹ là trên hết , nên các bạn đừng có mơ tưởng hay tư tưởng ăn bám vào tiền thuế của dân Mỹ như nhóm PNG , CVG . Nước Mỹ bây giờ không còn như ngày xưa luôn lo chuyện bao đồng rồi nhận lại là sự phản bội của các nước được nước Mỹ giúp . Nước Mỹ bây giờ là nước Mỹ của DÂN MỸ ! Pi Netw...

​Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế

Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế… Người ấy không hỏi nhiều, không kể lể, chẳng tranh phần đúng, cũng chưa từng đòi phần hơn. Nhưng lạ lắm – cứ mỗi lần nhà có chuyện, thì chính người ấy lại là người đầu tiên chao đảo. Khi ai đó gặp hạn, người ấy lại ốm. Khi cả nhà cùng lo âu, người ấy lại gánh thêm những điều chẳng ai thấy. Không phải vì người đó yếu. Mà bởi trời đất đôi khi có một cách sắp đặt kỳ lạ: Để một người chịu nhiều hơn một chút – Để những người còn lại, được bình yên hơn một chút. co là con út trong một gia đình năm người. Chị gái lấy chồng xa, anh trai có công việc ổn định, bố mẹ vẫn khỏe mạnh ở tuổi về chiều. Chỉ riêng Co – đi đâu cũng lận đận, làm gì cũng va vấp. Đã có lúc, cô ngồi một mình và hỏi: "Hay là mình là đứa gánh nghiệp cả nhà?" Và rồi cô để ý – rất rõ – Mỗi lần trong nhà có người gặp chuyện: mẹ ốm, bố té xe, hay chị gái buồn bực chuyện chồng con… Thì chỉ vài hôm sau, Linh lại là người "đón hạn": xe hư, mất việc, hay bỗng dưng té ...

Khủng hoảng kinh tế 2008 và các sói già phố Wall

  Có lẽ nhiều người đã biết khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 xảy ra do bong bóng thị trường cho vay mua nhà (mortgage) của Mỹ sụp đổ, khi hàng loạt người có điểm tín dụng xấu – không có khả năng chi trả nợ - được cho vay mua nhà (subprime mortgage). Thời điểm 2000-2007, việc 1 người có thể sở hữu 2-3 căn nhà là hoàn toàn bình thường nhờ vay tiền từ các tổ chức tín dụng. Đến 1 thời điểm, khi người mua nhà không còn khả năng phát chi trả nợ, bong bóng này chắc chắn sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, việc tín dụng xấu có thể tồn tại trong 1 thời gian dài và tạo nên ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới chắc chắn không chỉ phụ thuộc vào những người có tín dụng xấu. Từ 1 đống rác, mortgage tín dụng xấu đã được hô biến thành 1 món hàng cực kỳ uy tín và chất lượng, tóm gọn lại trong hai yếu tố: 1. Biến subprime mortgage thành 1 sản phẩm hoàn toàn mới 2. Dát vàng cho sản phẩm mới này 1 trò chơi hoàn hảo đã được bày ra bởi các sói già phố Wall. Thay đổi nhận diện Yếu tố thứ...