Skip to main content

TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT, NHÀ CAI TRỊ LỖI LẠC CỦA ĐẤT GIA ĐỊNH THÀNH

THƯA CÁC BẠN
Trong những ngày qua, đột nhiên có một "chiến dịch" báng bổ tiền nhân
nổ ra, một số người nếu chẳng nói suông thì cũng chỉ đưa ra những
chứng cứ mù mờ, những lập luận thô thiển để xúc phạm vua Gia Long,
người khai sáng triều Nguyễn, cùng những bậc công thần như Tả quân Lê
Văn Duyệt, Kinh lược sứ Phan Thanh Giản, học giả Pétrus Trương Vĩnh
Ký. Hành động này đi ngược lại chủ trương của chính quyền và công luận
trong chiều hướng nhận định và đánh giá lại các nhân vật trên, trên
tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Việc nhà nước đặt lại tên đường
Lê Văn Duyệt và tạo các điều kiện tốt nhất cho việc tổ chức các buổi
hội thảo khoa học về Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký là những minh
chứng rõ rệt về thái độ công bằng với lịch sử.
Hôm nay, mình đăng lại bài viết này như một sự phản bác lại thái độ vô
ơn và hành động xúc phạm tiền nhân một cách mù quáng, là những thứ mà
mỗi gia đình chúng ta không nên để chúng gây tác hại đến công cuộc
giáo dục con cháu của mình.
Trân trọng
***
TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT, NHÀ CAI TRỊ LỖI LẠC
CỦA ĐẤT GIA ĐỊNH THÀNH
Trong ký ức của người Sài Gòn-Gia Định sinh trưởng vào những thập niên
1940 -1950 trở về trước, hình ảnh "Lăng Ông Bà Chiểu" là một trong
những biểu tượng đậm nét, nhất là vào những ngày lễ Tết, việc đi viếng
Lăng Ông trở thành một tập quán thiêng liêng mà mỗi gia đình đều không
bao giờ sơ suất. Trong nghi ngút khói hương thành kính, lòng mỗi người
nhớ về Tả Quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định Thành, như một nhân
vật lỗi lạc đã góp công lớn trong việc gầy dựng vương triều Nguyễn,
mang lại thái bình thịnh trị cho một dải đất trải dài từ Bình Thuận
đến Hà Tiên và tạo được thế mạnh trong quan hệ với các nước láng
giềng.
*LÊ VĂN DUYỆT – HỔ TƯỚNG THỜI NGUYỄN ÁNH - GIA LONG
Năm 1763, khi cư dân Lê Văn Toại, người gốc Quảng Ngãi, chứng kiến sự
ra đời của cậu bé Lê Văn Duyệt tại vàm Trà Lọt – Định Tường (nay thuộc
huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang), nhìn thấy tình trạng bất túc (về cơ
quan sinh dục) của con trai, ông chẳng bao giờ nghĩ rằng có một ngày
nào đó, con mình trở thành một nhân vật hiển hách bậc nhất triều đình.
Trong thời thơ ấu, cậu bé Duyệt chỉ có một đam mê lớn nhất là…đá gà.
Thế rồi năm 1780, một bước ngoặt xảy ra khi ông tình cờ gặp được chúa
Nguyễn Ánh đang trên đường ẩn lánh trước sự truy đuổi của quân Tây
Sơn. Với thể trạng bất túc bẩm sinh, Duyệt chỉ có thể làm một Thái
giám tầm thường chuyên phục vụ nội cung. Thế nhưng, ông đã không cam
lòng với thân phận đó, vì sau những bước gian truân cùng chúa Nguyễn
nơi đất khách, ông đã chứng tỏ cho mọi người một nhãn quan nhạy bén về
quân sự, một khả năng cầm quân đầy hứa hẹn.
Nhờ đó, vào năm 1793, từ một Thuộc nội Cai đội (chánh ngũ phẩm), Lê
Văn Duyệt được thăng Thuộc nội Vệ úy (chánh tam phẩm), một biệt lệ
chưa từng thấy trong giới hoạn quan lúc bấy giờ.
Những năm cuối thập niên 1790, khi nhà Tây Sơn, sau cái chết của nhà
lãnh đạo kiệt xuất Quang Trung-Nguyễn Huệ (1792), đã để lộ những khiếm
khuyết trầm trọng, từ sự lộng quyền của Thái sư Bùi Đắc Tuyên đến
những mâu thuẫn nội bộ hoàng gia, Lê Văn Duyệt tỏ rõ là một dũng tướng
dưới trướng chúa Nguyễn Ánh, không một trận đánh nào do ông cầm quân
mà thất bại. Hiển hách nhất là trận Thị Nại vào tháng giêng âm lịch
năm 1801, trận đánh quyết định cho cả một cuộc chiến.
Lúc này, ông đã là Đô Thống chế Tả dinh quân thần sách, hàm Tòng nhất
phẩm. Trong trận thủy chiến sống mái với hổ tướng Tây Sơn Võ Văn Dũng,
bộ tướng của ông là Võ Di Nguy bị trúng đạn tử thương, chúa Nguyễn Ánh
muốn lui binh, nhưng ông thân hành cầm quân xốc tới, dùng hỏa công
thiêu cháy hầu hết thuyền chiến Tây Sơn. Sử xác định đây là võ công
lớn nhất trong cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn với nhà Tây Sơn.
Sau khi vua Gia Long lên ngôi (1802), kết thúc một thời kỳ biến động
dài trên đất nước, võ nghiệp của Lê Văn Duyệt không vì thế mà kém hào
hùng. Ở Quảng Ngãi, có người Man Thạch Bích thường gọi là "Mọi Đá
vách", rất nhiều lần nổi lên đánh phá, quan quân địa phương không trừ
nỗi, cứ mỗi lần như thế, dù ở triều đình hay ở Gia Định Thành, Lê Văn
Duyệt đều được điều ra đó để dẹp yên. Đặc biệt năm 1819, ông được cử
đi kinh lược đất Thanh Hóa, Nghệ An, nghe oai danh ông, bọn giặc cướp
tại địa phương vừa ra hàng, vừa giải tán, chỉ sau một thời gian ngắn,
tình hình rối ren chấm dứt ; ông dâng sớ xin chấn chỉnh bộ máy cai trị
ở địa phương, tha thuế cho dân, từ đấy hai trấn này yên hẳn (Quốc
triều sử toát yếu – NXB Văn học, Hà Nội 2002, trang 138)
*LÊ VĂN DUYỆT – NHÀ CAI TRỊ LỖI LẠC
Cùng với Bắc Thành, Gia Định Thành là tổ chức hành chánh đặc biệt thời
Gia Long, gồm 5 trấn (Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà
Tiên), trải dài từ Bình Thuận đến Hà Tiên, phần lớn là đất mới thu
phục, dân cư ô hợp từ khắp nơi tụ hội về sinh sống. Năm 1812, Lê Văn
Duyệt được cử làm Tổng trấn Gia Định Thành, quyền hạn cao hơn cả cấp
Thượng thư. Ông không chỉ là một hổ tướng, mà còn là một nhà cai trị
lỗi lạc. Tính chung, thời gian ông đảm trách chức chưởng Tổng trấn là
hơn 15 năm, gồm 3 năm thời Gia Long (1812-1815) và 12 năm thời Minh
Mạng (1820-1832), đủ để ông làm được nhiều điều, cả ở cương vị một
quan cai trị lẫn người đại diện triều đình trong giao dịch, ứng xử với
lân bang.
Nhận thấy đất Gia Định phần nhiều là dân tứ chiếng giang hồ, đời sống
phức tạp, dễ gây ra tình trạng rối loạn về trật tự trị an, ông cho
thành lập các đồn điền, dồn những kẻ du thủ vào đó, vừa tiện giúp đỡ
họ mưu sinh, vừa dễ kiểm soát. Chẳng bao lâu, số dân đinh tại những
nơi này tăng lên rõ rệt. Có lần, vua Minh Mạng đã ban dụ khen ngợi Tả
Quân về việc này, vì sự gia tăng số cư dân kiểm tra được chứng tỏ
chính sách an dân thực hiện có hiệu quả. Riêng đối với giặc cướp tại
địa phương, "Duyệt đặt ra những điều luật ngăn cấm minh bạch, ra lệnh
cho các quan chức sở tại mật báo quan biết những tên giặc cướp đó để
bắt ngay chúng về trừng trị, lại ra thông cáo cho giặc cướp biết nếu
chúng tự mình ra thú, thời sẽ được thu dụng. Từ đó trở đi, giặc cướp
mới hết, dân cư nhờ thế mà được yên…" (Giá Sơn Kiều Oánh Mậu – Bản
triều bạn nghịch liệt truyện – Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn – 1963 –
trang 23).
Về bản thân nhà cai trị, cho dù là quan đại thần nhất phẩm triều đình,
ông luôn tỏ ra khắt khe, nghiêm cẩn với chính mình. Năm 1825, một viên
chức thuộc tào Binh tại Gia Định là Bùi Phụ Đạo lỡ tay đóng triện
ngược trong sổ binh dâng về triều, vua Minh Mạng giao cho đình thần
nghị xử, cho dù sơ suất đó không có gì là lớn lao. Được tin này, Tả
quân cho rằng đó là lỗi mình không trông nom nên dâng biểu xin nhận
tội. Vua Minh Mạng đã miễn trách và ban dụ rằng : "Duyệt là bậc đại
thần ở nơi bờ cõi, phàm trong hạt việc lợi thì làm, việc hại thì bỏ,
người có tài thì tiến lên, người không tài thì bãi đi, khiến quan lại
được xứng chức, nhân dân được yên nghiệp, như thế thì quan to sợ phép,
quan nhỏ giữ liêm, ai là không biết khuyên răn, phép làm cho quan lại
trong sạch như thế chẳng là đẹp tốt sao? Điều mà trẫm đòi ở Duyệt là ở
đó, mà Duyệt làm được xứng chức cũng là ở đó…" (Đại Nam thực lục – tập
2 – NXB Giáo Dục – 2004 – trang 464).
Nhận xét về ông, những lời lẽ trên của vua Minh Mạng tưởng là đã quá
đủ. Tinh thần trách nhiệm mà ông thể hiện đến nay vẫn còn có giá trị
thực tiễn cho hậu thế. Bản tính ông thẳng thắn và trung thực nên có
những việc làm không chính đáng của triều đình là ông phản ứng ngay.
Những năm 1826 -1827, triều đình lấy cớ hai viên chức người Pháp là
Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng) và Vannier (Nguyễn Văn Chấn) đã xin về
Pháp, không còn ai làm thông ngôn, yêu cầu các địa phương vận động
giáo sĩ Pháp về Huế đảm trách giúp việc này. Trong chức trách của
mình, Lê Văn Duyệt vận động hai giáo sĩ Gagelin và Odorico ra Huế;
nhưng không lâu sau, ông được biết việc tìm thông ngôn chỉ là cái cớ,
mục đích chính của triều đình Huế là giam lỏng hầu hết các giáo sĩ tại
kinh thành, trong đó có cả Giám mục Taberd.
Cảm thấy có trách nhiệm trong chuyện này, ông vội vàng cho sao một số
trong 14 bức thư mà chúa Nguyễn Ánh đã viết gửi cho Giám mục Bá Đa Lộc
cùng một số giáo sĩ và viên chức Pháp (để yêu cầu hỗ trợ đánh nhà Tây
Sơn) vào những thập niên cuối thế kỷ 18, rồi xin ra Huế bệ kiến nhà
vua. Sau một thời gian chờ đợi, ông được vua Minh Mạng cho về triều để
dự lễ lục tuần khánh tiết (mừng thọ 60 tuổi) của Thuận Thiên Hoàng
Thái hậu. Mấy tháng sau chuyến đi đó của ông, Giám mục Taberd và các
giáo sĩ được thả về địa phương.
Trong bức thư đề ngày 8.2.1828 đăng trên Tập san Truyền bá Đức tin
(tập IV), Giám mục Taberd đã viết về ông như sau:"…Ông xứng đáng được
người Pháp nhớ ơn…Ông được gọi là Thượng công, là người đầu tiên và
cũng là người duy nhất trong số các quan lại được nhà vua nễ sợ… Những
quan lại khác cũng rất yêu mến ông, bởi vì họ biết rằng ông là người
chính trực; bọn trộm cướp rất sợ ông vì chúng biết là rơi vào tay ông
sẽ bị chém đầu, mà không có hi vọng gì dùng tiền bạc để mua chuộc ông,
như đã mua chuộc nhiều người khác…." (Bulletin des Amis du Vieux Hue
số 1 năm 1926, trang 2-3)
* Về mặt giao dịch với lân bang, ông là người đã mang lại cho triều
đình Huế một uy tín lớn lao nhất trong con mắt các láng giềng. Năm
1813, trong lúc nội tình Chân Lạp (Campuchia ngày nay) rối ren, nước
Xiêm (Thái Lan) có ý mang quân sang thực hiện những ý đồ định sẵn, ông
thân hành dẫn hơn 13.000 quân đưa quốc vương Chân Lạp là Nặc Chân về
nước. Đến nơi, ông ban ngay quân lệnh nghiêm cấm cướp phá dân lành, vỗ
về trăm họ, quân Xiêm thấy thế vội rút về nước.
Từ đó, vua Chân Lạp xem triều đình Huế là chỗ dựa vững chắc trước sự
đe dọa của những lân quốc khác. Hàng năm, cứ vào chiều 30 Tết, quốc
vương Chân Lạp thân hành đến Sài Gòn để sáng mùng một Tết, cùng Tả
Quân Lê Văn Duyệt tới Hành cung trong thành Gia Định vọng bái hoàng đế
Việt Nam và sau đó ra Đồng Tập Trận (sau Pháp gọi là Plaine des
Tombeaux: Đồng mả mồ) xem binh sĩ thao diễn. Đó cũng là dịp để Tả quân
cho người lân quốc tỏ rõ sức mạnh quân sự của Việt Nam.
Tuy nhiên, không chỉ giao dịch với lân quốc trên thế mạnh, ông còn
biết hành xử hợp với lẽ phải ở đời. Có lần Chân Lạp mang tặng nước ta
80 con voi, ông thấy nước bạn còn nghèo, lại không thể không nhận voi,
nên tâu xin và được vua Gia Long cho xuất kho tặng lại họ một khoản
tiền tương xứng với số voi nhận về.. Vào thời ấy, các sứ bộ Việt Nam
đi sang Diến Điện (Miến Điện, nay là Myanmar) trở về kể rằng khi tiếp
sứ, quốc vương nước này vẫn thường bắt đầu cuộc nói chuyện bằng câu
hỏi :" Lê công có khỏe không?". Điều này cho thấy oai danh ông khiến
cả vùng Đông Nam Á nể phục.
*LÊ VĂN DUYỆT – ĐÔI NÉT VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG
Sử chép rằng Tả quân Lê Văn Duyệt là người tính tình bộc trực đến độ
ngang tàng. Năm 1800, trong một trận đánh, ông là Phó tướng của Nguyễn
Văn Thành, trước khi xung trận, Thành rót rượu mời ông:" Uống rượu để
thêm sức mạnh", ông từ chối thẳng thừng: "Ai tánh hay sợ mới uống rượu
để cho thêm sức mạnh, còn như tôi thời trước mắt coi không trận dữ,
cần chi phải uống rượu…" (Quốc triều chánh biên – Nhóm nghiên cứu Sử
Địa Sài Gòn – 1972 – trang 37). Ông Thành cả thẹn, từ đấy hai người ít
gần gủi nhau như trước.
Trong thời gian ông tại chức Tổng trấn Gia Định Thành, dinh cơ của ông
trải dài từ đường Thái Văn Lung ngày nay đến sau dinh Thống Nhất. Tư
thất phu nhân Tả quân, bà Đỗ Thị Phẫn (vốn là một cung nữ, được vua
Gia Long thưởng cho ông để làm bầu bạn), nằm trong khuôn viên dinh
Thống Nhất ngày nay. Vườn hoa nơi ông đến để ngắm hoa, người đương
thời gọi là Vườn Ông Thượng (thời Pháp thuộc là vườn Bồ-Rô, sau là
vườn Tao Đàn, nay là Công viên văn hóa thành phố) vì danh nghĩa Thượng
công là tiếng xưng hô phổ biến nhất trong dân gian.
Cuộc sống thanh đạm, bình dị của Tả quân được George Finlayson, một
thành viên trong phái bộ Crawfurd của Anh đến Sài Gòn năm 1822, miêu
tả trong một bút ký kể lại lần được diện kiến ông và được ông cho xem
trận voi hổ quyết đấu: ..."Tư thất của ông to lớn nhưng giản dị, cả
bên trong lẫn bên ngoài đều không có trang trí gì…Quan Tổng trấn ngồi
ở cuối phòng, trên một cái sập rất đơn giản, rộng khoảng 4 m2, có trải
chiếu và đặt một, hai chiếc gối tựa. Trên một cái sập thấp hơn, kê ở
phía trái, là chỗ ngồi của ông Phó Tổng trấn, một cụ già dung mạo tao
nhã, có lẽ tuổi đã quá thất tuần….Quan Tổng trấn, như lời thiên hạ kể,
là một hoạn quan, vẻ mặt của ông xác định điều đó. Ông vào khoảng 50
tuổi (năm 1822, ông Duyệt 59 tuổi – LN), có cái nhìn thông minh và một
vẻ năng động mạnh mẽ về thể chất lẫn tinh thần. Gương mặt ông tròn
trịa và hiền lành, không râu và có những nếp nhăn . Trang phục của ông
chẳng những giản dị mà còn có vẻ thiếu chăm chút, như áo quần của
những kẻ nghèo khổ nhất…"
*CHÚT HUYỀN SỬ VỀ TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT
Sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt qua đời vào tháng 7 âm lịch năm 1832,
trong con mắt người dân Sài Gòn – Gia Định xưa, ông là hiện thân của
sự oai linh và hiển hách. Năm 1835, cuộc nổi dậy do người con nuôi của
ông là Lê Văn Khôi và các tướng sĩ tại thành Phiên An khởi xướng bị
triều đình Huế đánh tan, dù mất đã lâu, ông vẫn bị triều đình khép vào
7 tội trảm (xử chém), 2 tội giảo (treo cổ), ngôi mộ ở lăng Ông ngày
nay bị xiềng lại và dựng tấm bia khắc tám chữ " Quyền yêm Lê Văn Duyệt
phục pháp xứ" (Nơi chịu tội của tên hoạn quan lộng quyền Lê Văn
Duyệt).
Sách Bản triều bạn nghịch liệt truyện kể rằng:"Mộ của Duyệt ở bên
thành Gia Định từ Minh Mạng năm 16 (1835) trở đi, những lúc trời âm u,
đêm yên tĩnh, có tiếng ma quỷ khóc than, hoặc tiếng ồn ào người ngựa;
dân cư nơi đó không dám lại gần, người đi đường đều dời lối khác để
tránh đi. Đến lúc ấy, vua sai quan địa phương đem giấu bỏ tấm bia và
cho con cháu tự ý sửa chữa ngôi mộ, thì tiếng ma quỷ trong ban đêm mới
dứt…"
(Sđd – trang 67, 69)
Những câu chuyện truyền tụng đó không có thật về mặt khoa học, nhưng
về mặt tâm linh, nó phản ảnh sự đồng cảm của cư dân đất Gia Định trước
nỗi oan khuất của một lão thần từng vào sinh ra tử, góp công lớn trong
việc xây dựng vương triều Nguyễn, nhưng chỉ vì sự u mê, hẹp hòi của
đấng quân vương mà sau khi mất rồi, vẫn còn bị đối xử như một kẻ tội
đồ …
****
VÌ SAO ĐÃ CÓ MỘT THỜI TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT ĐƯỢC COI LÀ NHÂN VẬT "CÓ VẤN ĐỀ"?
Năm 2009, trong một cuộc trả lời phỏng vấn của tạp chí Đương Thời số 4
(28), tháng 4.2009, trước yêu cầu trình bày quan điểm về các "nhân vật
phức tạp" Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, tôi đã trình
bày ý kiến về nhân vật Lê Văn Duyệt như sau:
" …- Những gì xảy ra trong quá khứ cho chúng ta thấy rằng các sự kiện
lịch sử, nhân vật lịch sử, thường được nhìn dưới nhiều lăng kính khác
nhau, song có một thứ lăng kính không bao giờ méo mó hay sai lạc, đó
là "lăng kính nhân dân". Sự tồn tại của lăng Tả quân Lê Văn Duyệt
(Lăng Ông Bà Chiểu), đền thờ Kinh lược sứ Phan Thanh Giản, sau nhiều
biến chuyển của thời cuộc, đã nói lên điều đó.
Có một thời, chúng ta quá "rạch ròi" trước cái tốt và cái xấu, cái gì
chúng ta cho là tốt thì tốt toàn diện, cái gì chúng ta cho là xấu thì
xấu triệt để. Nhưng lịch sử không có cái gì tuyệt đối cả. Chúng ta
đánh giá nhà Tây Sơn là "toàn diện" nên cái gì đi ngược lại, chống lại
quan điểm, sự tồn tại của nhà Tây Sơn thì đều là "phi nghĩa" hết. Nếu
bình tâm mà xét, bên cạnh chiến công hiển hách mà người anh hùng Quang
Trung Nguyễn Huệ đã lập được trong công cuộc chống ngoại xâm năm 1789,
nhà Tây Sơn sau năm 1792 chỉ còn là một bóng mờ của quá khứ, vua Cảnh
Thịnh còn quá nhỏ, không tạo được một dấu ấn nào, đại thần lộng quyền
làm điều xằng bậy, anh em trong nhà chống lại nhau…
Trong tình cảnh đó, sự sụp đổ của nhà Tây Sơn trước lực lượng quân sự
hùng mạnh của chúa Nguyễn Ánh là điều dễ hiểu. Cứ nhìn cách cư xử của
người dân Bắc hà đối với vua tôi Cảnh Thịnh trong bước khốn cùng (năm
1802) cũng thấy được điều này. Tôi cho rằng chính quan điểm coi nhà
Tây Sơn là "toàn diện" đã gián tiếp đưa những người từng góp công lớn
trong việc kết thúc triều đại này vào hàng ngũ "phản diện".
Lê Văn Duyệt là một ví dụ tiêu biểu. Khi cư xử với ông như vậy, người
ta quên rằng ông không dính dáng gì đến cuộc xâm lược của thực dân
Pháp, vì khi đó, ông đã mất gần 30 năm rồi; mảnh đất miền Nam trải dài
từ Bình Thuận vào đến Hà Tiên giặc cướp không dám nổi dậy, người dân
an cư lạc nghiệp, các lân bang hết sức tôn trọng triều đình Huế, là
nhờ có ông. Khi còn nhỏ, đi học gần lăng ông, tôi thường nhìn thấy rất
nhiều người Hoa đến đó thắp hương với tất cả niềm thành kính, và tôi
ngộ ra rằng lòng biết ơn của con người thật kỳ diệu, nó không phân
biệt quốc tịch, giai cấp hay những giá trị phù phiếm nào khác.
Tôi nghĩ rằng có lẽ cũng do quan điểm "toàn diện" trên, mà có một
thời, các chúa Nguyễn cũng được xếp vào hàng ngũ những kẻ "phản động
nhất trong lịch sử" và không ít người nhất định cho rằng triều Nguyễn
để mất nước là do đã bế quan toả cảng (đến nay vấn đề này vẫn còn
tranh cãi) và cấm đạo, cứ làm như thể nếu không có hai chính sách đó
thì thực dân Pháp sẽ khoanh tay ngồi yên để chúng ta duy trì sự độc
lập dài dài vậy. Sự chú tâm vào một quan điểm bảo thủ duy nhất khiến
đôi lúc chúng ta quên đi một yếu tố quá rõ ràng là hành động của thực
dân Pháp nằm trong khuôn khổ một kế hoạch tranh giành thuộc địa gay
gắt với thực dân Anh tại châu Á lúc bấy giờ; và vào giữa thế kỷ XVIII,
nghĩa là khoảng 100 năm trước ngày Pháp chiếm Việt Nam, theo đề xuất
của một lái buôn Pháp là Pierre Poivre, Chính phủ Pháp từng cử người
(Bá tước d'Estaing) mang quân đánh úp Phú Xuân của ta (cuộc hành trình
bị bỏ dở nửa chừng tại eo biển Malacca vì những nguyên nhân khách
quan).
Cuối cùng, chỉ xin nhớ một điều là năm 1558, khi Đoan Quận công Nguyễn
Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá thì giang sơn của ta chỉ mới đến Bình
Định ngày nay, nếu các chúa Nguyễn không có những chính sách nội trị
và ngoại giao sáng suốt, nếu đất nước không có những con người tài
năng và tâm huyết như Nguyễn Hữu Cảnh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thoại…
thì chúng ta không thể có được dải giang sơn kéo dài đến tận mũi Cà
Mau như bây giờ. Chỉ cần quên đi điều này, chúng ta đã biến mình thành
những kẻ vô ơn đối với người đi trước rồi…." (hết trích)
Đã hơn 16 năm qua rồi, song hẳn là những quan điểm ấy vẫn chưa phải là thừa!
Sài Gòn 17.10.2025
Lê Nguyễn
(có vài bạn, do trục trặc kỹ thuật, không tag được như mọi khi, xin thông cảm)

Comments

Popular posts from this blog

PI IS NOT FREE MONEY

Đôi lời gởi tới các bạn Pioneers, Vốn dĩ mình đã ở ẩn từ lâu từ sau vụ PNG , Trang Trại Pi Nodes , CVG 314k vừa ngu vừa ngáo quá thắng thế thành công tẩy não cộng đồng Pioneers và khiến cộng đồng luôn mang tư duy Pi lên sàn phải có giá cao để bán ( xả ) Pi để lấy tiền tiêu nên kể từ đó đến giờ 2 năm mình chọn ở ẩn và chẳng quan tâm tới các cộng đồng ngáo đá nữa . Nay có một thằng em FB hỏi thăm về Pi và mang hy vọng Pi có trong danh sách Quỹ Dự Trữ Chiến Lược Kỹ Thuật Số ( Strategic Crypto Reserver - SCR ) của Tổng Thống Trump ngày 7 tháng 3 sắp tới nên mình có đôi đều phải nói rõ cho các bạn hiểu . Thứ nhất : Quỹ Dự Trữ Chiến Lược Kỹ Thuật Số là sáng kiến mang lại cho Dân Mỹ , giúp trả nợ công và đặt nước Mỹ là trên hết , nên các bạn đừng có mơ tưởng hay tư tưởng ăn bám vào tiền thuế của dân Mỹ như nhóm PNG , CVG . Nước Mỹ bây giờ không còn như ngày xưa luôn lo chuyện bao đồng rồi nhận lại là sự phản bội của các nước được nước Mỹ giúp . Nước Mỹ bây giờ là nước Mỹ của DÂN MỸ ! Pi Netw...

​Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế

Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế… Người ấy không hỏi nhiều, không kể lể, chẳng tranh phần đúng, cũng chưa từng đòi phần hơn. Nhưng lạ lắm – cứ mỗi lần nhà có chuyện, thì chính người ấy lại là người đầu tiên chao đảo. Khi ai đó gặp hạn, người ấy lại ốm. Khi cả nhà cùng lo âu, người ấy lại gánh thêm những điều chẳng ai thấy. Không phải vì người đó yếu. Mà bởi trời đất đôi khi có một cách sắp đặt kỳ lạ: Để một người chịu nhiều hơn một chút – Để những người còn lại, được bình yên hơn một chút. co là con út trong một gia đình năm người. Chị gái lấy chồng xa, anh trai có công việc ổn định, bố mẹ vẫn khỏe mạnh ở tuổi về chiều. Chỉ riêng Co – đi đâu cũng lận đận, làm gì cũng va vấp. Đã có lúc, cô ngồi một mình và hỏi: "Hay là mình là đứa gánh nghiệp cả nhà?" Và rồi cô để ý – rất rõ – Mỗi lần trong nhà có người gặp chuyện: mẹ ốm, bố té xe, hay chị gái buồn bực chuyện chồng con… Thì chỉ vài hôm sau, Linh lại là người "đón hạn": xe hư, mất việc, hay bỗng dưng té ...

Khủng hoảng kinh tế 2008 và các sói già phố Wall

  Có lẽ nhiều người đã biết khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 xảy ra do bong bóng thị trường cho vay mua nhà (mortgage) của Mỹ sụp đổ, khi hàng loạt người có điểm tín dụng xấu – không có khả năng chi trả nợ - được cho vay mua nhà (subprime mortgage). Thời điểm 2000-2007, việc 1 người có thể sở hữu 2-3 căn nhà là hoàn toàn bình thường nhờ vay tiền từ các tổ chức tín dụng. Đến 1 thời điểm, khi người mua nhà không còn khả năng phát chi trả nợ, bong bóng này chắc chắn sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, việc tín dụng xấu có thể tồn tại trong 1 thời gian dài và tạo nên ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới chắc chắn không chỉ phụ thuộc vào những người có tín dụng xấu. Từ 1 đống rác, mortgage tín dụng xấu đã được hô biến thành 1 món hàng cực kỳ uy tín và chất lượng, tóm gọn lại trong hai yếu tố: 1. Biến subprime mortgage thành 1 sản phẩm hoàn toàn mới 2. Dát vàng cho sản phẩm mới này 1 trò chơi hoàn hảo đã được bày ra bởi các sói già phố Wall. Thay đổi nhận diện Yếu tố thứ...