Skip to main content

28 TRẬN GUADALCANAL TIẾP THEO 2

 Ở Đông Kinh , tin chiến thắng vang dội ở Savo đã khiến cho người ta quên khuấy đi một vấn đề hết sức quan trọng khác là Hoa Kỳ đã làm chủ được hải đảo Guadalcanal . Nhưng dù sao đi nữa , đối với Hải quân thì đó là mối bận tâm day dứt của họ . Đến đổi họ phải miễng cưởng cố làm hòa với phe Lục quân để dùng những lời lẽ thân thiết mà yêu cầu Bộ tham mưu của họ mở một chiến dịch tái chiếm hòn đảo chiến lược này . Lục quân lại hỏi phải cần đến bao nhiêu binh sĩ để dùng vào chiến dịch đổ bộ tái chiếm , Hải quân nói chẳng cần nhiều lắm đâu . Hoa Kỳ đổ vào ấy một lực lượng chiếm đóng khoảng trên dưới hai ngàn thủy quân lục chiến , và lực lượng yếu ớt này dĩ nhiên trong vòng một năm nữa cũng không thể nào mở những trận tiến công lớn trong khu vực quần đảo Solomon được .


  Phía Lục quân nghe bùi tai quá nên chịu liền . Họ vội phát thảo kế hoạch và đệ trình lên Thủ tướng Tojo ngay . Vài hôm sau thì Bộ tham mưu lục quân gọi radio ra lệnh cho Tướng Hyakutake ở căn cứ Rabaul phải lập tức tấn công làm cỏ đảo Guadalcanal , với một lực lượng gồm 6 ngàn quân . Số sáu ngàn quân nhân này gồm 500 quân từ lực lượng đổ bộ đặc biệt của Hải quân , 3 ngàn năm trăm quân từ biệt đội độc lập của Kawaguchi và 2 ngàn quân từ biệt đội độc lập của Ichiki . Hai ngàn quân này dự trù sẽ là một trong những cánh quân tiến đánh Midway , nhưng từ khi chiến dịch Midway thất bại , họ tạm thời rút về đảo Guam để dưỡng quân .


  Vị Tướng râu kẽm Kiyotake Kawaguchi , người đã từng đứng ra bảo lãnh cho vị thẫm phán Santo (chắc quí vị vẫn còn nhớ vị tướng này nỗi giận khi Đại tá Tsuji lạm quyền ra lệnh xử tử Santo , người mà  Kawaguchi đã tiến cử vào làm việc cho chính phủ Phi thân Nhật khi vì bình định xong Phi Luật Tân) , hiện bản doanh của ông đang đóng ở Koro , một trong nhóm đảo phía Đông cách Mindanao khoảng 600 dặm . Khi nhận được lệnh thuyên chuyển đến Solomon , ông tiên đoán là Hoa Kỳ đã bắt đầu đưa quân tấn công . Kawaguchi gọi anh nhà báo Nishino và trỏ vào một bản đồ quần đảo Solomon , ông dí mũi viết vào một điểm nhỏ tí tẹo trên bản đồ rồi nói “Đây là đảo Guadalcanal , một chiến trường mới mà chúng tôi phải có mặt trong nay mai . Tôi biết các anh sẽ nghĩ rằng đây là một cuộc xung đột không đáng để tâm đến . Vâng , sự thật thì ở đó chẳng có gì để cho là một chiến trường to lớn khác thường nhưng tôi dám quả quyết rằng ở đó sẽ trở thành một mối quan ngại lớn cho chúng ta sau này” Tướng Kawaguchi đã bi quan tiên đoán một viễn ảnh không mấy sáng sủa ở một nơi mà ông cho là trọng tâm của mọi cuộc tranh tài trên chiến trường Thái bình dương . Tướng Kawaguchi nhìn anh nhà báo thật lâu rồi chậm rãi nói như nhắc nhở “Nếu anh không muốn tiếp tục đi theo chúng tôi thì anh có thể thay đổi ý định ngay lúc nào hẳn còn kịp . Vì vào đến nơi sinh tử ấy rồi , anh và tôi và những chiến sĩ khác sẽ có thể bị mất mạng bất cứ lúc nào” . Nishino nhất quyết tháp tùng với ông trong chuyến này nên gật đầu đồng ý xin theo , và hai người bắt tay nhau .


  Hai ngày sau , vào ngày 15 tháng 08 , Kawaguchi bảo các chi đội trưởng dưới quyền của mình tạm ứng trước ba tháng lương cho binh sĩ , họ sẽ lên tàu đi vào một nhiệm vụ quan trọng mà chắc chắn sẽ có nhiều người trong họ đền nợ nước . Ông buồn bả ra lệnh “Hãy cho những binh sĩ ấy gửi tất cả số tiền vừa nhận được về cho gia đình của mình . Và nên cho họ được tự do ăn nhậu , chơi xả giàng một đêm cuối ở đây đi” .


  Vừa tờ mờ sáng hôm sau thì tất cả ba ngàn năm trăm binh sĩ trong chi đội biệt lập của Tướng Kawaguchi , dù còn trong tình trạng bần thần say sỉn sau một đêm nhậu nhẹt xả láng , họ đều dồn xuống một hải vận hạm 10 ngàn tấn tên gọi Sado để xuôi Nam . Và anh phóng viên nhà báo Nishino cũng tháp tùng theo chuyến chuyển quân lần này . Sàn tàu Sado bị thiêu đốt bởi ánh nắng đổ lửa miền nhiệt đới trở nên nóng khủng khiếp khiến cho đôi dày đế mỏng của Nishino như bị chảy mềm ra . Anh chui vào hầm tàu và thu người vào một góc tránh nắng cùng đưa mắt theo dõi sự sinh hoạt ồn ào của những binh sĩ đang trên đường ra mặt trận , họ đang xắp xếp vật dụng cá nhân lên những chiếc giường ngủ trong hầm tàu . Những chiếc quạt máy quạt liên tục và mở hết tốc lực nhưng không khí vẫn nóng bức và ngột ngạt vô cùng . Nishino cảm thấy khó chịu , anh lần mò trở lại sàn tàu bên ngoài và ở đó cũng đầy ấp binh sĩ .


  Khi chiếc hải vận hạm còn thả neo ngoài khơi chờ đợi chuyến chuyển quân cuối cùng từ tàu nhỏ ra thì một con chó đen huyền từ đâu không biết xuất hiện và nhảy phóc lên chiếc tàu nhỏ , nó vễnh tai đưa mắt cùng khắp để tìm người chủ thân yêu của nó . Thiếu úy trẻ Ueno cảm động nhìn con vật đáng yêu mà mình đã mang nó tặng cho một người dân bổn xứ ngày hôm qua , không hiểu làm sao mà nó lại mò ra được bờ biển và tìm cho ra anh là chủ nhân của nó . Anh đưa tay vuốt ve con vật trung thành và dỗ dề nó “Xin lỗi mày , tất cả là vì tao không phải mà thôi” Con chó vẫy đuôi rối rít và thè lưỡi liếm chủ nhân của nó ra chiều như sung sướng vui mừng lắm vậy .


  Phải mất cả ba ngày đường để đến được Rabaul . Trong thời gian này binh sĩ thật nhàn rỗi , họ tập trung trên sàn tàu , có nhiều tốp quá vô tư , họ cao hứng đàn ca nhảy múa hoặc xúm quanh một anh lính hài nào đó làm trò vui . Một số đông những binh sĩ khác thì thích được yên lặng , họ nhàn tản quanh sàn tàu và cũng có người nằm ì ra suy tư nghĩ ngợi .


  Đoàn quân thiện chiến khí thế ngút trời , họ bất chấp cái nắng nung người của vùng nhiệt đới , họ xông trận với một tinh thần chiến đấu rất cao . Và cái tinh thần ấy càng được nâng cao hơn nữa sau những bửa ăn với vài chai bia nóng hổi , càng uống họ càng hăng máu chỉ muốn mau mau đến được mục tiêu để cùng quân đội Hoa Kỳ tranh tài cao thấp . Cấp chỉ huy của họ đã từng nhắc nhở “Quân đội Tây phương rất kêu căng ngạo mạn nhưng lại nhu nhược và nhát gan . Đa số bọn họ đều không thích giao chiến vào lúc trời mưa , sương mù và đêm tối . Theo quan điểm chung của họ thì lúc ban đêm không phải là thời gian tốt cho chiến trận , ban đêm chỉ là những thời khắc tuyệt vời cho hai kẻ yêu nhau , hoặc ăn nhậu nhảy đầm mới là thích hợp hơn hết . Hãy hồi tưởng lại những chiến thắng dễ dàng ở Phi luật tân , ở Tân gia ba thì các bạn đã thấy sự chiến đấu của họ tồi tệ như thế nào rồi” .


  Một đoàn sáu chiếc khu trục hạm mang theo đợt đổ bộ đầu tiên của biệt đội đặc biệt dưới quyền chỉ  huy của Đại tá Ichiki . Họ sẽ đổ bộ ngay bãi Taivu . một điểm nằm ngay bờ biển phía Bắc của đảo Guadalcanal , cách sân bay 25 dặm . Ngày 18 tháng 08 , Đại Tá Ichiki cùng 915 binh sĩ , toán đổ bộ đầu tiên đã đặt chân an toàn lên bãi biển Guadalcanal , và ở đây họ không gặp một sự kháng cự nào của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cả . Ichiki hân hoan gọi máy báo cáo về căn cứ  Rabaul rằng họ đã đổ bộ thành công . Ở đây ông ra lệnh ém quân để chờ thêm một nửa số quân còn lại trong chi đội của mình sẽ được vận chuyển đến trong tuần tới . Và lúc ấy sẽ tiến chiếm lại sân bay , nơi mà Nhật đã tốn biết bao nhiêu công sức để xây dựng và sắp hoàn thành thì bị lọt vào tay Hoa Kỳ .


  Tình hình trên đảo quá im lặng khiến cho Đại tá Ichiki càng tự tin và tỏ ra khinh địch . Ông ra lệnh cho 125 binh sĩ ở lại giữ bờ biển , số còn lại bắt đầu tiến sâu vào trong . Trong khi ấy thì chỉ huy của thủy quân lục chiến trên đảo cũng mơ hồ đoán biết là cánh quân đổ bộ đầu tiên của  Nhật đã đặt chân lên được trên đảo rồi , vì họ căn cứ theo những báo cáo của phi tuần là đã phát giác nhiều lằn sóng kéo dài trên mặt đại dương , có thể là do một hạm đội địch đã từng di chuyển qua ở phía Bắc của đảo .


  Tuy nhiên , sau khi phối hợp với một báo cáo khác gửi về là địch vừa đổ bộ lên bờ phía Tây của phi trường (đây là một đội quân gồm 500 người thuộc lực lượng đặc biệt đổ bộ của Hải quân , cánh quân này không tham dự vào trận đánh xảy ra sau này) , những báo cáo dồn dập gửi về khiến cho Tướng Vangderift nghĩ chắc chắn rằng quân Nhật sẽ mở một cuộc tấn công qui mô để tái chiếm lại hòn đảo . Ông liền tung ra những toán thám sát bung rộng tầm hoạt động hầu phát giác kịp thời các mũi tiến công của địch . Và ông cũng phái viên Thượng sĩ thổ dân tên Vouza (ông này hoạt động trong tổ trinh sát thuộc quân đội Úc đại lợi , với nhiệm vụ an ninh bờ biển) đi một vòng quanh bờ biển trên đảo từ Nam ra Bắc . Viên Thượng sĩ dẫn một nhóm trinh sát âm thầm len lỏi qua khu rừng rậm rồi tiến ra bờ biển . Họ nhanh nhẹn như những con vượn và thính tai như những con chó săn , họ vượt núi trèo đèo , băng ngàn xuyên suối không chút mệt nhọc . Ngày 20 tháng 08 , đội trinh sát của Thượng sĩ Vouza phát giác ra toán quân đầu tiên của Đại tá Ichiki . Trong lúc này thì cánh quân tiền sát của ông đã tiến vào chỉ còn cách sân bay khoảng 10 dặm mà thôi . Ichiki lạc quan gửi báo cáo về căn cứ Rabaul rằng không có sự xuất hiện của địch quân và cánh quân của ông đang tiến vào vùng đất không người .


  Thượng sĩ Vouza cố gắng tiến qua con suối để đến gần hơn hầu phát giác thêm nhiều tin tức của địch . Nhưng sự mạo hiểm của ông không qua mắt được những tay súng của cánh quân đổ bộ Nhật Bản đang nằm im trong những hóc đá bên con suối để canh chừng . Cuối cùng Thượng sĩ Vouza bị sa vào tay lính Nhật . Trong lúc hai bên đang giằng co thì một lá cờ Hoa kỳ thật nhỏ mà ông đã cố giấu kỹ trong khố bỗng rơi ra , thế là ông ta bị lính Nhật bắt trói gô lại và đánh đập dã man bằng báng súng , khuôn mặt của viên Thượng sĩ bây giờ đã sưng húp lên và răng bị gãy mất mấy chiếc . Ông cứng rắn nhất quyết không nói nửa lời , từ đầu tới cuối chỉ lắc đầu nguầy nguậy . Họ dí lưỡi lê vào ngực ông mà quát tháo ầm ỉ nhưng cũng chẳng khai thác được một tí ti gì . Một tên lính Nhật nỗi dóa đâm một nhát lưỡi lê vào cổ ông ta , máu tuôn ra lai láng .


  Nhưng không hiểu vì sao vết thương chí mạng ấy vẫn không kết liễu được Vouza , nhân lúc tối trời , khi Đại tá Ichiki và 790 người lính tiền sát của ông quay trở lại bờ biển thì Vouza chợp ngay cơ hội tốt dùng răng cắn đứt sợi dây trói và tự giải thoát sau đó . Ông cố gắng vận dụng tàn lực để cố bò về được tận phòng tuyến của thủy quân lục chiến . Trong những tiếng thở hào hễn đứt quãng của một người sắp chết , Vouza cố gắng báo cáo với thượng cấp rằng có thể là từ hai tới năm trăm quân Nhật đã áp sát vào tận phòng tuyến bên ngoài rồi . Câu nói cuối cùng trước khi ông trợn trừng đôi mắt từ giã cõi đời là “Dù bị hành hạ nhưng tôi quyết chẳng khai gì với họ cả” .


  Đại tá Ichiki cho rãi quân trong rừng dừa , bên bờ phía Đông của một con sông nhỏ nước chảy lờ đờ có tên là I-lu . Chính con sông này là một chướng ngại duy nhất cho cánh quân của ông tiến về phía sân bay , ở một nơi chỉ cách đó hơn một dặm . Và nó cũng là một phòng tuyến thiên nhiên ngăn đôi giữa quân Nhật và thủy quân lục chiến Hoa Kỳ . Ở nơi cửa sông I-lu , khi thủy triều xuống thấp Ichiki tìm thấy có một bãi cát nhô ra ngoài xa có cỏ mọc và nhiều vũng nước đọng lại thành như những cái ao nhỏ . Ông biết chỗ ấy rất cạn , đúng là một vị trí lý tưởng để bắt một cây cầu tạm bằng gỗ cho cánh quân mình vượt sang bên kia bờ . Ông ta lấy làm đắc ý tưởng rằng mình đã dành cho địch quân một sự kinh ngạc bất ngờ nhưng có hay đâu chính sự bất ngờ ấy lại trở lại với ông . Thủy quân lục chiến đã rõ âm mưu của họ qua lời báo cáo của Thượng sĩ Vouza , nên đã án binh bất động nằm chờ sẳn phía bên kia bờ sông từ lâu và Đại tá Ichiki thì chẳng hay biết gì cả , ông hân hoan xua con cái lao vào tử địa .


  Lúc 1 giờ 30 sáng , Ichiki ra lệnh xung phong . Súng cối bắt đầu nã đạn vào đất địch và hàng chục khẩu đại liên cùng đồng loạt nhả đạn như mưa vào khu rừng thưa phía bên kia bờ sông . Vài trăm binh sĩ Nhật phóng ra từ rừng dừa và băng ngang khúc cạn ngay cửa sông , súng trường đã gắn sẳn lưỡi lê sẳn sàng đánh cận chiến với địch và miệng hô to “Banzai” . Hàng trăm con người vừa xung phong vừa bắn bừa vào phía trước và vừa tung lựu đạn khắp nơi , tiếng nổ rền trời , cây cối ngã đổ đất đá tung bay tiếng rào rào không dứt .


  Nhưng đồng thời ngay trong lúc những bước chân của những người lính đầu tiên vừa sắp đặt lên bờ sông phía bên kia thì nhiều tràng đại liên giòn giã chào đón . Nhiều xác thân người bị đốn ngã , nhiều tiếng la thảm thiết gào lên không dứt . Quân Nhật kinh hoàng lập tức tháo lui , đội hình lộn xộn . Những binh sĩ ở phía sau còn sống sót bắt buộc phải quay trở lại rừng dừa .


 Tướng Vandegift đã ra tay , ông tung ra một tiểu đoàn dưới sự chỉ huy của Trung tá Leonard Cresswell quyết quét sạch quân Nhật trên đảo . Đến 2 giờ chiều thì cánh quân của Trung tá Cresswell đã băng qua sông và tiến vào rừng dừa . Cánh quân của Đại tá Ichiki bị thiệt hại nặng nề và tháo lui về hướng bờ biển .


  Tại nơi đây lại bắt đầu có những trận sáp lá cà dữ dội . Quân Nhật không bao giờ chịu đầu hàng , họ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng . Những binh sĩ bị thương nằm rên la thảm thiết , nhưng khi thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đến giúp họ băng bó vết thương thì bị đồng đội của họ bắn hạ hoặc chính người lính bị thương kia cho lựu đạn nổ khiến cả hai cùng chết . Phía Hoa Kỳ bất chợt cảm thấy quá khó khăn khi biết mình đang chạm trán với một đội quân kỳ quặc , họ coi cái chết như chẳng có gì . Để bảo tồn lực lượng , Vandegift quyết định thay đổi chiến thuật . Ông liền tung ra một trung đội thiết giáp để càn quét cho kỳ sạch những binh sĩ còn sống sót nhưng chiến đấu rất điên cuồng của Nhật .


  Năm chiếc xe tăng rầm rầm bánh xích nghiền nát đất đá và nghiền nát các tử thi vừa gục ngã của địch trên bờ cát nơi cửa sông I-lu để tiến vào khu rừng dừa , nơi quân Nhật đang cố tử thủ . Súng đại bác của năm xe tăng đồng khai hỏa bắn trực xạ vào khu rừng dừa , từng xác người bị bốc tung lên , cây lá gãy đổ khói bốc lên cuồn cuộn . Quân  Nhật bị tổn thất rất nhiều trong đợt càng quét bằng xe tăng này . Một nhóm nhỏ chạy theo sát Trung úy Sakakibara , họ rút lui về phía bờ biển và chạy lao ra những ghềnh đá , giấu mình sâu dưới nước chỉ còn cái lỗ mũi thì nhô lên để thở .


  Đến lúc trời nhá nhem tối thì Tướng Vandegrift quyết định thanh toán nốt chiến trường , ông ra lệnh cho 3 trong những đại đội ưu tú nhất của ông đi bọc hậu đánh từ phía sau . Cánh quân đổ bộ của Nhật bị rối loạn hàng ngũ , trong khoảng thời gian không lâu sau đó quân Nhật chỉ còn lại một nhúm có thể đếm được trên đầu ngón tay . Đại tá Ichiki đã bị thương , ông dẫn số tàn binh vào một hốc đá , họ hướng về phía quê hương hành lễ với Thiên Hoàng rồi cùng rút gươm tự sát .


  Trong lúc ấy thì thủy quân lục chiến Hoa Kỳ lo thu dọn chiến trường , một nấm mồ tập thể gồm khoảng 800 binh sĩ Nhật được chôn vội ngay trong rừng dừa . Phía Hoa Kỳ , 35 chết và 75 bị thương . Một tổn thất quá nhẹ , đó là một chiến thắng đầu tiên của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ vừa ghi lên bàn thắng trong chiến sử chiến tranh Thái Bình Dương . Một toán quân lẻ loi còn sống sót của Nhật là toán quân chạy ra bờ biển với Trung úy Sakakibara , họ tất cả là 125 binh sĩ vẫn còn âm thầm bám lấy bờ biển .


  Đây là lần đầu tiên cả hai phe Lục và Hải quân Nhật tại Đông Kinh đều nhìn nhận sự có mặt của quân đội Hoa kỳ ở đảo Guadalcanal là một việc nghiêm trọng . Phía Lục quân thì quyết lòng muốn tái chiếm cho bằng được hòn đảo chiến lược này , và họ được sự ủng hộ nhiệt tình của Đô đốc Yamamoto . Vị Đô đốc thao lược đầy mưu mô của Hải quân Nhật đã nhìn hòn đảo Guadalcanal với một cái nhìn khác với phe Lục quân , ông coi đó như một cái bẫy . Một cơ hội tốt để lùa tất cả hạm đội Hoa Kỳ vào để hạm đội liên hợp của ông bủa lưới tiêu diệt cho bằng sạch .


  Những toán quân còn lại của chi đội Ichiki cùng 500 thủy thủ được huấn luyện theo phương pháp chiến đấu của bộ binh đang có mặt trên bốn chiếc hải vận hạm tiến về phía đảo Guadalcanal . Khi đoàn hải vận hạm chuyển quân vừa lọt vào vùng biển Solomon thì được lệnh phải lập tức quay lại , đi theo hướng chỉ định đến một điểm hẹn khác , kết hợp với một lực lượng yễm trợ khác cũng đang trên đường tiến vào Solomon . Lực lượng này chính do Đô đốc Yamamoto mới thành lập vội vàng . Một đội tiềm thủy đỉnh gồm 6 chiếc dẫn đầu , theo sau là bộ chỉ huy mũi xung kích mà chỉ huy trưởng là phó Đô đốc Kondo gồm một đội hình của 6 chiếc tuần dương hạm và một mẫu hạm thủy phi cơ . Phía hậu đội là lực lượng tan vở Kido Butai vừa mới được tăng viện và chỉnh đốn lại nhưng cũng do Nagumo làm chỉ huy trưởng , với hai mẫu hạm Zuikaku và Shokaku , được hộ tống bởi hai thiết giáp hạm và ba tuần dương hạm . Tháp tùng với hạm đội hùng hậu nói trên còn có thêm một hạm đội dùng để làm nghi binh gồm mẫu hạm Ryujo , hai tuần dương hạm và hai khu trục hạm ; những chiến hạm nghi binh này Yamamoto sẽ dùng nó làm mồi để nhử các mẫu hạm của Hoa Kỳ lộ diện cho phi cơ tiêu diệt .


  Phía Hoa Kỳ cũng mới vừa phát giác ra một cánh quân đổ bộ đã xuất hiện ở vùng biển phía Bắc nhưng rồi họ lại chuyển hướng để nhập vào một lực lượng hùng hậu đáng ngại khác để cùng nhau tiến về đảo Guadalcanal . Đô đốc Ghormley vội gửi ngay Đô đốc Fletcher đến chiến trường với lực lượng đặc nhiệm số 61 . Lực lượng này gồm 3 hàng không mẫu hạm : Enterprise , Saratoga và Wasp ; bảy tuần dương hạm cùng 18 khu trục hạm . Vào lúc bình minh ngày 23 tháng 08 , lực lượng đặc nhiệm 61 của Fletcher chỉ còn cách đảo Guadalcanal 150 dặm về hướng Đông , một vị trí lý tưởng để chận đầu mũi tiến công của hạm đội Nhật Bản .


  Bảy tiếng đồng hồ sau , một phi cơ thám thính của Hoa Kỳ phát giác ra bốn hải vận hạm của Nhật và đoàn hộ tống gồm một tuần dương hạm nhẹ cùng 5 khu trục hạm . Đoàn hộ tống này nằm dưới quyền chỉ huy của một vị phó đô đốc bướng bỉnh ngang ngạnh là Raizo Tanaka . Chiếc phi cơ thám thính liền báo cáo về căn cứ là phát giác hạm đội đổ bộ của địch đang tiến về phía đảo Guadalcanal . Tanaka biết địch đã phát giác ra mình nhưng ông vẫn mặc kệ , cứ thẳng hướng Nam mà tiến . Đến 1 giờ chiều thì ông ra lệnh cho toàn bộ hạm đội đồng quay ngược trở lại trên thủy lộ cũ vừa mới đi qua . Năm tiếng đồng hồ sau , lực lượng hùng hậu của Kondo tiến tới và cũng làm y như vậy .


  Với một chủ ý đánh lừa địch quân , Nhật dùng mẹo và quả nhiên Fletcher trúng kế . Thấy hạm đội địch cứ chờn vờn tiến rồi thoái chung quanh mục tiêu đổ quân thì ông lại nghĩ trận chiến chắc sẽ diễn ra sớm lắm là một tuần lễ nữa . Vì nghĩ mình là đúng nên ông gửi nhóm hạm đội của mẫu hạm Wasp trở lại miền Nam để tiếp thêm nhiên liệu . Đây là một quyết định quá sai lầm khiến cho ông phải thiếu mất một phần ba lực lượng khi phải đối đầu với Hải quân Nhật trong ngày đầu tiên sắp diễn ra .


  Vừa tờ mờ sáng ngày 24 tháng 08 , đội nghi binh của Nhật xuất hiện ở vùng biển phía Nam để nhử lực lượng đặc nhiệm 61 của Hoa Kỳ . Trong khi ấy toàn bộ hạm đội của họ đều bung ra xa tầm hoạt động của phi cơ dọ thám để chờ con mồi béo bở lộ diện là hạm đội của Fletcher . Lúc 9 giờ 5 phút , phi cơ dọ thám của Hoa Kỳ phát giác một mẫu hạm nhỏ và 3 hộ tống hạm ở vị trí phía Tây Bắc cách lực lượng đặc nhiệm 61 khoảng 280 dặm . Fletcher còn do dự chưa quyết định dù rằng cách hai tiếng rưỡi đồng hồ sau , một báo cáo gửi về là họ chỉ còn cách khoảng 250 dặm . Nhưng vào lúc 1 giờ 30 chiều thì sự hoài nghi của ông đã tan biến nhanh khi mặt kính của dàn rada kêu lên bíp bíp báo hiệu có nhiều phi cơ đang tiến vào đảo Guadalcanal .


  Đó là một phi đội gồm 15 chiến đấu cơ và 6 oanh tạc cơ cất cánh từ mẫu hạm Ryujo tiến về phía sân bay trên đảo Guadalcanal . Lúc này thì sân bay với đoạn phi đạo đã hoàn tất và được đặt tên là Henderson Field , tên của vị Đại tá tử trận tại chiến trường Midway Lofton Henderson . Sân bay này dùng làm căn cứ cho 2 phi đội của thủy quân lục chiến gồm 19 chiến đấu cơ Wildcat và 12 oanh tạc cơ cùng 14 chiếc P-400 thuộc phi đội chiến đấu lục quân .


  Đô đốc Fletcher hành động chớp nhoáng , chỉ trong vòng 15 phút 30 khu trục cơ và 6 phi cơ phóng thủy lôi đã rời khỏi sàn mẫu hạm Saratoga . Hai tiếng đồng hồ sau thì phi đội khu trục cơ đã nhìn thấy mẫu hạm Ryujo và lao vào tấn công từ cao độ 14 ngàn bộ . Chỉ vài phút sau thì phi đội 6 chiếc phóng thủy lôi cũng trờ tới . Những trái thủy lôi được phóng ra trong khoảng cách 200 bộ . Có ít nhất cũng 4 quả bom và một trái thủy lôi phóng trúng đích . Chỉ thấy những ánh lửa đỏ phụt lên liên tục rồi chiếc mẫu hạm nhỏ bé nghiêng hẳn về một bên sàn tàu gần kề với mặt biển . Mẫu hạm Ryujo trước khi đi vào lòng đại dương cũng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó là dẫn dụ phía địch quân xuất đầu lộ diện . Chính nhờ nó mà lực lượng Kido Butai mới khám phá ra vị trí của hai mẫu hạm Saratoga và Enterprise . Và phía Nhật Bản bắt đầu phóng phi cơ tấn công ngay . Mặc dù có đến 51 chiến đấu cơ Wildcat bao quanh bầu trời bảo vệ cho hai mẫu hạm nhưng 25 phi cơ ném bom bổ nhào của phi đội Aichi cũng có thể xâm nhập đến gần . Lúc 5 giờ 14 phút , một quả bom đánh trúng vào sàn tàu chiếc Enteprise phá tung bộ phận điều khiển bánh lái và hai trái khác đánh bay đường băng trên sàn mẫu hạm . Sau ba quả bom đánh trúng , mẫu hạm Enterprise bị phát hỏa dữ dội nhưng thủy thủ đã kịp thời chận đứng được ngọn lửa nhưng nó bắt buộc phải rời khỏi chiến trường để trở về nằm ụ chờ sửa chửa ở căn cứ mẹ là Trân châu cảng .

  Bây giờ chỉ còn lại vỏn vẹn có mỗi một mẫu hạm nên Fletcher không còn hứng thú tranh tài khi đêm xuống với Hải quân Nhật , ông sáng suốt quyết định rút lui về Nam . Nagumo rượt theo mãi cho đến lúc 8:30 mới chịu bỏ cuộc . Trận hải chiến đông Solomon coi như chấm dứt và cũng giống như trận chiến ở biển San hô , kết quả cuộc chiến vẫn không ngã hẳn về phía bên nào . Một mẫu hạm nhỏ của Nhật bị đánh chìm và mẫu hạm của Hoa Kỳ bị loại khỏi vùng hoạt động ít nhất cũng phải mất đến hai tháng để sửa chửa . Một điểm quan trọng hơn , Hoa kỳ bị thiệt hại 17 phi cơ trong khi Nhật bản có tới 70 chiếc bị bắn rơi , dĩ nhiên Nhật không thể không đau khi bị thiệt mất một con số quá lớn những phi công kinh nghiệm chiến đấu . Đó là một sự mất mát khó có thể bù đấp vào được .


  Mặc dù sau trận đánh hạm đội yễm trợ đổ quân vẫn còn tản mác  xa ở vùng biển phía Bắc nhưng Tanaka vẫn cứ tiếp tục tiến sâu vào mục tiêu đổ quân . Ông tiến theo trục Bắc Nam của quần đảo Solomon . Nhưng dù có gấp rút đến đâu đoàn hải vận hạm vẫn không thể đến địa điểm đổ quân ngay trong đêm được . Biết đây là một việc quá mạo hiểm nên Tanaka đã phòng bị sẳn , ông ra lệnh 5 chiếc khu trục hạm của mình tiến nhanh về phía trước dùng hỏa lực pháo tiêu diệt phi cơ địch đang nằm tại sân bay Henderson thuộc đảo Guadalcanal . Suốt đêm ấy họ ra sức bắn phá sân bay thật dữ dội rồi mới chịu quay lại mặt Bắc hộ tống những hải vận hạm đang xuôi Nam tiến vào mục tiêu chính là đảo Guadalcanal . 


  Sáng hôm sau lúc 9:35 , một phi đội gồm 8 chiếc khu trục cơ dưới sự chỉ huy của Trung tá Mangrum cất cánh từ sân bay Henderson truy tìm mẫu hạm địch . Và vô tình họ phát giác ra đoàn hải vận hạm cùng hộ tống hạm đang trên đường tiến vào đảo Guadalcanal . Tức thì những phi cơ gan lì của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ lao thẳng xuống tấn công chiếc hải vận hạm Maru và tuần dương hạm nhẹ Jintsu , chiếc tuần dương hạm này là chiếc chỉ huy của Tanaka . Tuần dương hạm Jintsu sau khi bị hai quả bom đánh trúng nhưng máy vẫn hoạt động tốt , nó lập tức đổi hướng rời xa chiến trường trong khi chiếc hải vận hạm bị trúng bom bốc cháy ngùn ngụt . Chiếc khu trục hạm Mutsuki lao đến cứu vớt những binh sĩ còn sống sót trên hải vận hạm . Một sui sẻo không ngờ khác ập tới , 8 chiếc pháo đài bay B-17 cất cánh từ căn cứ Espiritu ở đảo Santo thình lình xuất hiện . Hạm trưởng khu trục hạm Mutsuki là Hatano vốn không ngại những trái bom thả từ trên cao độ của loại pháo đài bay này nên ông cho thủy thủ tiếp tục công tác cứu vớt . Phi đội B-17 bắt ngay dịp may hiếm có là khu trục hạm Mutsuki đang dừng lại , một mục tiêu cố định cho họ trút bom xuống . Ba trái bom đánh trúng xé toạt khu trục hạm Mutsuki . Hạm trưởng Hatano phóng nhanh xuống biển bơi bán mạng . Khi còn lặn hụp dưới làn nước biển , ông vừa thở hổn hển vừa tức tối văng tục chữi rủa vang rân “B-17 thường khi thì đánh bom dỡ ẹt , bửa nay mình sui tận mạng nên mới bị nó quánh trúng , thiệt đây hổng phải là cò ỉa miệng chai thì là gì” ..


  Chỉ huy Tanaka vẫn ngoan cường cứ tiến sâu về Nam , hướng về đảo  Guadalcanal . Ông cố gắng ít nhất cũng phải thả được một ngàn năm trăm quân lên đảo vào lúc bình minh  . Nhưng một mệnh lệnh từ căn cứ Rabaul gửi tới bắt buộc ông phải quay lại đảo Shortland , một hòn đảo nhỏ nằm phía Nam đảo Bougainville thuộc phía Bắc quần đảo  Salamon . Cũng chính nơi đây đã là điểm khởi đầu mà người Hoa Kỳ gọi đùa là “Trạm tốc hành Đông Kinh” , một căn cứ nhỏ mà quân Nhật dùng làm bàn đạp để thẳng tiến vào đảo Guadalcanal .


  Những tổn thất quá lớn vừa rồi khiến cho đầu óc của Tanaka không thể nào nguôi ngoai được , trong lòng ông lúc nào cũng gấp tâm phục hận cho bằng được . Sáng ngày 29 tháng 08 , ông gặp được Tướng Kawaguchi , người sẽ điều động một cánh quân sắp sửa đổ bộ lên đảo Guadalcanal . Tướng Kawaguchi cùng với đạo quân 3 ngàn năm trăm binh sĩ của ông cũng mới vừa tới đảo Shortland không lâu trước đó . Và hiện tại thì ông cũng nóng ruột muốn tìm ngay phương tiện để vận chuyển toàn bộ binh sĩ của mình đến đảo Guadalcanal càng sớm càng tốt . Tanaka chụp ngay cơ hội để mang quân rửa nhục nên hân hoan đề nghị cung cấp ngay cho Tướng Kawaguchi phương tiện vận chuyển . Nhưng ông lại cứ nhất định đòi phải vận chuyển số quân ấy bằng những khu trục hạm cho bằng được mới nghe . Tướng Kawaguchi lại nghĩ chính đây là lý do khiến cho đội quân hơn 900 binh sĩ của Đại tá Ichiki bị địch phát giác và đánh tan nên ông quyết định chống lại ý kiến của Tanaka . Ông viện lý do là số lượng vũ khí và lương thực quá lớn khu trục hạm không thể nào chở hết nên phải dùng đến sà lan hoặc hải vận hạm . Cuộc tranh cải cứ diễn ra hai ngày liền , cuối cùng Tướng Kawaguchi đành bỏ cuộc , chấp nhận ý kiến của Tanaka . Chiều đến ông cho triệu tập các chỉ huy trưởng đơn vị thuộc quyền đến và cho họ biết khu trục hạm sẽ mang họ đến đảo Guadalcanal . Đại tá trung đoàn trưởng Oka nhận thấy như thế sẽ rất nguy hiểm , ông nói “Tôi nghĩ cách tốt nhất mình nên dùng thuyền máy , cứ âm thầm di chuyển len lỏi theo những hòn đảo để tiến” . Và một lần nữa cuộc tranh luận lại diễn ra sôi nổi trong nội bộ chi đội biệt lập của Tướng Kawaguchi . Cuối cùng Kawaguchi đưa ra ý kiến “Tôi sẽ cùng lực lượng chính theo khu trục hạm đổ bộ vào mũi Taivu . Đại tá Oka và phần còn lại của bộ chỉ huy cùng với tiểu đoàn thứ nhất sẽ di chuyển bằng thuyền máy , điểm đổ quân sẽ là phía Tây Bắc của Guadalcanal” Vừa nói ông vừa dùng bút chì đánh hai dấu nhỏ trên tấm bản đồ , một là ở điểm mũi Taivu (nơi mà Đại tá Ichiki đổ quân tuần trước) , nơi đây ông sẽ cùng hai ngàn bốn trăm binh sĩ đổ bộ trước ; và một điểm cách sân bay phía Tây khoảng 10 dặm có tên là Kokum-bona , đó là điểm đổ bộ thứ hai của Đại tá Oka cùng với một ngàn một trăm binh sĩ còn lại . Từ hai điểm đổ quân này họ sẽ cùng tiến vào ngay phía sau sân bay , mục tiêu chính của cuộc tấn công .


  Tướng Kawaguchi nghiêm giọng nói “Anh em , niềm tin của chúng ta sẽ là sức mạnh . Một chiến sĩ chiến đấu dũng cảm thì không bao giờ mất hết tự tin . Trước khi đi vào trận chiến chúng ta phải vượt qua ba trăm dặm đường biển . Với ba trăm dặm đường này cơ may bị địch phát giác và tấn công rất cao , nhưng với ý chí quyết thắng sẽ giúp chúng ta vượt qua tất cả để tiến đến mục đích và chiến thắng cuối cùng” . Khi nhắc đến đội quân đầu tiên đã bị đánh bại của Đại tá Ichiki , họ cũng đổ bộ thành công bằng khu trục hạm tại mũi Taivu . Ông nói “Nhưng chúng ta đã là những binh sĩ dạn dày kinh nghiệm chiến đấu . Chiến trường khói lửa đã dạy cho chúng ta biết bao nhiêu bài học để tự sinh tồn . Chúng ta quyết quét sạch kẻ thù ra khỏi đảo Guadalcanal” . Cuộc họp giải tán , phóng viên nhà báo Nishino bước theo Tướng Kawaguchi ra phía bên ngoài sàn tàu . Phía dưới mặt đại dương trong xanh , những thủy thủ trẻ đang bì bõm bơi lội . Kawaguchi bảo với anh phóng viên nhà báo “Bọn họ cần phải tập luyện không ngừng” . Một anh Trung úy trẻ đứng dựa lan can tàu miệng đang phì phà điếu thuốc ra chiều ung dung nhàn hạ . Tướng Kawaguchi gọi ngay “Ê , Trung úy !” . Viên Trung úy nghe gọi quay lại thì trông thấy mặt ông tướng đang hầm hầm nhìn mình . Anh phát hoảng quăng ngay điếu thuốc và đứng ngay thẳng theo động tác nghiêm chào . Ông Tướng gằng giọng hỏi “Sao anh không vào họp với những người trong ấy ?” Viên Trung úy miệng lí nhí viện lý này lẻ nọ , ông Tướng phát cáu bước tới xô anh nhào tuốt xuống biển . Ông nhìn theo miệng còn càu nhàu “Đồ cái thứ biếng nhác , hổng phạt nó chẳng có biết chừa” . Đoạn ông quay lại nói với Nishino “Trong lúc chiến đấu , nếu anh bị quăng xuống biển , thậm chí cây búa cũng phải biết bơi” .


  Khuya ấy toàn chi đội biệt lập của họ lần lượt chuyển xuống các khu trục hạm và thuyền máy . Nhà báo Nishino theo Tướng Kawaguchi lên chiếc khu trục hạm Umikaze . Khi chỉ còn lại có hai người trong ca-bin , ông Tướng mới bật mí cho Nishino biết là quân đội Hoa kỳ đã thiết lập những hầm trú ẩn rất kiên cố và vũ khí đạn dược cũng như lương thực của họ rất dồi dào gần như là vô tận . Ông tâm sự “Khi chúng ta ngồi xuống mà dùng óc phán đoán mới thấy đây là việc hết sức nan giải . Một mặt trận quá lớn , quá khó khăn mà trọng trách gánh vác lại giao cho một đơn vị quá ít ỏi như của chúng ta . Tái chiếm lại sân bay . Hừm ! Anh có thấy sự thất bại của Đại tá Ichiki là một bài học cho chúng ta hay không ? Nhưng những kẻ tai to mặt bự ở Đông kinh thì lại quá coi thường . Họ bảo rằng hễ quân đội ta đổ bộ thành công lên đảo Guadalcanal thì lập tức thủy quân lục chiến trấn đóng ở đó sẽ buông súng đầu hàng ngay” .


  Lúc 8:25 hồi kèn báo hiệu giờ khởi hành sắp đến . Tám chiếc khu trục hạm tách bến , xếp thành hàng đôi hướng về phía Đông Nam lướt tới với vận tốc 26 hải lý một giờ . Bấy giờ là một ngày cuối cùng của tháng 08 , thời tiết quá xấu , gió và mưa lấn át cả tiếng rì rầm của động cơ . Người hạ sĩ quan hân hoan thông báo cho mọi người biết là cứ an tâm , sẽ không có phi cơ địch tuần tiểu và cơ may bị phi cơ tấn công sẽ không bao giờ xảy ra vì thời tiết quá xấu . Và anh cũng đoán đội khu trục hạm sẽ đến mục tiêu trước lúc nửa đêm .


  Tám chiếc khu trục hạm xả hết tốc lực , bất kể đêm đen mưa dập gió dồn , toàn thân của nó ngã nghiêng theo từng đợt sóng , khi nhô cao khi thì đổ ập xuống , khiến cho toàn thể binh sĩ trong tàu có cảm giác như ruột gan quặn thắt lại từng hồi . Cũng nhờ bọn họ là những binh sĩ từng vào sinh ra tử , quen sống kiếp mưa gió tang bồng , tung hoành lửa đạn nên coi đó như những trò đùa để giải trí mà thôi . Tội cho anh phóng viên nhà báo Nishino thì phải một phen bở vía ruột lộn tùng phèo mửa thốc mửa tháo .


  Cuối cùng thì mũi Taivu cũng hiện ra trước mắt . Xuồng ca-nô và thuyền nhỏ được lệnh hạ thủy , những binh sĩ đầu tiên im lặng bước xuống để vào bờ trong khi các khẩu đại bác trên các khu trục hạm giương cao nòng nhắm thẳng vào rừng cây đen ngòm dọc theo bãi biển sẳn sàng nhả đạn khi cần . Những gì mà anh phóng viên nhà báo nghe được vào lúc này là tiếng thì thào của binh sĩ và tiếng lách cách của súng đạn chạm nhau khi di chuyển . Anh đưa tay nhìn đồng hồ , bây giờ là 9 giờ một phút giờ Đông kinh , anh đã đặt chân lên bãi cát của đảo Guadalcanal .


  Vì tò mò nên Nishino từ từ tiến xa về phía bờ cây , bỗng anh chợt ngẫng người giật mình vì có một giọng ai đó cất lên từ phía trong bóng tối của một lùm cây “Các anh thuộc đơn vị nào đó ?” . Rồi một bóng người xuất hiện , nhìn rõ thì Nishino chợt nhận ra anh ta là một binh sĩ Nhật với bộ quân phục rách nát tả tơi . Rồi một số đông binh sĩ cũng cùng một bộ dạng rách nát xác xơ như anh lính vừa rồi cùng xuất hiện như những bóng ma . Thì ra họ chính là những binh sĩ còn sống sót thuộc chi đội của Đại tá Ichiki .


  Tướng Kawaguchi chào từ biệt vị chỉ huy khu trục hạm rồi hướng dẫn binh sĩ tiến về phía khu rừng trước mặt . Trong bóng tối dầy đặc khiến cho những bước chân của họ như đang bước vào cõi u minh . Người đi trước dò đường , kẻ đi sau nắm vào vai người đi trước mà mò theo , cứ như thế một đoàn dài thậm thượt tiến dần tiến dần sâu vào rừng rậm . Anh nhà báo còng lưng với cái ba lô quá tải đựng lỉnh khỉnh những đồ nghề , cũng phải ráng bước thấp bước cao cùng những binh sĩ len lỏi trong chốn thâm sơn cùng cốc với một màu duy nhất là đêm đen . Đêm đen của căng thẳng hồi hộp và chờ đợi . Đến lúc rựng sáng , khi gà rừng cất tiếng gáy vang là họ đã xâm nhập đến bìa một ngôi làng gần mé biển phía Tây , cách điểm đổ bộ chừng ba dặm . Ở đây họ ăn bửa ăn đầu tiên trên đảo Guadalcanal . Những gói cơm được gói sẳn do Hải quân chuẩn bị cho họ từ hôm qua . Mỗi khẩu phần ăn gồm có cơm trắng , cá khô và thịt bò . Những người lính bộ binh mặt mày sáng rở nhìn vào phần ăn khá tươm tất , họ thầm cảm ơn sự chu đáo của những người lính Hải quân bạn .


  Tuy nhiên bửa ăn sáng của họ cũng được không suông sẻ , bởi vì khi đang dỡ bửa thì có tiếng sủa như điên của con chó mực , con chó mà khi chuyển quân xuống tàu từ căn cứ ở Phi Luật Tân nó đã chạy theo và lội ra tìm chủ của nó là Ueno .


  Lại có tiếng báo động của viên Trung úy “Phi cơ địch” . Tất cả binh sĩ đều bỏ chén bỏ đủa nhào vào những chỗ kín để trốn . Tiếng phi cơ xé gió ầm ì từ xa vọng lại , rồi thoáng chốc có đến hàng tá phi cơ lướt qua . Họ bay thật thấp , thấp đến nổi rừng cây rung chuyển vì sức lướt của gió . Và họ bay thẳng đến hướng mũi Taivu .


  Rồi suốt buổi sáng hôm ấy từng đoàn khu trục cơ , chiến đấu cơ Wildcat và P-40 tiếp nối cất cánh từ sân bay Henderson bay quần dọc theo phía Bắc đảo Guadalcanal để quan sát . Tuy họ không phát giác được gì nhưng bắt đầu dội bom toàn mặt Bắc của đảo . Những trái bom cầu âu được phi công Hoa Kỳ thả xuống bất cứ nơi nào họ thích khiến cho nhóm binh sĩ Nhật phía dưới chẳng biết đâu mà tránh né . Đúng là trời kêu ai nấy dạ . Anh nhà báo Nishino nằm bẹp dí phía dưới một gốc cây bị ngã , lắng tai nghe tiếng xé gió của những quả bom rơi như tiếng người huýt sáo một bản nhạc không bao giờ chấm dứt . Những tiếng nổ kinh động núi rừng cứ liên tục khiến cho anh ù tai choáng váng . Bỗng một tiếng nổ kinh hồn gần đó , cành lá gãy đổ ngỗn ngang . Đây là lần đầu tiên anh tận mắt chứng kiến có gần 10 binh sĩ bị bom đánh trúng chết tại chỗ , xác của họ đầu mình mỗi thứ một nơi khiến cho anh trố mắt chết sững hồi lâu mới hoàn hồn lại được .


  Đêm ấy Nishino lủi vào một căn liều hoang trong cái làng gần đó để ngả lưng qua đêm . Đang lúc thiu thiu thả hồn vào mộng đẹp thì anh bị đánh thức bởi một giọng nói lớn gần như hét “Đội bảo vệ đâu hãy tập họp lại ngay !” . Nishino bàng hoàng ngồi bật dậy thì một giọng khác trỗi lên “Mấy cha nhà báo đâu , trình diện bộ chỉ huy ngay !” Tức thì anh phóng viên nhà báo cùng năm đồng nghiệp khác bật dậy vớ ngay đồ nghề mắt nhắm mắt mở chạy thụt mạng về phía bộ chỉ huy dã chiến của Tướng Kawaguchi ở phía sau đụn cát rất cao sát bờ biển . Tại đây anh thấy binh sĩ súng ống hườm hườm và ai nấy cùng đứng vào vị trí chiến đấu , mắt hướng ra bờ biển . Nishino cũng nhìn theo ra phía đại dương mênh mông . Quả thật có nhiều thuyền máy xuất hiện và họ đang tiến tới chỗ bờ biển nơi họ đang bày binh chờ đợi . Một mệnh lệnh ngắn gọn được vị chỉ huy nào đó nói như hét “Chuẩn bị khai hỏa !” . Tim Nishino như ngừng đập , anh hồi hộp chờ đợi những thuyền đổ bộ càng lúc càng tiến gần . Bỗng chốc anh nhà báo lại lo sợ vu vơ , mình chẳng có được một cái nón sắt che đầu , lỡ sui sẻo lãnh một viên đạn đi đời trước khi chưa quay được một đoạn phim nào thì uổng biết mấy .


  “Bắn !”


 Tiếng “Bắn” vừa dứt thì những viên đạn chì thoát khỏi nòng súng bay thẳng vào những thuyền máy vừa cập vào bờ cát , nơi có những cái bóng lố nhố đang chen chúc nhau nhảy lên bờ . Không có tiếng súng trả lời nhưng lại có tiếng la thét lên vì đau đớn “Trời ơi ! Cái vai của tui bị trúng đạn” . Và tiếng thét ấy lại là thổ âm của người Đông kinh . Từ toán quân trên bờ , một tiếng thét vang gần như át cả tiếng súng “Hãy ngừng bắn ngay !” .


  Thì ra đấy là phe ta . Họ là những binh sĩ còn lại từ chi đội độc lập dưới quyền chỉ huy của Đại tá Ichiki thuộc toán đổ bộ lần thứ hai , nhưng vì sự chuyển vận bị trục trặc nên họ mới đến trễ như vậy .


  Phe ta bắn với phe ta , hai chết và tám bị thương . Tai nạn này không ai trách ai cả vì chẳng phe nào được thông báo hay lệnh lạc gì cả . Thế là huề cả làng , nhưng khốn nỗi sau loạt súng vừa rồi vô tình đã báo cho  thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã biết rõ vị trí của họ nên lệnh báo động được ban ra toàn đảo , chỉ trong phút chốc cánh rừng phía Bắc sáng rực lên vì những đợt hỏa châu bắn lên liên tục không ngừng . Những quân nhân vừa mới tới nhập chung với cánh quân của Tướng Kawaguchi chém vè nằm lại khu rừng như cũ . Mặc dù bị địch quân phát giác nhưng Kawaguchi vẫn quyết định không chịu di chuyển đi nơi khác vì ông phải đợi cánh quân đổ bộ bằng thuyền máy của Đại tá Oka . Đến bây giờ ông mới tự hỏi tại sao lúc trước mình lại lệnh cho hắn di chuyển bằng thuyền máy , một loại thuyền chạy chậm chỉ nhanh hơn con rùa mà thôi . Ngày lại ngày nằm chờ , nằm mà đếm phi cơ Hoa Kỳ đến dội bom rồi bay đi , nằm lì một cách vô ích chỉ thấy binh sĩ càng lúc càng hao hụt vì những trái bom đánh cầu âu mà trúng đích . Thét rồi họ sợ quá nên không dám đốt lửa nấu cơm , để dằn cái bao tử xẹp lép họ phải nuốt đỡ trái cây và cả gạo sống .


  Lúc 3 giờ chiều ngày 04 tháng 09 , cuối cùng rồi thì cánh quân của Đại tá cũng tới được điểm đổ bộ dự định , họ dùng tín hiệu liên lạc với nhau . Tướng Kawaguchi ra lệnh cho Trung úy Nakayama dẫn ba binh sĩ xuyên rừng đi bọc vòng phía sau sân bay để bắt tay với đội quân bạn và hướng dẫn họ tới vị trí hẹn gặp của hai đội quân để cùng hiệp lực tấn công . Sở dĩ ông phải làm như vậy vì liên lạc với nhau bằng vô tuyến điện rất nguy hiểm , địch sẽ phát giác và mưu toan sẽ bại lộ ngay .


  Ông tuyên bố rằng trận đánh có thành công hay không thì phải tùy thuộc vào hai đội quân cùng tấn công đúng thời điểm . Ông lệnh cho Trung úy Nakayama nội trong hai ngày phải hoàn thành nhiệm vụ và họ gấp rút lên đường ngay . Chiều hôm ấy , ngày 06 tháng 09 , Kawaguchi chỉ để lại 300 binh sĩ canh phòng bờ biển và trông coi những đụng hàng tiếp liệu như thực phẩm và đạn được . Số còn lại cộng thêm 1000 quân của Đại tá Ichiki hợp nhau băng rừng để tiến tới mục tiêu là sân bay Henderson .


  Thình lình ngay lúc ấy bỗng có nhiều tàu chiến xuất hiện ở ngay bãi biển . Họ đến quá gần bờ đến nổi Tướng Kawaguchi còn nghe được tiếng động cơ rù rù và văng vẳng bên tai , hòa theo tiếng gió ông còn nghe tiếng viên chỉ huy trưởng ra lệnh cho thuộc cấp , khẩu lệnh của họ dù nghe thoang thoáng tiếng được tiếng mất nhưng rõ ràng đó là ngôn ngữ của tiếng Anh . Thôi không còn lầm được nữa , họ đích thị là kẻ thù rồi . Nhà báo Nishino khe khẻ nhìn qua khe núi , dưới ánh trăng trung tuần vằng vặt , đây là lần đầu tiên anh nhìn thấy hạm đội Hoa Kỳ . Họ tất cả là một tuần dương hạm , 5 khu trục hạm và năm hải vận hạm . Chiếc tuần dương hạm chạy dọc theo bờ biển tiến tới mũi Tây tức sân bay Henderson , theo sau là những hải vận hạm và đoàn khu trục hạm . Kawaguchi tiên đoán là họ vừa đổ quân để bất thần đánh úp ở ngôi làng mà ông và đoàn quân vừa rời khỏi . Và ông cũng hy vọng với 300 quân còn để lại họ có thể cầm chân địch . Tuy nhiên ông cũng chẳng chia bớt cánh quân của mình để quay lại giúp đỡ họ .


  Nhưng không có một lực lượng Hoa Kỳ nào đổ bộ cả . Đoàn công-voa ấy đến từ Noumea , họ tiếp tế lương thực đạn dược thêm cho Tướng Vandegrift . Cho đến đêm sau mới thật sự có nhiều thủy quân lục chiến đổ bộ lên Tasimboko . Tasimboko nằm gần mũi Taivu , nơi quân Nhật đã đổ bộ và nằm ngay phía trên ngôi làng . Tức thì lực lượng 300 quân ở lại của Tướng Kawaguchi bắt buộc phải dàn đội hình ra để phòng thủ . Cuộc chạm súng diễn ra không lâu , vì thế yếu nên họ túng quá phải bỏ lại kho lương thực mà rút sâu vào rừng trước khi hạ được hai thủy quân lục chiến . Tức thì quân Hoa kỳ tràn lên lục soát bộ chỉ huy dã chiến , họ tịch thu được toàn bộ giấy tờ của Tướng Kawaguchi và thậm chí cả bộ quân phục của ông .

  Đây xin nhắc lại Đại tá Oka , cánh quân của ông đã đặt chân lên một nơi chỉ cách sân bay Henderson 30 dặm sau khi bị gió bão quật nghiêng ngã tơi bời và phi cơ Hoa Kỳ bắn phá dữ dội . Trên chuyển hải hành đầy tang thương chết chóc chỉ kéo dài khoảng một tuần lễ mà cánh quân của ông phải bỏ lại vĩnh viễn 650 người . Với số quân còn sống sót là 450 binh sĩ nhưng tinh thần họ thảy đều bị khủng hoảng trầm trọng , đồ ăn thức uống không còn và súng đạn thì mất mát hao hụt quá nhiều . Khả năng chiến đấu của họ coi như không còn nữa .


  Trong khi ấy thì Tướng Kawaguchi cứ vẫn đinh ninh rằng lực lượng của Đại tá Oka còn nguyên vẹn , và ngày 08 tháng 09 theo lời đã hẹn trước thì Oka sẽ cho tề tựu sĩ quan chỉ huy gần mũi Koli (mũi Koli nằm ở đoạn chính giữa của mũi Taivu tức điểm đổ quân và sân bay để cho Kawaguchi phổ biến kế hoạch tấn công .


  Nishino đứng kế bên ông Tướng dưới trời mưa phùn lất phất , tay anh hí hoáy ghi ghi chép chép trên một quyển sổ nhỏ . Kawaguchi đưa mắt nhìn lên bầu trời đen đục , nhìn lại khu rừng ven bờ biển , một đoạn đường đầy chông gai trước mắt đang chờ ông . Theo như kế hoạch của ông đã phát thảo ra từ khi còn ở Shortland thì đoàn quân của ông là lực lượng chính , sẽ hành quân từ điểm đổ bộ dọc theo bờ biển xuyên qua mũi Koli , điểm hẹn gặp Đại tá Oka để phổ biến kế hoạch tấn công . Rồi từ đó họ sẽ tiến theo bờ biển đến khi gặp con sông tên gọi Tenaru (con sông này nằm song song với con sông I-lu nơi Đại tá Ichiki bị Hoa Kỳ phục kích lúc đang vượt sông) và từ đó họ theo bờ sông tiến lên phía thượng nguồn khoảng hai dặm . Họ sẽ đặt vài khẩu đại pháo ở đây . Cánh quân sẽ vượt qua hai con sông nhỏ Tenaru và I-lu để từ đó tiến sâu về phía Nam rồi mới bọc hậu phía sau sân bay . Trong khi Đại tá Oka với 1,100 binh sĩ tiến vào phía Tây của sân bay nằm chờ . Đến lúc vài phút trước 9 giờ tối ngày 13 tháng 09 , những khẩu đại pháo sẽ thả đạn vào sân bay để đánh lạc hướng địch quân , đồng thời phi cơ oanh tạc của Hải quân cũng từ biển bay vào oanh tạc . Đúng 9 giờ thì cả hai toán quân Nam và Tây sẽ đồng loạt nổ súng tấn công vào .


  “Chúng ta sẽ giành lại sân bay trong tay địch quân bằng lối đánh bất thần này”  Đứng giữa những sĩ quan thuộc cấp , ông Tướng tuyên bố với giọng đầy tự tin . Mưa vẫn rỉ rả không ngừng , hàm râu mép vuốt ngược lên như ngạnh trê của ông tướng bị ướt sũng nên nặng nề cong quặp xuống nên trông ông có vẻ xuôi xị . Rồi ông lại lấy giọng nói tiếp “Như các anh em đã biết đó . Hoa kỳ dồi dào nhân lực lẫn vật lực , có thể nói là họ mạnh hơn chúng ta . Trước nhất là không quân của họ mình không thể đánh giá chúng được . Binh sĩ của chúng ta bắt buộc phải vượt qua những địa hình phức tạp đầy khó khăn trước khi lâm trận . Chúng ta rõ ràng là đang đối diện với một mặt trận chưa từng trãi qua . Vì vậy , các anh em thân mến . Tôi và các anh em khó có thể hy vọng gặp lại nhau sau khi trận chiến kết thúc . Đây chính là lúc chúng ta ra sức cống hiến chút tài hèn sực mọn cho non sông gấm vóc , cho Thiên Hoàng kính yêu của chúng ta” .


  Mọi người đồng thanh hô to khẩu hiệu “Tất cả vì vinh dự của quốc gia , vì Thiên Hoàng kinh yêu mà chiến đấu không ngại hy sinh” . Một chai rượu được khuôi vội , Kawaguchi tự tay rót ra từng nấp và trao cho những vị sĩ quan thuộc cấp đang đứng bu quanh . Ông nói “Anh em hãy uống với tôi để chúc mừng chiến thắng” .

  

  TRẬN GUADALCANAL TIẾP THEO 3

  

  Khi xong hết một lượt , ông tướng rót thêm một nấp đầy rồi quay sang anh nhà báo Nishino và nói “Anh cũng phải uống với chúng tôi chớ” .


  Từ xa xa vang lại tiếng đại bác nổ rền . Nishino ngỡ rằng đấy là pháo địch vì âm thanh này anh đã nghe cả ngày lẫn đêm từ khi có phi cơ xuất hiện . Hết pháo rồi tới bom , thét rồi Nishino cũng chai cứng đi cứ mặc kệ nó đừng có nghĩ tới thêm lo chớ có ích lợi gì . Nhưng lần này thì anh nhà báo đã lầm , tiếng pháo ấy đến từ những oanh tạc cơ Nhật Bản , họ đang oanh tạc sân bay Henderson . Tướng Kawaguchi dõng dạc tuyên bố buổi họp bàn chấm dứt và chúc may mắn đến tất cả . Các chỉ huy trưởng rút lui về đơn vị mình . Chỉ còn lại Kawaguchi và anh nhà báo . Tướng Kawaguchi mở tấm bản đồ hành quân ra và chỉ cho Nishino biết những điểm trú đóng của địch quân . Đoạn ông nói “Không cần biết trong quân trường họ đã dạy những gì , nhưng với ý định tiến chiếm một căn cứ địch ngay trong đêm tối thật là thiên nan vạn nan” . Ông hạ giọng thật nhỏ rồi tiếp “Chỉ có những trường hợp đặc biệt đếm được trên đầu ngón tay thôi , nhưng đó là thời chiến tranh với tụi Liên sô kìa và những mục tiêu ấy nó nhỏ xíu không nhằm nhò gì nếu so với ở đây . Nếu tại dây , trên đảo Guadalcanal này chúng ta chiến thắng . Nó sẽ là một chiến công tuyệt vời lưu danh quân sử của cả thế giới” .


  Họ lặng lẻ chuyển hướng đi vào khu rừng thật rậm rạp , khu rừng này tưởng chừng như chưa từng có bước chân con người dẫm lên . Nơi đâu cũng chằn chịt dây leo khiến những binh sĩ tiền đạo phải dùng dao hoặc rựa để dọn đường mà tiến . Khi thì leo lên đèo cao , lúc lại mò mẫm lần xuống thác sâu , nơi nào cũng rậm rạp lồi lõm , một bước chân qua là một nỗi khó . Đã vậy mà trong bụng cứ phập phòng rũi quân địch nằm sẳn đâu đó thì chết cả lủ . Anh nhà báo cứ bám sát lấy Kawaguchi như bóng với hình , chiếc ba lô nặng nề và cồng kềnh khiến cho anh càng thêm vất vả , tuy nhiên anh không muốn quăng bỏ bất cứ một thứ nào cả trong khi các bạn bè đồng sự của anh họ đều quẳng hết từ lâu cho nhẹ gánh .  Vì phải uống nước từ những dòng sông hoang dã đầy chất độc hại nên hiện tượng sốt rét và kiết lỵ đã bắt đầu xuất hiện , và nó lan ra thật nhanh chóng , một nửa quân số Nhật bản hiện đang có mặt ở đây đều vướng phải một trong hai chứng bệnh chết người này . Trong khi ấy khẩu phần ăn của họ cũng trở nên cạn kiệt , để kéo dài sự sống họ phải hạ tiêu chuẩn ăn xuống đến mức tối đa nghĩa là chỉ ăn để cầm hơi mà thôi  . Trong khi số gạo mang theo thì nhiều nhưng không thể nhóm lửa nấu cơm được bởi cái nạn phi cơ thấy khói thì oanh tạc ngay . Ngày 10 tháng 09 , họ đến được bờ sông Tenaru và bắt đầu trở hướng lên thượng nguồn . Đội pháo binh tách ra tiến về phía vị trí đặc pháo và số còn lại đi thẳng về hướng sân bay .


  Nhắc lại nhóm 4 người : Trung úy Nakayama và ba binh sĩ , Hạ sĩ Abe , Hạ sĩ nhất Inenaga và Binh nhất Morita , họ theo lệnh của Tướng Kawaguchi băng rừng để bắt liên lạc với Đại tá Oka . Lệnh ông Tướng giao cho nội trong ba ngày phải hoàn thành nhưng họ đi vòng quanh mãi trong rừng già trọn đúng một tuần lễ , bụng đói meo vì lương thực mang theo đã cạn và sức lực cũng chẳng còn . Áo quần rách bươm và da thịt cũng bị gay đâm cây quàu xơ xát . Thêm vào đó họ còn phải trải qua một cuộc ác chiến với một thổ dân trên đảo . Đang lúc bụng đói tay chân rã rời chợt một gã thổ dân hung tợn từ đâu xuất hiện với con chó hung dữ vô cùng , đồng xông vào tấn cộng bọn bốn người . Lúc này họ chỉ có trong tay những cây dao găm tự vệ nhưng sức lực không còn nên sau vài phút chiến đấu liền hè nhau tìm đường tẩu thoát . Họ nhảy xuống một cái suối và nương theo dòng nước trượt thẳng xuống một thung lủng khá sâu . Nhờ thế mà bọn bốn người này thoát khỏi gã thổ dân và con chó hung tợn kia . Việc đến nước này dù không ai bảo ai họ cũng biết sứ mạng được giao phó khó có thể hoàn thành , dù quá mệt mõi và chán nản đến cùng cực nhưng quân lệnh vẫn phải thi hành , họ dìu nhau bước thấp bước cao tiến lên phía triền đồi để tiếp tục công việc là phải tìm cho ra chi đội của Đại tá Oka để thông tin .


  Đúng vào ngày cánh quân của Tướng Kawaguchi chia ra hai mặt , đội pháo binh tách ra tìm vị trí đặt pháo nơi thượng nguồn con sông Tenaru và đội còn lại tiến về phía sân bay thì toán 4 người rách nát này đang tiến về phía rừng thưa , họ nghe văng vẳng có tiếng động cơ rầm rầm . Đó là sân bay Henderson . Họ mừng rỡ liền nhắm theo hướng Tây mà lần mò , nghĩ rằng quân của Oka có lẽ đang chém vè đâu đó trong cánh rừng này . Nhưng rồi chẳng bắt gặp một dấu vết gì , đến tối thì sức chịu đựng của họ gần như đã kiệt quệ . Trung úy Nakayama ngồi dựa lưng vào một thân cây dừa cao ngất ngưỡng , anh mò vào cái ba lô xẹp lép lôi ra hộp cá mòi cuối cùng rồi 4 người xúm lại chia nhau mỗi người một tí liếm láp qua hoa dằn bụng trước khi nhắm mắt dưỡng thần qua đêm . Sáng hôm sau họ tiếp tục lên đường nhưng không bao lâu thì trước mắt họ , một con sông có màu xanh biếc chắn ngang . (Đây là khúc lượng quanh của con sông Lungga , một con sông song song với sông I-lu và Tenaru , phía thượng nguồn của nó chảy xuyên qua phía Tây của sân bay Henderson) Bốn binh sĩ Nhật liền tiến theo bờ sông ra hướng biển , đến chiều xuống thì họ đến một quả đồi nhỏ xơ xác tiêu điều . Nakayama bò lên quan sát , từ phía bên kia có ánh lửa bập bùng , nhiều quân nhân thủy quân lục chiến đang ngồi xổm bu quanh đống lửa . Nơi đây là nơi đồn trú của toán thủy quân lục chiến nơi vòng đai phía Tây sân bay . Họ đang nhóm lửa nướng thịt rừng , mùi thịt mỡ thơm phức bốc lên khiến cho 4 anh lính Nhật ốm đói càng thấy dạ cồn cào thèm khát .


  Họ tháo lui và đánh một cái vòng khá xa để vượt ra phía sau nơi những thủy quân lục chiến đang nướng thịt rừng ăn nhậu kia rồi mới nương theo bờ sông mà đi . Đến một khu rừng cây cối bị đạn bom cày nát , hầm hố chiến đấu dấu vết còn quá mới , rãi rác dưới chân họ là những vỏ đạn đủ loại .Trung úy Nakayama vừa đưa mắt quan sát chung quanh vừa thầm nghĩ “Có lẽ ở nơi này không lâu đã có diễn ra một trận đánh thảm khốc”. Đến môt chỗ cạn , anh cùng 3 đồng đội băng qua sông và tiến về một cánh đồng trống do bom đạn phá nát cây rừng . Mặt trời treo ở đỉnh đầu , những tia nắng nóng nhiệt đới càng hạnh hạ thêm cho 4 tấm thân đã quá tàn tạ .


  Bất chợt có tiếng “soạt” vang lên tức thì 8 con mắt đổ dồn về phía bụi rậm , một người lính Nhật ở trần trùng trục , trên người chỉ vận độc nhất một chiếc quần đùi . Anh ta đang chĩa họng súng đen ngòm nhìn đăm đăm vào nhóm Trung úy Nakayama . Sau một phút sững sờ , Nakayama lên tiếng hỏi thì biết anh ta thuộc đội quân của Đại tá Oka , người mà Nakayama đang khổ nhọc tìm kiếm hơn tuần lễ nay . Anh lính mừng rỡ cho biết toán của anh đang đóng quân ở gần sân bay , và từ ngày đổ bộ lên đảo đến giờ họ chẳng còn lương thực , họ còn kéo dài sự sống tới ngày nay là nhờ những trái dâu dại mọc hoang đầy trong rừng . Tình trạng quá tồi tệ đến nổi mỗi ngày phải có ít nhất một binh sĩ bỏ mạng vì đói , họ đói triền miên , đói thê thảm .


  Nhờ anh lính này dẫn đường nên chỉ non một ngày thì bọn họ đến được nơi Oka đóng quân . Bấy giờ đã là 13 tháng 09 , đúng thời điểm tấn công như kế hoạch của Tướng Kawaguchi đã vẽ ra . Gặp được Đại tá Oka , Nakayama gượng hết tàn lực để trình bày mọi kế hoạch của Tướng Kawaguchi đã xếp đặt cho Đại tá Oka nghe rồi anh té sụm xuống ngất đi ngay bên chân ông . Vị Đại tá quá cảm động thầm phục lòng kiên trì của Nakayama , nhưng giữa tình huống này ông còn phải biết làm gì hơn là cúi người xuống đưa tay vuốt mặt viên Trung úy trẻ lần cuối .


  Ông nhìn đồng hồ , chỉ còn 6 tiếng đồng hồ nữa thì lệnh tấn công bắt đầu . Đây là lần đầu tiên sau khi đổ bộ lên đảo Oka mới sử dụng radio liên lạc trực tiếp với Tướng Kawaguchi , để báo cho ông biết rằng mình đang hướng dẫn con cái tiến về phía Đông .


 Cánh quân của Tướng Kawaguchi đã tới được điểm xuất phát từ đêm qua . Đó là một ngọn đồi nằm ở hướng Nam cách sân bay khoảng ba dặm . Một khu rừng rậm nằm chắn ngang che chở , lợi dụng lợi điểm này họ mang vũ khí ra lau chùi và kiểm tra lại lần cuối .  Tướng Kawaguchi ngồi trên một phiến đá , chung quanh ông là những sĩ quan chỉ huy . Các tiểu đoàn trưởng và đại đội trưởng cũng tề tựu xung quanh để nghe ông dặn dò lần cuối trước khi xuất trận . Khi còn ở căn cứ Rabaul , người ta đã cho ông biết là hiện có khoảng năm ngàn thủy quân lục chiến Hoa kỳ hiện diện ở sân bay Henderson . Ông Tướng đăm chiêu nghĩ ngợi một giây rồi nói “Năm ngàn thủy quân lục chiến . Hừm , nhưng nếu mọi việc đều suông sẻ , với 2,100 quân của mình , Đại tá Oka 1,100 và 1000 trong đội pháo thủ của Ichiki nữa thì tổng số cũng tròm trèm 4 ngàn hai trăm quân . Như thế phần thắng chắc chắn sẽ về tay chúng ta rồi !” .


 


                    ……………………………………………………..


  Bây giờ chúng ta nên đi sang tổng hành dinh của Tướng Vandegrift để xem tình hình phòng thủ bên ấy ra sao . Sáng sớm ngày hôm ấy Tướng Vandegrift đích thân đi kiểm tra tổng quát mức thiệt hại ở sân bay Henderson do phi cơ Nhật oanh tạc đêm vừa qua . Ông nói với viên sĩ quan tham mưu rằng “Chúng ta phải bảo vệ phi trường này cho đến khi nào chúng ta không thể tiếp tục . Nếu như trường hợp xấu ấy xảy ra , chúng ta phải di chuyển tất cả những gì còn lại lên những ngọn đồi cao và rậm rạp để tổ chức đánh lại họ theo lối du kích chiến” .


  Tuy trong tay của Vandegrift hiện tại đã có hơn 19 ngàn binh sĩ nhưng người chỉ huy này vẫn cho đó còn quá thấp nếu so với quân số của địch quân . Căn cứ theo những báo cáo mà ông đọc được thì đã có hai chi đội địch đổ bộ thành công ở hai điểm gần sân bay và họ đang chuẩn bị để tràn vào . Trong hai tuần lễ liên tiếp quân trú phòng Hoa Kỳ , nếu không bị phi cơ oanh tạc thì cũng lãnh pháo từ các hạm đội của Nhật từ xa ngoài khơi bắn vào . Đó là nỗi hãi hùng nhất cho những binh sĩ của ông , họ trở nên mất hết ý chí chiến đấu . Quân số cứ ngày càng hao hụt , tinh thần chiến đấu bị dao động . Chưa nói đến một số ít phi cơ còn lại trên đảo phải liên tục cất cánh đánh đuổi những oanh tạc cơ của địch thường hay xuất hiện hàng ngày khuấy phá , những thiệt hai to tác này ông chẳng biết bao giờ mới được tăng viện gửi đến . Vandegrift biết chắc một điều là hiện tại sẽ không nhờ vả gì vào Hải quân được . Mới vừa rồi phó Đô đốc Turner đã gửi đến Ghormley một bức điện tín cho biết rõ tình trạng thiếu thốn của Hải quân như chiến hạm , phi cơ và hàng tiếp liệu . Vì vậy phía Hải quân không thể tiếp tục yễm trợ cho chiến dịch phòng thủ Guadalcanal .


  Toán thủy quân lục chiến bên ngoài vòng đai phòng thủ được lệnh nấp kín , giữ im lặng tuyệt đối và canh tuần cẩn mật vì có thể bị địch tấn công bất cứ lúc nào .


  Trời vừa tối hẳn thì 2,100 binh sĩ thuộc cánh quân của Tướng Kawaguchi được lệnh âm thầm xuống đồi và tiến về phía sân bay . Dưới ánh trăng thượng tuần vàng vọt tỏa bóng yếu ớt , những binh sĩ Nhật khi băng ngang một đầm đầy cỏ lát cao nghều nghệu , trông những cái bóng nhẹ nhàng di động của họ thật chẳng khác nào những âm hồn trở về từ bên kia thế giới . Rồi cuối cùng họ đồng dừng lại để chuẩn bị mở cuộc tấn công . Nhà báo Nishino đang đứng ngó quanh quất chợt có ai đó nắm lấy tay anh mà giật nhẹ .Thì ra Binh Nhì Hayashi , một người bạn mới quen của Nishino từ sau chuyến khởi hành ở Palau . Binh Nhì Hayashi vừa mới nhập ngũ có hơn ba tháng sau khi tốt nghiệp cao đẳng và vừa mới đính hôn chưa kịp cưới lại phải ra đi muôn trùng , bỏ lại cô vợ tương lai nơi quê nhà ngày mong đêm nhớ mà lúc ra đi trên chuyến hải hành viễn chinh không ngờ nên đã không kịp có một lời từ biệt . Anh ta nhìn anh nhà báo rồi như cố hết sức bình tỉnh để nói “Nếu tôi nay tôi có mệnh hệ gì thì..” Đoạn anh bỏ lững một hồi lâu rồi tiếp với một giọng bùi ngùi “Tôi thường có ước mơ là một ngày nào đó tôi được hồi hương để cưới cô ta . Nhưng bây giờ ước mơ đó tôi không còn dám nghĩ đến nữa . Đây là địa chỉ của tôi …” Anh bật khóc “Khi tôi chết , nhờ anh viết một lá thư báo tin về cho mẹ tôi giùm” . Nishino cảm động xiết chặc bàn tay người bạn . Trong lòng anh nhà báo này cũng đang thổn thức thầm nghĩ , trong trường hợp đổi ngược lại thì mình cũng phải nhờ anh ta viết hộ một lá thư báo tử gửi đến người vợ thương yêu của mình nơi quê nhà xa xôi diệu vợi . Và không ai bảo ai , hai người âm thầm mở ba lô lôi ra cái quần lót còn sạch , hai người bạn trao đổi  cho nhau và mặc vào ý chừng như họ muốn được giữ sạch sẻ trước khi nhắm mắt từ giã cõi đời .


  Những người sĩ quan chỉ huy của tiểu đội đích thân đi  phân phát cho từng người lính một miếng vải trắng nhỏ và ra lệnh cho họ dán vào phía sau lưng mình , để khi hành quân người phía sau dễ nhìn thấy người phía trước mà tiến trong đêm tối . Trung úy Kurakake moi ba lô lấy ra một chai dầu thơm to tướng , chai dầu này anh đã mua ở Borneo định bụng mang về quê tặng cho người vợ yêu dấu , nhưng bây giờ giữa lúc sống chết còn chưa biết thì tặng vật coi như không còn giá trị nữa , anh cho binh sĩ của mình mỗi người thoa lên áo quần một chút rồi ra lệnh “Cứ đánh hơi bằng lỗ mũi mà tiến lên !” . Coi ra phương pháp đánh hơi này chẳng hay ho chút nào cả vì khi quần áo của anh lính được xịt chút dầu thơm vào thì mùi thơm ấy tỏa rộng ra và dĩ nhiên là mũi của anh ta cũng ngữi hoài mùi thơm ấy , vậy thì chung quanh anh ai mà chẳng thơm !


  Tướng Kawaguchi cũng vừa phát giác ra trước khi thọc mũi nhọn tiến vào phi trường , quân của ông phải vượt qua một ngọn đồi . Đây là một ngọn đồi không cao lắm , nó uốn lượn theo trục Bắc Nam như một tấm bình phong che chở cho cánh quân của ông trong lúc dừng quân chuẩn bị . Có thể nói đây là phòng tuyến thiên nhiên khá lý tưởng .


  Trên lưng chừng đồi , vô số bóng đen di động nhấp nhô tiến lần lên phía đỉnh . Dưới ánh trắng vàng vọt yếu ớt tỏa chút ánh sáng lờ mờ khiến những bóng đen lúc ẩn lúc hiện ấy càng trông có vẻ ma quái . Đó là những binh sĩ Nhật đang trên đường đi vào hiểm địa , họ vẫn chưa biết cái gì đang chờ đón họ phía bên kia sườn đồi . Nhà báo Nishino vẫn bám sát theo bên chân Tướng Kawaguchi , họ đang ở cánh hậu đội . Anh ta đã chuẩn bị sẳn sàng mọi thứ cần thiết như máy chụp ảnh , máy quay phim , sổ tay giấy viết thứ thứ điều sẳn sàng để làm nhiệm vụ của một phóng viên chiến trường . Niềm phấn khích trước giờ xung trận đã khiến cho anh nôn nao lạ thường và quên bẵng đi rằng đây là trận địa , ở một nơi mà chỉ có cây súng mới là vật cứu cánh chớ máy ảnh và giấy viết thì chẳng đắc dụng chút nào , ngược lại nó còn vướng bận phiền toái gây nguy hiểm nửa là đàng khác .


  Trước 9 giờ chừng vài phút . Trong cái không khí căng thẳng đang bao trùm không gian chung quanh căn cứ sân bay và ngọn đồi , nơi có hơn hai ngàn quân Nhật đang nắm chặc tay súng chờ lệnh xung phong và . Mọi sự hoạt động dường như đã ngưng đọng lại , thậm chí tiếng côn trùng rả rít đêm nay , thanh âm của nó cũng kéo dài lê thê như lười biếng và buồn bả lạ thường .


  Bất chợt tiếng đạn pháo xé không gian rít lên nghe rợn người rồi tiếp theo là những tiếng nổ long trời lở đất vọng ra từ phía sân bay . Đó là những khẩu pháo thuộc tiểu đoàn pháo binh của Kawaguchi đã bắt đầu nã đạn vào sân bay . Rồi kế tiếp là những tiếng bom chấn động trời đất hòa nhịp theo tiếng đại bác ầm ì tạo thành một thứ thanh âm kinh khiếp , thanh âm của một cơn địa chấn liên miên bất tận khiến cây rừng chao nghiêng ngã đổ và đá núi cũng rung rinh . Đó là những phi đội oanh tạc cơ của Nhật từ những chiến hạm ngoài khơi đến đúng hẹn để cùng quân của Kawaguchi dạo khúc nhạc đầu tiên cho một trận địa sắp mở màn .


  Kim đồng hồ vừa chỉ đúng 9 giờ thì lệnh tấn công bắt đầu . Từ trên triền dốc của ngọn đồi , tiếng hô xung phong vang lên rền trời , tức thì hai ngàn một trăm binh sĩ trong tư thế đánh cận chiến đồng loạt ôm súng lao nhanh xuống đồi . Toán quân thủy quân lục chiến phòng thủ nơi vòng đai ngoài cùng hiện có mặt ở ngay vị trí phía dưới chân đồi , chỉ huy trưởng cánh quân này là Đại tá Merritt Edson , còn có biệt hiệu là Red Mike . Đây là một tiểu đoàn rất tinh nhuệ mệnh danh là tiểu đoàn cướp biển , đứa con cưng của Tướng Vandegrift . Nhiệm vụ của họ là bảo vệ phía chính giữa và sườn bên phải , trong khi sườn trái giao cho tiểu đoàn Dù của Đại tá Harry Torgerson , một con người vạm vỡ và thuộc loại sĩ quan chỉ huy ba gai thứ thiệt . Đã có một lần giao tranh dữ dội với địch trong hang động ở Tulagi , bị Nhật đánh mìn tưởng chết nhưng nhờ số lớn nên mạng của ông thì còn mà cái quần thì bay đâu mất . Binh sĩ thuộc cấp vẫn hay đề cập đến giai thoại này trong những lúc trà dư tửu hậu và họ gọi ông ta là vị Đại tá không quần để cười đùa cho vui .


  Hỏa châu đồng loạt bắn lên sáng rực cả một vùng trời . Những binh sĩ trú phòng ngồi im lặng chong súng nhìn lên phía triền đồi , quân Nhật khí thế ngất trời lúc nhúc tranh nhau tiến nhanh vào tử địa . Những khẩu đại liên , trung liên , súng cá nhân phía thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đang chờ đón họ để dàn chào ngay cách đó không đầy 500 thước .


  Đại tá William , chỉ huy trưởng vòng đai phòng thủ ra lệnh cho 2 vị Đại tá ở hai mặt trái và phải cho con cái sẳn sàng ứng chiến và bằng mọi giá phải cầm chân địch phía bên ngoài phòng tuyến , nếu bị chọc thủng thì phi trường Henderson coi như khó giữ nổi .


  Nơi sườn phía trái , vị Đại tá “không quần” xông xáo chạy tới chạy lui lo đôn đốc và khích lệ các sĩ quan chỉ huy đại đội . Ông gọi tên từng người lính quanh chiến hào , hăm dọa họ cũng có mà vuốt ve họ cũng có . Một anh binh nhì chắc thuộc loại lính mới tò te , cứ đứng thẳng lưng , miệng há hốc mắt mở tròn xoe mà nhìn hỏa châu , bị ông Đại tá thình lình từ sau lưng tiến tới thộp ngực quăng vào hố chiến đấu sau một câu chửi rũa tục tằn .


  Tiếng còi xung phong lẫn tiếng hò hét của quân Nhật vang rền cả phía triền đồi . Trong những hố chiến đấu , những binh sĩ trú phòng Hoa kỳ ôm súng mắt mở trừng trừng , họ nín thở chờ đợi . 


  Năm chục mét , bốn chục mét , mười lăm mét …


  Một khoảng cách quá lý tưởng để những khẩu đại liên MacKennon của phía phòng thủ khai hỏa .Toán tiền quân của Nhật vừa băng qua khỏi chân đồi chưa bao xa thì bỗng dưng bị khựng lại . Những họng  đại liên nhô ra từ những công sự cách đó không quá mười mét đồng loạt khạt đạn . Nhiều bóng người bị trúng đạn nhảy dựng lên rồi ngã quị xuống . Và hết lớp này đến lớp khác , quân của Kawaguchi cứ như những con thiêu thân bất kể sống chết , cứ xông bừa vào mặc dù phải bước dẫm lên xác của đồng đội . Súng trường cá nhân , đại liên , súng cối của cả hai phía đồng thi nhau nổ giòn , hòa theo tiếng lựu đạn , tiếng hò hét chửi rủa pha lẫn tiếng rên rỉ đau đớn của những kẻ bị thương , những người sắp chết . Một thanh âm hổn tạp của chết chóc , của chiến tranh tàn phá làm chấn động cả núi rừng giữa màn đêm đen tỉnh mịch .


  Cuộc tấn công đợt thứ nhất bị bẻ gãy hoàn toàn . Nhật tạm thời rút lui chấn chỉnh lực lượng và sau nửa tiếng đồng hồ thì Kawaguchi mở ra thêm một đợt tấn công đợt thứ nhì . Và lần này ông cho thay đổi chiến thuật , họ thả đội cảm tử vào trước sử dụng trái khói tối đa hầu che mắt địch để sau đó dùng chất nổ và lựu đạn tiêu diệt những công sự chiến đấu của địch . Thay đổi này khiến cho binh sĩ Hoa kỳ lúng túng không ít , vì theo chiến thuật mới của Nhật thì họ khó có thể dùng hỏa lực hùng hậu của mình đè bẹp được . Trước sự liều lỉnh táo bạo ấy , Đại tá Edson nghĩ rằng cánh quân của mình khó có thể cầm cự được lâu nên ông quyết định cho con cái rút về phía hướng bắc của chân đồi , một vị trí cách sân bay khoảng nửa dặm .


  Quân Nhật dẫm lên xác đồng đội tiến vào . Đám khói mù loang tỏa mờ mịt nhưng trong bóng đêm thì có khác gì đâu . Cánh quân cảm tử đi đầu dùng lựu đạn và chất nổ để diệt các chốt chận , diệt đến đâu bộ binh của họ tràn vào chiếm giữ . Và cứ như thế họ tiến sâu vào bên trong phòng tuyến . Một cánh quân còn lại phía bên kia đồi cũng nhanh chóng nhập cuộc . Họ là phần binh sĩ còn sống sót sau đợt tấn công đầu của một tiểu đoàn dưới sự chỉ huy của Đại  Trước   Sau 

úy Kokusho . Hướng tiến của họ bị giáng đoạn lại trong một thời gian khá lâu khi vô tình phát giác ra một kho thực phẩm của quân phòng thủ ngoài vòng đai . Nào thịt nguội , súc-síc và thịt bò . Ôi toàn là những món ăn khoái khẩu ngon quá là ngon khiến cho những binh sĩ đói khát lâu ngày sáng mắt lên , hễ chộp được thứ nào là họ bỏ vào miệng thứ đó ngay . Quân kỷ , quân lệnh bây giờ đối với họ còn thua xa cây súc-síc vàng lườm và lát thịt bò béo ngậy .

  Đại úy Kokusho sau khi ăn uống no nê , anh ta ung dung bật lửa đốt một điếu thuốc thơm Hoa kỳ . Miệng ngậm điếu thuốc , anh khoát tay  ra hiệu cho đám quân no nê này lập tức trở lại nhiệm vụ , phải tiêu diệt một ổ đại liên phía trước . Viên Đại úy dõng dạc tuyên bố “Hãy để cho tôi dẫn đầu , không ai có quyền được đi phía trước tôi . Hiểu chưa ?” . Ra lệnh xong anh đưa tay sửa lại chiếc nón sắt đoạn rút thanh gươm dài thườn thượt phía bên hông ra múa may trong gió nghe vù vù rồi hô to  “Xung phong !” .


  Nhiều loạt đạn xé gió bay vào đội hình của anh đốn ngã nhiều binh sĩ xung phong . Kokusho đau đớn nhìn đồng đội gục ngã , máu hận trào dâng nên quyết liều chết xông vào phá tan ổ súng máy địch bằng lựu đạn . Một tiếng nổ chát chúa , ổ súng máy câm họng và mặt của Kokusho cũng bị thương , máu chảy ướt cả vai áo của anh . Bây giờ nhóm binh sĩ xung phong chỉ còn lại hơn mười người cộng thêm một nhóm pháo thủ vừa xuất hiện , pháo đã bắn hết đạn nên họ đồng tham gia xung phong giết giặc . Nhưng vì lính pháo không có súng trường nên vũ khí của họ chỉ là những cây tầm vong vạt nhọn . Kokusho tuy trên mặt đã bị thương nhưng người sĩ quan chỉ huy đội quân cảm tử vẫn mặc kệ , anh rút chốt an toàn quả lựu đạn rồi hướng về phía ổ đại liên kế đó lao ngay lại định thanh toán nốt . Nhiều loạt đạn nổ giòn , người Kokusho nhảy dựng lên không ngớt vì đã hứng trọn một tràng đại liên . Nhưng trước lúc ra đi , quả lựu đạn cuối cùng của anh cũng tạo được một chiến công không nhỏ là ổ đại liên kia bị câm họng .


  Nhưng dù với một hai ổ đại liên hoặc nhiều hơn nữa bị câm họng thì quân Nhật cũng không thể lọt sâu vào được bên trong phòng tuyến thủy quân lục chiến . Với các loại hầm hố kiên cố cũng như chốt chận dày đặc và đầy rẫy những chướng ngại vật , đặc biệt cánh phòng thủ này lại nằm dưới sự chỉ huy của hai vị Đại tá già dặn chiến trường là Edson và ông Đại tá “không quần”  Henry Torgerson thì có thể coi như là một vòng đai phòng thủ bất khả xâm phạm .


  Tiếng súng rời rạc rồi tắt hẳn . Đoàn quân bại trận những kẻ sống sót đã âm thầm rút lui trả lại cho bầu không gian âm u một sự im lặng đến đáng sợ . Những đám cháy nhỏ đã kịp thời ngăn chận . Thế giới chung quanh bãi chiến trường như đang ngưng đọng hẳn lai . Mùi thuốc súng khét lẹt pha lẫn mùi máu tanh nồng nặc vẫn quyện quanh trong gió . Dưới ánh sáng mờ mờ ảo ảo của mảnh trăng non treo nghiêng trên nền trời đen đặc ,  một cảnh tượng ma quái hãi hùng bài ra ngay trước mắt , từ triền đồi đến vòng ngoài của phòng tuyến vô số tử thi nằm vắt vẻo đủ mọi tư thế . Bãi chiến trường vừa im tiếng súng , một cuộc giành giật không nhân nhượng đã để lại dấu tích quá hãi hùng . Một dấu tích mà thậm chí đến ngọn cỏ cũng phải gục đầu và quỉ thần thảy đều kinh tỡm .


  Đến lúc bình minh , sau khi kiểm tra lại trận chiến đêm qua thì người ta mới thất kinh , nhìn nhận nơi triền đồi này là một lò sát sinh không hơn không kém và từ đó nó được mệnh danh là “Đồi máu” . Với hơn sáu trăm binh sĩ Nhật bỏ xác tại trận , phía Hoa kỳ thì bốn mươi thủy quân lục chiến đã yên nghỉ ngàn thu nơi hòn đảo hoang sơ này .


  Vẫn còn nhiều binh sĩ Nhật bị thương không kịp rút lui theo đồng đội nên đã bị bắt . Tuy nhiên trong số này có nhiều người tự tử , họ vờ kêu la thảm thiết , động lòng từ tâm mấy anh lính thủy quân lục chiến nên họ đến coi sóc hộ vết thương . Không ngờ những người lính Nhật đã có chủ ý , họ cho nổ quả lựu đạn để kết quả cả hai cùng chết . Cũng lắm người không còn lựu đạn thì dùng dao để thí mạng với kẻ thù . Bởi vì với họ , câu kinh nhật tụng phải nhớ nằm lòng là một chiến binh của Thiên Hoàng chỉ có hai cách chọn lựa , chiến thắng hoặc là chết , đầu hàng là việc không chấp nhận .


  Tướng Vandegrift cũng có mặt tại bãi chiến trường . Ông đang chú ý nghe thuộc cấp báo cáo kết quả của cuộc chống trả đêm qua , mặc dù cả đêm ông vẫn túc trực trong phòng máy để theo dõi diễn biến . Một nhóm tù binh Nhật đang bị tập trung gần đó . Bỗng bên tai Vandegrift nghe có tiếng họ hô to “Banzai” , ông giật mình quay lại thì vừa nhìn thấy một nhóm bốn tù binh đang đứng chụm vào nhau , một người , có lẽ là một sĩ quan chỉ huy nên còn thanh gươm dài đeo lủng lẳng bên hông . Anh ta tuốt gươm ra và nhanh như gió , chỉ thấy ánh thép khoa lên tức thì ba người tù kia lăn ra chết tốt , xác của họ ngã nhào ngay bên cạnh bàn chân của tướng Vandegrift . Và anh sĩ quan kia cũng vừa đưa thanh gươm trở lại đâm vào bụng mình tự sát . Cảnh tượng rùng rợn xảy ra quá đột ngột khiến cho ông tướng bàng hoàng chết lặng , miệng há hốc mà chẳng thốt nên lời .


                              ………………………………………


  Đoàn bại binh Nhật Bản lầm lủi rút lui về hướng ngọn núi Austen để chấn chỉnh đội ngủ . Có đến vài trăm binh sĩ bị thương ,  nhẹ thì cõng nặng hoặc bẻ cây làm gậy mà dắt díu nhau cùng rời khỏi trận địa càng nhanh càng tốt . Quân số họ sau một tổn thất nặng nề , tập trung lại , trừ lớp chết lớp bị thương hoặc mất tích vì thất lạc giữa chốn rừng già thì chỉ còn non một nửa và tướng Kawaguchi chưa có một quyết định gì ngay trong lúc này ngoài lệnh rút lui , rút lui càng xa càng tốt vào chốn thâm sơn cùng cốc lấy địa thế hiểm trở của núi rừng làm chốn dưỡng quân . Đến bây giờ thì họ mới lượng định được sức mạnh của quân phòng thủ Hoa Kỳ , quả thật là hỏa lực của họ như vô cùng tận . Tướng Kawaguchi đau khổ ngồi dựa một gốc cây cổ thụ . Trong đầu ông trống rổng chẳng biết nên phải toan tính tiến thoái lẽ nào . Và một điều ông vẫn mãi thắc mắc , cánh quân thứ hai của ông theo lẽ sẽ xuất hiện đúng thời điểm tấn công thì chẳng biết họ đang ở đâu . Đại tá Oka vẫn còn biệt vô âm tín giữa chốn rừng núi thâm u bạt ngàn .


  Tuy nhiên vào lúc tối hôm sau , Tướng Kawaguchi lại quyết định đem quân trở lại phục hận hầu chuộc lại lỗi lầm của đêm trước và nếu được chết tại mặt trận thì vẫn còn vinh dự hơn , dù sao thì sau một lần thất bại ông đã là một viên bại tướng dưới tay Hoa Kỳ rồi , nhục nhã không gì bằng .


  Nếu bảo rằng Kawaguchi đem quân đi nướng thêm thì có lẽ đúng hơn là phục hận . Sau hai tiếng đồng hồ giao tranh dữ dội , quân của ông chẳng những chẳng xuyên nổi phòng tuyến , ngược lại ngọn đồi máu lại một lần nữa được tắm bằng máu !


                          …………………………………………..


  Thế là cuộc giao tranh dữ dội hai ngày liền trên ngọn đồi máu đã chấm dứt thật sự . Quân Nhật bị thiệt hại quá nhiều , họ gần như bị xóa sổ trên một trung đoàn . Tuy nhiên , phe chiến thắng của Vandegrift cũng đã khá mệt mỏi . Phần đông binh sĩ vì chưa quen với cái phong thổ quá khắc nghiệt ở đây nên dần dần ngã bệnh sốt rét và kiết lỵ . Hoàn cảnh thê thảm đến nổi họ chẳng còn biết nao núng quân Nhật nhưng hễ nhắc đến con vi trùng sốt rét thì binh sĩ hầu hết đều hoảng kinh .


  Đó là những trận đánh thử lửa đầu tiên giữa lục quân và thủy quân lục chiến trên hòn đảo hoang vu tên gọi Guadalcanal , một chiến trường cách xa Hoa kỳ hàng nửa quả địa cầu và cách Nhật bản trên hai ngàn dặm . Phần hải quân thì khi chiến dịch phản công ở mặt trận Thái bình dương được bắt đầu , Hoa kỳ có đến ba hàng không mẫu hạm . Không bao lâu thì mẫu hạm Enterprise bị hư hại năng phải quay về Trân châu cảng để sửa chửa . Một tuần sau , chiếc tiềm thủy đỉnh I-26 của Nhật trong một chuyến tuần tra trong khu vực nam Thái bình dương , nó vô tình phát giác ra một hải đội địch và xông vào tấn công . Một trái thủy lôi đánh trúng mẫu hạm Saratoga khiến cho 12 thủy thủ bị trọng thương , trong số đó có Đô đốc Fletcher . Chiếc Saratoga phải mất một tháng nằm ụ để rồi sau đó quay trở lại với vùng biển mà sóng gió cùng sấm sét đang bắt đầu .


  Trong thời gian chiếc Saratoga vắng mặt , hải quân Hoa kỳ chỉ còn có hai mẫu hạm là Wasp và Hornet , và khi chúng đến được với mặt trận Đông Solomon thì đã quá trễ . Sau cái đêm rùng rợn trên đồi máu một ngày . Hoa kỳ thì hả hê trong men chiến thắng , ngược lại Nhật bản thì ôm hận tràn lòng . Hải quân của họ quyết ra tay rửa nhục . Hai chiếc tiềm thủy đỉnh I-51 và I-19 bất thần xâm nhập sâu vào vòng đai của khu trục hạm đang bảo vệ 2 mẫu hạm của Hoa Kỳ . Lúc này đang lúc biển lặng gió êm , chiếc mẫu hạm Wasp đang di chuyển chầm chậm để phóng 26 chiếc phi cơ dọ thám đồng thời 11 chiếc phi tuần khác cũng đang hạ cánh . Hai trái thủy lôi thình lình từ dưới biển phóng lên đánh trúng một bên hông mẫu hạm . Sau hai tiếng nổ dữ dội toàn thân mẫu hạm như rung lên bần bật rồi không bao lâu nó nghiêng hẳn về một bên . Cách đó năm dặm , nhiều thủy lôi của chiếc tiềm thủy đỉnh I-15 cũng rẽ nước lao tới chiếc Hornet . Tất cả đều đi trược qua chiếc mẫu hạm chỉ có một trái vô tình đánh trúng trúng chiếc thiết giáp hạm North Carolina . Hai phút sau lại thêm một trái đâm vào chiếc khu trục hạm O’Brien .


  Bấy giờ lửa đã bốc cháy ngùn ngụt trên chiếc mẫu hạm Wasp , nhiều tiếng nổ liên tục làm rung chuyển toàn thân nó . Lúc 3 :20 , hạm trưởng Sherman bắc buộc phải ra lệnh cho toàn thể thủy thủ lập tức rời bỏ mẫu hạm . Bây giờ Hải quân Hoa kỳ chỉ còn lại vỏn vẹn có một mẫu hạm lẻ loi để yễm trợ cho thủy quân lục chiến trên đảo Guadalcanal .


  Phía bên kia ngọn đồi máu , Tướng Kawaguchi trong bộ quân phục rách nát tả tơi . Ông hướng về phía bãi chiến trường , chấp tay cúi đầu thầm cầu nguyện cho những vong hồn tử sĩ vừa ngã xuống . Nhiệm vụ còn lại cho ông trong lúc kiệt quệ này là hướng dẫn đám con cái te tua còn lại của mình trở lại vùng an toàn gần bờ biển . Ông quyết định dùng đoạn đường tắt của Trung úy Nakayama đã vượt qua khi nhận lệnh đi bắt liên lạc với Đại tá Oka là hướng về cánh Tây của núi rừng mà lần bước . Trong lúc này thì tiểu đoàn pháo binh cũng đã tự rút lui về bãi biển bằng con đường mà họ đã đến .


  Đoàn quân tan tác của Tướng Kawaguchi di chuyển thật chậm chạp phần vì sức lực đã tàn phần vì chướng ngại của núi rừng trùng điệp khiến cho bước chân của họ như không thể nào nhấc lên được . Sang ngày thứ hai thì đã có hàng trăm binh sĩ vốn đã bị thương từ trước lại gục ngã . Không còn ai có đủ sức để cõng hoặc khiêng những quân nhân này nên cuối cùng họ bèn bỏ mặc , ai còn ngáp ngáp thì ráng mà bò , ai kiệt lực thì lăn ra nằm chờ chết . Đoàn quân di chuyển không lệnh lạc , không hàng ngũ nhất định , cứ mỗi toán 15 hoặc 20 người cùng nhắm hướng bờ biển mà đi .


  Anh nhà báo Nishino còn sống sót sau một đêm kinh hoàng , nhưng bây giờ thể xác cũng đã quá rã rời vì những cơn sốt rừng hành hạ , và kết quả là cánh tay trái của anh đã trong tình trạng bất khiển dụng . Anh đang có mặt trong một đoàn quân đang đi xuyên qua một khu rừng dọc theo triền núi Austen . Ở đây không có gì để ăn ngoài những đám cỏ xanh um mơn mởn cùng những đám rêu bám đầy theo những hòn đá ngâm mình dưới suối . Nishino đang bước qua những xác chết của binh sĩ . Có lẽ những quân nhân xấu số này vừa mới gục ngã nên trên bộ quân phục rách nát còn bê bết máu tươi và đa số tay của họ đều vươn ra như muốn túm lấy những ngọn cỏ non xanh rờn . Chắc chắn là những quân nhân bị thương này đã quá đói và trước khi từ giã cõi đời họ chỉ còn đủ sức để vươn tay ra định ngắt lấy cỏ mà ăn , nhưng họ lại gục ngã . 


  Tình trạng tồi tệ này cứ kéo dài mãi , đến ngày thứ 6 thì đoàn quân không còn sức lực để di chuyển nữa . Những hạ sĩ quan cứ lấy roi đét vào nhóm binh sĩ tội nghiệp không dứt , bắt họ phải đi tiếp . Nishino phải khổ sở lắm mới nhấc được chân của mình mà bước , quả thật mỗi bước chân đi là một trời cực nhọc . Quá trưa ngày hôm ấy thì họ đến được khu rừng dừa , ngay phía trước mặt là đại dương mênh mông . Họ đã đến được mũi Cruz , một điểm nằm cách sân bay chỉ có 7 dặm đường chim bay . Những người lính đói meo nhìn thấy biển thì mừng vô hạn , tàn lực của họ như được sống lại . Tức thì họ lột bỏ tất cả những thứ lỉnh khỉnh bên mình và ngay cả bộ quân phục rách nát để chạy ùa xuống bãi cát . Anh nhà báo Nishino cũng chạy ào ra như họ , anh vốc một ngụm nước biển cho vào miệng nhưng rồi lại phải phun ngay ra , cái vị mặn đắng của nước biển càng làm cho anh thấy khó chịu hơn . Anh cúi lượm vài hòn sỏi và cứ như thế anh liếm nó như tìm được chút hương vị ngọt ngào nào đó . Có vài binh sĩ nhào xuống biển rồi không bao giờ quay trở lại bờ cát nữa , họ đã quá mệt và tuyệt vọng nên chỉ muốn nằm yên để được chết một cách an lành dưới lớp nước mặn đắng của đại dương .


  Cả một buổi chiều hôm ấy , nhóm tàn quân Nhật Bản nằm lại khu rừng dừa gần bãi biển . Họ được một bửa tiệc nước và cái dừa no nê , và dĩ nhiên sau khi phục sức lại thì họ tụm năm tụm ba bàn bạc về cuộc ác chiến đẫm máu vừa rồi . Một quân nhân nói ‘‘Chúng ta thường tự hào là chiến sĩ của mình đầy dũng khí coi cái chết tợ lông hồng . Nhưng coi ra thì người Mỹ họ cũng có dũng khí riêng của họ . Có phải không anh em ? Cái đêm hôm 13 tháng 09 , khi quân ta ồ ạt tấn công vào phòng tuyến của họ . Toán của tôi được lệnh nhổ một cái chốt đại liên quá dữ dội . Một tên lính Mỹ nhảy vào định hạ sát tôi nhưng tôi nhanh hơn hắn một giây , dùng lưỡi lê đâm hắn . Các anh biết sao không , trước khi chết hắn còn bình tỉnh bắn một trái pháo sáng kêu pháo binh dập . Kết quả cả toán của tôi chỉ có mình tôi là may mắn thoát chết’’ . Mọi người im lặng một giây , lại có tiếng thì thào của ai đó ‘‘Đâu phải riêng một mình chúng ta biết yêu nước , họ cũng biết yêu nước của họ chớ . Chúng ta có dũng khí của chúng ta thì họ dĩ nhiên cũng có cái dũng khí của họ’’ .


  Đảo Guadalcanal bây giờ được binh sĩ Nhật Bản mệnh danh là  ‘‘Hòn đảo chết đói’’ .

Comments

Popular posts from this blog

PI IS NOT FREE MONEY

Đôi lời gởi tới các bạn Pioneers, Vốn dĩ mình đã ở ẩn từ lâu từ sau vụ PNG , Trang Trại Pi Nodes , CVG 314k vừa ngu vừa ngáo quá thắng thế thành công tẩy não cộng đồng Pioneers và khiến cộng đồng luôn mang tư duy Pi lên sàn phải có giá cao để bán ( xả ) Pi để lấy tiền tiêu nên kể từ đó đến giờ 2 năm mình chọn ở ẩn và chẳng quan tâm tới các cộng đồng ngáo đá nữa . Nay có một thằng em FB hỏi thăm về Pi và mang hy vọng Pi có trong danh sách Quỹ Dự Trữ Chiến Lược Kỹ Thuật Số ( Strategic Crypto Reserver - SCR ) của Tổng Thống Trump ngày 7 tháng 3 sắp tới nên mình có đôi đều phải nói rõ cho các bạn hiểu . Thứ nhất : Quỹ Dự Trữ Chiến Lược Kỹ Thuật Số là sáng kiến mang lại cho Dân Mỹ , giúp trả nợ công và đặt nước Mỹ là trên hết , nên các bạn đừng có mơ tưởng hay tư tưởng ăn bám vào tiền thuế của dân Mỹ như nhóm PNG , CVG . Nước Mỹ bây giờ không còn như ngày xưa luôn lo chuyện bao đồng rồi nhận lại là sự phản bội của các nước được nước Mỹ giúp . Nước Mỹ bây giờ là nước Mỹ của DÂN MỸ ! Pi Netw...

​Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế

Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế… Người ấy không hỏi nhiều, không kể lể, chẳng tranh phần đúng, cũng chưa từng đòi phần hơn. Nhưng lạ lắm – cứ mỗi lần nhà có chuyện, thì chính người ấy lại là người đầu tiên chao đảo. Khi ai đó gặp hạn, người ấy lại ốm. Khi cả nhà cùng lo âu, người ấy lại gánh thêm những điều chẳng ai thấy. Không phải vì người đó yếu. Mà bởi trời đất đôi khi có một cách sắp đặt kỳ lạ: Để một người chịu nhiều hơn một chút – Để những người còn lại, được bình yên hơn một chút. co là con út trong một gia đình năm người. Chị gái lấy chồng xa, anh trai có công việc ổn định, bố mẹ vẫn khỏe mạnh ở tuổi về chiều. Chỉ riêng Co – đi đâu cũng lận đận, làm gì cũng va vấp. Đã có lúc, cô ngồi một mình và hỏi: "Hay là mình là đứa gánh nghiệp cả nhà?" Và rồi cô để ý – rất rõ – Mỗi lần trong nhà có người gặp chuyện: mẹ ốm, bố té xe, hay chị gái buồn bực chuyện chồng con… Thì chỉ vài hôm sau, Linh lại là người "đón hạn": xe hư, mất việc, hay bỗng dưng té ...

Khủng hoảng kinh tế 2008 và các sói già phố Wall

  Có lẽ nhiều người đã biết khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 xảy ra do bong bóng thị trường cho vay mua nhà (mortgage) của Mỹ sụp đổ, khi hàng loạt người có điểm tín dụng xấu – không có khả năng chi trả nợ - được cho vay mua nhà (subprime mortgage). Thời điểm 2000-2007, việc 1 người có thể sở hữu 2-3 căn nhà là hoàn toàn bình thường nhờ vay tiền từ các tổ chức tín dụng. Đến 1 thời điểm, khi người mua nhà không còn khả năng phát chi trả nợ, bong bóng này chắc chắn sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, việc tín dụng xấu có thể tồn tại trong 1 thời gian dài và tạo nên ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới chắc chắn không chỉ phụ thuộc vào những người có tín dụng xấu. Từ 1 đống rác, mortgage tín dụng xấu đã được hô biến thành 1 món hàng cực kỳ uy tín và chất lượng, tóm gọn lại trong hai yếu tố: 1. Biến subprime mortgage thành 1 sản phẩm hoàn toàn mới 2. Dát vàng cho sản phẩm mới này 1 trò chơi hoàn hảo đã được bày ra bởi các sói già phố Wall. Thay đổi nhận diện Yếu tố thứ...