Skip to main content

Trần đức Thảo

CHỦ NGHĨA MÁC CỦA NGƯỜI VIỆT, BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN, VÀ CHÍNH TRỊ HỌC VỀ KÝ ỨC HẬU THUỘC ĐỊA: TRẦN ĐỨC THẢO, 1946-1993 [Kỳ 1/2]

Shaw McHale 

Nguyễn Trung Kiên dịch

Các chủ đề về chủ nghĩa dân tộc và cách mạng chiếm một vị trí quan trọng trong bộ môn nghiên cứu về châu Á sau năm 1945. Không ở đâu mà điều này rõ ràng hơn là ở Việt Nam: xét cho cùng, cuộc Kháng chiến chống Pháp (1946-54), sau đó là cuộc Kháng chiến chống Mỹ và đồng minh (1965-75), đã định hình lịch sử Việt Nam hiện đại. Trong thập niên 1950 nói riêng, các nhà nghiên cứu về Việt Nam đã phát triển một quan điểm trong đó những người cộng sản dân tộc ở miền Bắc đã củng cố quyền lực của họ, dù trải qua các cuộc khủng hoảng nhưng vẫn ngày một lớn mạnh. Quan điểm này có rõ ràng là có giá trị. Tuy nhiên, nó có thể khiến người quan sát cảm thấy rằng chủ nghĩa cộng sản Việt Nam rất vững chắc, được tôi luyện bởi nhiều năm đấu tranh, và chắc chắn sẽ chiến thắng. Ba đặc điểm này tràn ngập trong các công trình của các nhà nghiên cứu. Đầu tiên, họ hạ thấp sự đa dạng trong thế giới quan của người Việt trong những thập 1940 và 1950. Thứ hai, họ thường không nhận thức được về những điều ngẫu nhiên và sự tình cờ. Và thứ ba, người đọc ngày nay thường không nhận thức được rằng mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại lại sâu sắc đến như thế nào. Quá khứ đã và đang gây tranh cãi: cuộc tranh luận vào thập niên 1950, nơi các nhà chính trị cuối cùng đã chiến thắng trong một cuộc tranh luận mở, đã để lại những hồ sơ lịch sử đầy rời rạc và thiên vị. Hiện tại cũng có không ít vấn đề: mối quan tâm đương đại đã định hình lại ký ức và cấu trúc lại sự đánh giá về quá khứ của chúng ta.

Bài tiểu luận này giải quyết mối thách thức [trong nghiên cứu] về thập niên 1950 tại Việt Nam, bằng cách tập trung vào một người vốn đã không thành công trong việc phê phán Đảng Lao động Việt Nam: nhà triết học Trần Đức Thảo. Thảo là một trong những người Việt Nam xuất sắc nhất của thế hệ sau năm 1945. Ban đầu vốn bị cuốn hút bởi hiện tượng học Husserl khi còn là một sinh viên ở Pháp, cuối cùng ông đã chuyển sang chủ nghĩa Mác. Trong ngôi đền thiêng của các trí thức hậu thuộc địa, những suy ngẫm mang tính hiện tượng học rất ngắn gọn của Thảo về chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa dân tộc có thể so sánh với các tác phẩm của Frantz Fanon và Aimé Césaire. Các tác phẩm của ông về chủ nghĩa Mác phản ánh nỗ lực nghiên cứu sâu sắc nhất về chủ nghĩa này so với bất kỳ học giả Việt Nam nào trong thế kỷ XX. Sau khi trở về Việt Nam năm 1951, Thảo đã dám chỉ trích Đảng năm 1956 (trong thời gian được gọi là vụ Nhân Văn-Giai Phẩm), một hành động khiến Đảng buộc ông phải câm lặng tại Việt Nam gần ba thập niên sau đó. Ông sang Pháp để chữa bệnh, và qua đời tại đó vào năm 1993.

Cái tên Nhân Văn-Giai Phẩm được hình thành hai ấn bản định kỳ, báo Nhân Văn và tạp chí Giai Phẩm, nơi xuất bản các bài tiểu luận, tác phẩm văn học và biếm họa nhằm phê phán sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1956. Những chỉ trích này xuất phát từ sự lên án của cách trao một giải thưởng văn học và biến thành các phê phán đối với sự thiếu các quyền tự do dân chủ ở trong nước và trong Đảng. Trần Đức Thảo đã đóng góp hai bài viết chỉ trích Đảng trên báo Nhân Văn [và tạp chí Giai phẩm (ND)]. Phong trào này rõ ràng là tương đồng với phong trào Trăm hoa ở Trung Quốc; hay rộng hơn nữa, phong trào này có thể được coi là một phần của cuộc khủng hoảng trong thế giới cộng sản sau khi Stalin qua đời và sự lên án tình trạng sùng bái cá nhân của Khruschev vào tháng 2 năm 1956. Trong khi một số văn nghệ sĩ Việt Nam tìm thấy cảm hứng từ sự bùng nổ chỉ trích ở Trung Quốc và Liên Xô, họ cũng phản ứng với sự bất ổn tràn lan, vốn đã xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1954. Đảng Lao động [Việt Nam] đã đàn áp phong trào này bởi nó sợ hãi một dân chủ mà không có sự lãnh đạo vững chắc [của Đảng]. Tuy nhiên, phong trào bất đồng chính kiến kéo dài đến năm 1958, cho đến khi Đảng giành lại quyền kiểm soát của mình thông qua một chiến dịch chống lại "chủ nghĩa xét lại". Vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, mặc dù về mặt kỹ thuật đề cập đến những tranh cãi  trên hai ấn phẩm định kỳ [Nhân văn & Giai phẩm (ND)], dù sao cũng đã trở thành biểu tượng cho sự bất đồng chính kiến nhằm phê phán chế độ nói chung vào giữa thập niên 1950.

Các nhà nghiên cứu đã không đi đến thống nhất về mối quan hệ của vụ Nhân văn-Giai phẩm đối với các vấn đề lớn hơn về lịch sử của giới trí thức và lịch sử chính trị Việt Nam. Họ mô tả sự việc này như một sự kiện văn học, tập trung vào yêu cầu Đảng Lao động cho phép các nhà văn tự do suy nghĩ và xuất bản mà không cần kiểm duyệt nặng nề. Đối với một số nhà phân tích, vụ này là một bước ngoặt của giới trí thức, một thời gian trước khi hệ thống Nhà nước-Đảng đàn áp phong trào bất đồng chính kiến, và trên cơ sở đó định hình một đời sống trí thức Việt Nam bị đàn áp cho đến thập niên 1980 và cả sau đó. Những người khác, chẳng hạn như Bùi Tín, đã nói [thật đáng tiếc!] rằng vụ Nhân văn-Giai phẩm có ít tác động ra bên ngoài môi trường của giới trí thức. Georges Boudarel và Kim Ninh đã vượt qua sự khảo sát quá kỹ lưỡng về các sự kiện năm 1956 bằng cách khẳng định tầm quan trọng của chúng trong sự phát triển lâu dài của các phong trào bất đồng chính kiến sau này. Ví dụ, Boudarel lưu ý sự bất đồng chính kiến đó không chỉ bắt nguồn từ những trí thức bên lề mà còn trong các lực lượng vũ trang và cả trong Đảng (1991, 87-88). Và một nhà nghiên cứu khác, Patricia Pelley, đã hoàn toàn phớt lờ vụ Nhân văn-Giai phẩm trong việc phác họa những bất đồng quan điểm mạnh mẽ xuất hiện trong các nghiên cứu về lịch sử của thập niên 1950. Do đó, cô ngầm chỉ trích ý kiến cho rằng năm 1956 là thời điểm mâu thuẫn duy nhất. Các học giả nói chung đã bỏ qua các bài phê phán Đảng trên bình diện chính trị [được biết đến] rộng rãi, do một số người tham gia chấp bút, trong đó có Trần Đức Thảo.

Xem lại những tranh luận [của các nhà nghiên cứu (ND)] về giai đoạn này, tôi phát hiện ra ba điều. Đầu tiên, sự tập trung quá nhiều vào các sự kiện của năm 1956 đã che khuất hoàn cảnh [lịch sử] của một cuộc đối thoại trí tuệ kéo dài hơn hai thập kỷ. Trên thực tế, những lời kêu gọi tự do dân chủ là sản phẩm của các phê phán của những người cộng sản đối với chế độ thuộc địa trong thập niên 1930, và Việt Minh đã từng hứa hẹn sẽ tôn trọng tự do tư tưởng vào năm 1945. Thứ hai, phong trào Nhân văn-Giai phẩm, và vai trò của Trần Đức Thảo trong phong trào này, có thể được xem như một cuộc đụng độ với xu thế ủng hộ các xu hướng hiện đại. Các học giả chính [của phong trào] bao gồm Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Mạnh Tường đã phớt lờ, gạt ra ngoài lề hoặc tấn công các di sản "phong kiến" và "lạc hậu" trong quá khứ như Phật giáo và Nho giáo. Đồng thời, họ phác thảo một tầm nhìn hướng tới tương lai, trong đó tư duy khoa học và công nghệ được viện dẫn để định hình và biến đổi xã hội. Đảng Lao động đại diện cho một biến thể của tầm nhìn này, trong đó một nhà nước độc tài sử dụng toàn bộ quyền lực cưỡng chế của mình cho những mục đích như vậy. Cuộc đụng độ của các mô hình, về cơ bản là một cuộc đấu tranh ý thức hệ, đã xảy ra khi miền Bắc Việt Nam vẫn còn tồn tại một không gian công, dù sự tồn tại này vẫn gây tranh cãi. Giải pháp của cuộc đụng độ này đã định hình quỹ đạo của đời sống của giới trí thức và và của nền chính trị Việt Nam trong những thập niên sau đó.

Tuy nhiên, nếu bài tiểu luận này chỉ quan tâm đến cuộc đấu tranh hướng tới xu thế hiện đại và những giải pháp của nó, thì những phát hiện của bài tiểu luận này có thể chỉ được quan tâm ở mức hạn chế. Vì vậy, bài tiểu luận này cũng đề cập đến vấn đề khá rắc rối về diễn tả quá khứ như thế nào. Khi vụ Nhân văn-Giai phẩm năm 1956 lùi xa hơn vào quá khứ, nó ngày càng, từ một sự kiện, trở thành một phép ẩn dụ và một ký ức (mượn cách diễn giải của Shahid Amin) (Amin 1995). Nội dung của nó đã bị biến dạng. Các tài liệu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau năm 1956 mô tả đặc điểm của sự kiện này như âm mưu "phản cách mạng", nhưng lại tránh đi sâu vào các sự kiện. Các nhà văn Việt Nam ở nước ngoài thường áp đặt vấn đề chống cộng vào sự kiện này, như nhà phê bình văn học hải ngoại Nguyễn Hưng Quốc tuyên bố rằng các tác giả tham gia Nhân Văn-Giai Phẩm nhằm mục đích "vạch trần mặt trái, mặt xất xa, mặt độc tài độc tài của chủ nghĩa xã hội" (Nguyễn Hưng Quốc 1996, 151-52). Những bình luận như vậy thật khó hiểu, vì một số người tham gia chính trong phong trào này, như Đào Duy Anh, Trương Từu, Nguyễn Hữu Đăng, và Trần Đức Thảo, mặc dù chỉ trích Đảng nhưng lại ủng hộ chủ nghĩa xã hội. So với những người ngoài cuộc, họ chỉ khác nhau về mặt cảm xúc, và một số người cũng tấn công chủ nghĩa độc đoán và chủ nghĩa giáo điều.

Trong cuộc bể dâu rộng lớn của lịch sử sau năm 1945, vụ Nhân văn-Giai phẩm đã sống bên lề của nhận thức lịch sử của người Việt. Vụ việc này bị lu mờ bởi các sự kiện như sự phân chia đất nước, sự trỗi dậy của nhà độc tài Ngô Đình Diệm ở miền Nam, và cuộc chiến tranh đang dần trở nên ác liệt. Tuy nhiên, hẹp hơn về phương diện chủ đề đối với các đề tài liên quan đến phong trào bất đồng chính kiến và lịch sử giới trí thức, phong trào này lại trở thành tâm điểm chú ý theo một cách đặc biệt nhất. Trong nhiều ý nghĩa, vụ Nhân văn – Giai phẩm tồn tại trong ý thức lịch sử Việt Nam chỉ như một phép ẩn dụ và một ký ức tách biệt với tính thực tế của sự kiện. Đối với một số người, đó là một âm mưu chống xã hội chủ nghĩa; đối với những người khác, đó là một ví dụ mẫu mực về sự đàn áp tự do của chủ nghĩa cộng sản. Bị chìm vào các câu chuyện bị ấn định trước [về nội dung], phong trào này đã đóng tròn vai mà nó được giao.

Bài tiểu luận này sẽ giúp cho phong trào này thoát khỏi những câu chuyện bị ấn định trước như vậy, và quan sát nó từ hành trình trí tuệ của Trần Đức Thảo, [do đó nó] phải đối mặt với những mảnh ký ức và ẩn dụ như vậy. Không dễ để xác định sự thật chính xác về quá khứ này. Một khó khăn là, rất nhiều bản tự phê bình [của các nhân vật tham gia phong trào] xuất phát từ sự kiện này sẽ hình thành nên một cách nhìn nhận về lịch sử của phong trào: chế độ đã buộc hầu hết những người tham gia phải thú nhận với "hành vi sai trái" của họ. Làm thế nào chúng ta có thể sử dụng các văn bản như vậy, cũng như các bằng chứng lịch sử sau này của các sự kiện này dựa trên các bản tự phê bình đó? Thứ hai, những ký ức về phong trào đã được xuất bản trong những năm gần đây. Tình trạng của những ký ức như vậy là gì, và chúng có đáng tin cậy hơn các văn bản tự phê bình kia không? Cuối cùng, bản thân Trần Đức Thảo đã đưa ra một số bình luận khó hiểu về vụ việc này vào năm 1984. Chúng ta phải làm gì với những tuyên bố này, và cụ thể là có đúng là ông không đồng ý với những quan điểm được đưa ra vào năm 1956? Để tạo tiền đề cho việc trả lời những câu hỏi như vậy, bài tiểu luận này hiện đang phác thảo những chi tiết ban đầu của cuộc đời Trần Đức Thảo, liên kết chúng, khi có liên quan, với những bước phát triển [của phong trào Nhân văn-Giai phẩm] ở Việt Nam.

TRẦN ĐỨC THẢO VÀ VIỆT NAM: HÀNH TRÌNH CỦA MỘT CÁ NHÂN VÀ MỘT QUỐC GIA 

Trần Đức Thảo sinh năm 1917.(5) Ông học trường Pháp từ khi lên 5 tuổi, đỗ bằng tú tài năm 17 tuổi, và sau đó mới bắt đầu học để thành thạo chữ quốc ngữ. Sau một năm theo học tại Khoa Luật của Đại học Hà Nội, ông tới Pháp vào năm 1936. Ông học tại Trường Sư phạm phố Ulm nhận bằng Thạc sĩ Triết học vào năm 1943 với luận văn về nhà hiện tượng học Husserl. 

Thảo bắt đầu tham gia các hoạt động chính trị chống chủ nghĩa thuộc địa từ năm 1944. Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1945, chính quyền Pháp đã bỏ tù Thảo vì [ông trở thành] mối đe dọa "đối với an ninh của quốc gia Pháp". Trong cùng thời gian, Paris bắt đầu lưu ý đến chàng trí thức đầy triển vọng này, một chàng tuổi trẻ đến từ Việt Nam, vốn là sinh viên của Merleau-Ponty. Những nỗ lực khám phá hiện tượng học và chủ nghĩa Mác của Thảo bắt đầu được chú ý. Ông tham gia tạp chí Les Temps Moderns [Thời hiện đại] cùng với Sartre và Merleau-Ponty, một tạp chí cực kỳ có ảnh hưởng tại Pháp sau chiến tranh. Năm 1948, Thảo đã viết cho tạp chí này một bài báo về nhà triết học Pháp gốc Nga nổi tiếng, Alexandre Kojeve, trong đó ông chứng tỏ sự vượt trội của Marx so với Hegel. Cùng với những Việt kiều khác ở Pháp, như nhà thơ Phạm Huy Thông, Thảo vận động ủng hộ cách mạng Việt Nam. Ví dụ, ông đã viết các bài về chủ nghĩa thực dân và Đông Dương cho tờ Les Temps modernes. Howard Davies đã gọi Trần Đức Thảo là "thủ lĩnh" của phong trào chống lại chủ nghĩa thực dân của tờ tạp chí này, thậm chí cho rằng Albert Memmi và Frantz Fanon là "những người bắt chước Thảo nổi bật nhất". (Davies 1987, 19-20)

Sự ủng hộ của Trần Đức Thảo dành cho các hoạt động chống chủ nghĩa thực dân là kết quả trực tiếp của các thay đổi quan trọng đang diễn ra tại Đông Dương vào thời điểm đó. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, qua đó Việt Minh tạm thời giành quyền lực từ Nhật Bản và Pháp vào cuối Thế chiến II, đánh dấu một bước ngoặt trong quan hệ Pháp-Việt. Cuộc nổi dậy này cũng là một bước ngoặt đối với nhiều trí thức: sau năm 1945, một nhóm thiểu số đáng kể trong số họ (bao gồm Trần Đức Thảo) bắt đầu suy nghĩ lại về sự gắn kết đầy đam mê của họ với tư tưởng phương Tây. Các nhà cách mạng như Hoài Thành, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu và Đào Duy Anh kêu gọi một "nền văn hóa [Việt Nam] mới" không phải là con tin của nền văn hóa Pháp. Tuy vậy, kết quả ban đầu rất ấn tượng. Trương Tửu đã sớm phàn nàn về sự ít ỏi của các tác phẩm văn học giá trị (Truong Tuu, 1946). Đến năm 1949, Phạm Huy Thông, vốn đang cố gắng cứu vãn điều gì đó tích cực trong các thành tựu văn hóa sau chiến tranh, đã tôn vinh những đặc điểm, ví dụ như sự chân thành, của nền văn học mới (Phạm Huy Thông 1949, 24).

Mặc dù có những bước đi sai lầm ban đầu, nhưng có lẽ không phải là cường điệu khi nói rằng những người trí thức đã "lột xác" chính họ trong giai đoạn này, khi họ đấu tranh để thể hiện một vai trò mới của mình trong một Việt Nam đang theo đuổi chủ nghĩa dân tộc một cách mãnh liệt. Lúc đầu, sự thay đổi này diễn ra dưới sự chỉ đạo của Đảng tương đối lỏng lẻo, nhưng từ năm 1948 hoặc 1949 trở đi, Đảng đã siết chặt hơn đời sống của giới trí thức. Lần đầu tiên, tư tưởng và thực tiễn Mao-ít bắt đầu có tác động nặng nề đến Việt Nam. Tại Đại hội Đảng lần thứ Hai, diễn ra từ ngày ngày 11 đến 17 tháng 2 năm 1951, Đảng Lao động mới tuyên bố rằng "Kinh nghiệm của Việt Nam thực sự là một bằng chứng cho việc áp dụng hệ tư tưởng của Mao Trạch Đông" (Furuta 1992, 159). Những người cộng sản nổi tiếng như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Văn Hoan đã đẩy mạnh đường lối Mao-ít.

Trong thời kỳ này, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã viện trợ rất nhiều cho Việt Minh. Sự viện trợ này bao gồm súng trường, một sư đoàn pháo binh và công binh, và một nhóm Cố vấn quân sự Trung Quốc - bao gồm các sĩ quan cao cấp vốn đã giúp Việt Minh lên kế hoạch cho tất cả các trận đánh lớn chống lại quân đội Pháp. Phim ảnh và xuất bản phẩm Trung Quốc tràn ngập, một lượng lớn sinh viên Việt Nam đến Trung Quốc và người Việt Nam thậm chí còn mặc áo đại cán kiểu Mao. Tại thời điểm này, người Pháp thậm chí còn thu thập các báo cáo không được chứng thực rằng các nhà cách mạng nổi tiếng như Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai đã bị nghi ngờ vì ngả theo khuynh hướng"Trotskyist", đã bị quản thúc, và thậm chí có thể bị khai trừ khỏi Đảng.

Sự tiếp tục của cuộc kháng chiến và ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc đã giúp thay đổi đời sống của giới trí thức. Hai ví dụ sẽ minh họa những thay đổi từ những năm 1930 trở đi. Năm 1939, Xuân Diệu, một người mến mộ thơ Baudelaire, đã thách thức lời tuyên bố "văn học An Nam phải có một nhân vật An Nam" bằng cách hỏi lại: "Chúng ta có cần đóng tất cả các cảng biển, tuyệt đối cấm mọi liên lạc, đóng cửa toàn bộ đất nước?! Bảo tồn không có nghĩa là đi lang thang xung quanh một hồ nước tù đọng" (Xuan 1939, 9). Tuy nhiên, đến thập niên 1950, Xuân Diệu đã lột xác thành một nhà thơ của cách mạng, đầy tinh thần dân tộc chủ nghĩa, và đã bỏ lại chủ nghĩa lãng mạn hư vô của mình. Nhà phê bình văn học Hoài Thành trải qua một sự chuyển đổi tương tự. Năm 1942, ông và Hoài Chân viết, trong một cuốn sách vẫn còn nổi tiếng ở Việt Nam [cuốn "Thi nhân Việt Nam" (ND)], rằng "phương Tây ngày nay đã thâm nhập vào phần sâu nhất của tâm hồn chúng ta" (Hoài Thanh & Hoài Chân 1985, 11). Vào giữa những năm 1950, Hoài Thành đã phủ nhận con người thời trẻ của mình, một người từng tôn vinh cái tôi cá nhân, hướng về phương Tây và tôn vinh sự lãng mạn, và lột xác bản thân mình như thể là một con người bắt nguồn từ quần chúng. Cả Xuân Diệu và Hoài Thành, vốn từng trải qua những ảnh hưởng lãng mạn và mang đặc tích Pháp thái quá, nay đã tận tâm phục vụ "cách mạng", nhân dân và Đảng.

Trần Đức Thảo đã không thể tham gia trực tiếp vào những biến đổi này, vì ông đã theo dõi các sự kiện đầy kịch tính ở Việt Nam từ nước ngoài. Tuy nhiên, vào năm 1951, ông phải đứng trước ngã tư đường để đưa ra lựa chọn, về trí tuệ và về mặt đời sống cá nhân. Một mặt, ông đã khẳng định danh tiếng của mình ở Pháp như là một nhà triết học mới mẻ, quan trọng và thú vị khi ông xuất bản tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Cuốn sách, trở nên khá nổi tiếng trong triết học châu Âu, cuối cùng đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Nhật. Nhưng đến cuối năm 1951, do không yên tâm khi chỉ ủng hộ Việt Nam từ xa, Thảo trở về tổ quốc để góp phần xây dựng một quốc gia cách mạng Việt Nam.

Khi về đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thảo đã chứng kiến một đất nước được thay đổi đáng kể so với các thập niên 1930 và 1940. Các truyền thống văn hóa và xã hội đã từng rất quan trọng, như Nho giáo và Phật giáo, dường như đã đột ngột mờ dần khỏi đời sống của đất nước. Nhà nước hậu thuộc địa hiện diện với quy mô lớn hơn nhiều trong cuộc sống của người dân so với nhà nước thuộc địa chỉ mới mười lăm năm trước. Các khái niệm của chủ nghĩa cộng sản thấm đẫm trong các diễn ngôn. Tất nhiên nên thận trọng khi kết luận rằng các lực lượng xã hội và các thế giới quan khác đã đơn giản biến mất; tuy nhiên, rõ ràng là Việt Minh đang xâm nhập vào các lĩnh vực văn hóa và chính trị.

Trần Đức Thảo về đến miền Bắc [Việt Nam] ngay khi các trí thức bắt đầu tham gia vào các phong trào chỉnh huấn. Như Phong mô tả sự tham gia của trí thức vào các buổi tự phê bình như sau:

Các nhà thơ Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, và Tú Mỡ, tất cả những người có tên tuổi đã được người dân Việt Nam biết đến trong mười hoặc thậm chí hai mươi năm, nhiệt tình hơn bất kỳ ai khác, sau khi hoàn thành khóa học chỉnh huấn tư tưởng của họ, trong việc phê bình tất cả tác phẩm mà họ đã sáng tác trước ngày vào Đảng. Tất cả những nhà thơ này đều tuyên bố một cách ồn ào rằng những bài thơ mà mọi người đã ca ngợi ngày xưa, thật ra, không khác gì những sản phẩm của một nền văn hóa suy đồi. (Như Phong Lê Văn Tiến) 1962, 78)

Như Phong khẳng định rằng nhà nước đã xuất bản "hàng chục ngàn" bản tập hợp các lời tự phê bình của các nhà văn này, rồi phân phát chúng cho các cán bộ và những người khác để nghiên cứu (1962, 78). Thông qua kinh nghiệm tự phê bình, giới trí thức đã xoay sở để thu mình lại trong một ánh sáng mới. Tự coi mình là một phần của cuộc cách mạng, họ tuyên bố từ bỏ quá khứ thuộc địa cũ của chính mình.

Trần Đức Thảo đã nhiệt tình tham gia quá trình chỉnh huấn và tự phê bình này. Ông tham gia lớp "chỉnh huấn" do nhà văn Tô Hoài lãnh đạo vào mùa đông 1951-19252, thời điểm người Việt Nam vừa mới áp dụng các thực hành tự phê bình kiểu Mao-ít trên phạm vi rộng. Lớp học của Hoài gồm có trí thức và nghệ sĩ gồm Phan Khôi, Tú Mỡ, Văn Cao, Nguyễn Công Hoan, và Trần Đức Thảo (Tô Hoài 1992, 111-12). Trần Đức Thảo, mới đến từ Pháp, đã từ bỏ trang phục phương Tây và háo hức mặc một bộ quần áo màu nâu trơn của nông dân. Ông nhận nhiệm vụ của mình một cách nghiêm túc:

Thảo đem cho hết đồ Tây, Thảo mặc áo nâu, đi chân đất. Chúng tôi ngủ không màn, mặc dầu chúng tôi ở rừng đầu sông Lô, đêm đến muỗi nhiều như trấu. "Về muộn mà, tớ phải luyện tập gian khổ cho kịp với các cậu". Trần Đức Thảo nói đứng đắn thế. Chẳng bao lâu, Thảo lăn đùng ra sốt rét xanh tái…" (Tô Hoài, 1992, 113).

Câu chuyện này nhấn mạnh sự ngây thơ ban đầu của Trần Đức Thảo cùng với mong muốn chân thành để thoát khỏi thói quen tư sản phương Tây và đắm mình vào [cách mạng] Việt Nam. Sau khi hoàn thành khóa học chỉnh huấn, Trần Đức Thảo trở về công việc học thuật. Ông là một trí thức có tầm vóc lớn. Ông ngay lập tức bắt đầu xuất bản các bài báo về Việt Nam cho tạp chí lịch sử mới Văn-Sử-Địa và được cho là đã viết ít nhất một cuốn sách. Thảo, một giảng viên sáng lập của trường đại học quốc gia (thành lập năm 1956), trở thành Trưởng khoa Lịch sử.

Nỗ lực theo đuổi trí tuệ của Thảo đã chỉ ra, một cách rộng hơn, cái cách mà Đảng Lao động đã cố gắng huy động giới trí thức để phục vụ nhà nước, đồng thời, phát triển một nền văn hóa hậu thuộc địa thực sự trong đó chủ nghĩa Mác đóng vai trò then chốt. Nỗ lực này đã tăng tốc sau năm 1954 ở miền Bắc khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập các tổ chức nghiên cứu (như Viện Sử học) để viết lịch sử và dân tộc học tập trung vào Việt Nam mà không bị giam cầm trong nền học thuật thuộc địa Pháp. Bộ Văn hóa và Đảng Lao động khuyến khích các diễn ngôn và thực tiễn văn hóa mới vốn sẽ giúp xây dựng một nền văn hóa hậu thuộc địa: các phong trào văn học dựa trên ý thức hệ, sự tự phê bình, và sự vận động mạnh mẽ cho chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học đều chứng minh cho mong muốn của Đảng để định hình lại các lĩnh vực văn hóa chính trị.

Sau đó, trong giai đoạn 1954-56, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị kéo theo hai hướng. Một mặt, ảnh hưởng của Đảng ngày càng trở nên sâu sắc thông qua các chiến dịch cải cách ruộng đất, và sự phổ biến nói trên của các hoạt động chỉnh huấn và nghiên cứu ý thức hệ theo chủ nghĩa Mao-ít. Đảng cho rằng chỉ riêng giáo điều của chủ nghĩa Mác - Lênin là không đủ. Như một văn bản năm 1955 đã chỉ ra: 

Kết hợp nghiên cứu lý thuyết của Marx, Engels, Lenin và Stalin với nghiên cứu kinh nghiệm của quần chúng: đó là đường lối lãnh đạo của đồng chí Mao Trạch Đông. Đó là "sự thống nhất giữa những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cụ thể của cách mạng Trung Quốc" mà đồng chí Mao Trạch Đông đã nói. (Trần Bá Đạt 1955, 71)

Những tuyên bố như vậy ủng hộ kết luận rằng ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao và quyền lực của Đảng lên đến đỉnh điểm trong giai đoạn này.

Nhưng Trung ương Đảng có thực sự kiểm soát được? Mặc dù rất quan tâm đến chủ nghĩa Mao, và mặc dù chiến thắng thực dân Pháp vào năm 1954, người Việt Nam bắt đầu bày tỏ sự khó chịu và phản đối Đảng. Một bộ phận quan trọng của tầng lớp trí thức cấp tiến nhấn mạnh quyền và trách nhiệm của các cá nhân và quyền tự chủ của giới trí thức. Trong cuộc kháng chiến (1946-54), nhiều người Việt Nam đã chấp nhận đường lối Việt Minh. Như học giả yêu nước Phan Khôi đã lưu ý (với một số cường điệu), trong những năm kháng chiến, "dường như không có ai gặp rắc rối" bởi các chính sách văn hóa của đảng, cũng như "quần chúng" và lãnh đạo là một. Ông tuyên bố, điều này đã thay đổi sau năm 1954: những sai lầm trong cải cách ruộng đất đã gây ra sự bất đồng chính kiến ở tất cả các tầng lớp trong xã hội (1957, 9).

Vào ngày 7 tháng 5 năm 1956, lần đầu tiên, các nhà lãnh đạo của Đảng thừa nhận rằng họ đã phạm sai lầm trong việc tiến hành cải cách ruộng đất. Theo người phụ trách quá trình này, những sai lầm này đã dẫn đến việc thanh trừng 3/4 các hạt nhân cộng sản ở nông thôn và xử bắn từ 15.000 đến 45.000 nghi phạm. Nhưng nếu giới lãnh đạo của Đảng bắt đầu chấp nhận một số trách nhiệm, Georges Boudarel đã mô tả các giải thích này là "sự chiến thắng của uyển ngữ, thiếu trung thực, và cuối cùng, trở nên vô nghĩa" (Boudarel 1991, 255). Đến tháng 7 năm 1956, Tướng Nguyễn Chí Thanh đã chú ý đến thắc mắc đáng lo ngại trong các đơn vị quân đội. Tướng Thanh nói rằng các đơn vị quân đội đã dân chủ hơn khi cho các sĩ quan và chiến sĩ của mình bày tỏ những thắc mắc của họ. Tuy nhiên, ông chỉ ra rằng không phải tất cả các đơn vị đều biết cách đối phó với những lời chỉ trích như vậy. Ông khẳng định dân chủ mà không kèm theo sự lãnh đạo vững chắc [của Đảng] là không thể chấp nhận được (Nguyễn Chí Thanh 1970, 266-67). Cũng trong tháng 7 đó, Trần Đức Thảo đã tìm được người dịch tiếng Trung để dịch lại một bài báo đăng trên tờ tạp chí của một trường đại học của Trung Quốc: không ai khác, chính là bài báo của tác giả Lục Định Nhất, kêu gọi "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" ở Trung Quốc (Boudarel 1991, 239-40).

Nhưng Trần Đức Thảo có dẫn dắt quá trình phê phán Đảng Lao động Việt Nam không? Boudarel đã nhấn mạnh rằng Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Đặng Văn Ngữ, Phan Khôi, và Trần Đức Thảo, thường được xem là người cổ vũ cho sự bất đồng chính kiến của giới trí thức đối với Đảng, "không phải là người khởi xướng cũng không phải là người tổ chức" những lời phê bình như vậy. Họ đã theo chân các Đảng viên và tướng lĩnh đội quân đội, những người đã chỉ trích Đảng trước Đại hội Đảng lần thứ 20 ở Liên Xô (tháng 2 năm 1956) và trước khi phong trào Trăm hoa đua nở lan ra ngoài biên giới Trung Quốc năm 1956 (Boudarel 1991, 255). Điểm này cực kỳ quan trọng, như sau này Đảng Lao động Việt Nam đã kết luận, rằng rằng những trí thức "bất đồng chính kiến" đã không được ủng hộ rộng rãi. Theo cách này, Đảng đã dễ dàng hơn khi hướng đến giới trí thức như là đối tượng đàn áp của Đảng. Phiền toái đối với Trần Đức Thảo nảy sinh đầu tiên tại Đại học Hà Nội (nơi ông giảng dạy) sau khi ông đóng góp hai bài báo cho Nhân Văn [và tạp chí Giai phẩm (ND)]. Tuy nhiên, rất khó để tìm ra chính xác những gì đã xảy ra tiếp theo: một cuốn sách lịch sử chính thức của trường đại học quốc gia lướt qua giai đoạn 1956-58 và không đề cập đến Trần Đức Thảo. Cuốn sách này nói rằng, sau những "cuộc nổi loạn" ở Ba Lan và Hungary vào năm đó,  "một nhóm phản cách mạng trong một thời gian dài đã che giấu mình trong các tổ chức Nhà nước đã tận dụng cơ hội để trỗi dậy". "Nhưng Đảng và lãnh đạo đã tổ chức mọi người để "đập tan âm mưu", và đến năm 1958, đã "giành được thắng lợi hoàn toàn" (Đinh Xuân Lâm 1991, 19-20). Trần Đức Thảo và những người cùng chí hướng với ông đã bị trục xuất khỏi hồ sơ lịch sử. Tên của ông chỉ được nhắc lại thông quan bản tự kiểm thảo của chính ông, theo sau là các cuộc tấn công gay gắt vào lời tự kiểm thảo này, cùng một lần tự kiểm thảo thứ hai, được xuất bản trên báo Nhân Dân. Tôi sẽ trở lại các tài liệu này ở phần sau.

TRẦN ĐỨC THẢO: TỪ HIỆN TƯỢNG HỌC ĐẾN CHỦ NGHĨA MÁC

Đoạn tường thuật trên, tuy chính xác, nhưng rất không hoàn chỉnh. Nó chỉ là một sự lưu ý về mặt lịch sử, vốn sẽ lướt qua mối quan tâm chính yếu của Trần Đức Thảo: triết học. Khi bỏ qua mối quan tâm về triết học này, các nhà nghiên cứu có thể giả định sai lầm là phê phán [chính trị] của Thảo có thể được hiểu một cách đầy đủ bằng cách hoặc thông qua [lịch sử của] chủ nghĩa cộng sản quốc tế hoặc của sự phát triển trong nước của Việt Nam. Nhưng cũng như chủ nghĩa cộng sản quốc tế không đóng khung toàn bộ tư tưởng cộng sản Việt Nam, các điều kiện trong nước không hoàn toàn định hình các nỗ lực phê phán Đảng và nhà nước. Trong trường hợp của Thảo, cần phải lùi lại để đi sâu vào hành trình triết học của ông, và sau đó xem xét hành trình này giao thoa với các trải nghiệm về Việt Nam của ông như thế nào.

Mặc dù những phê phán sau này của Thảo dành cho Đảng Lao động Việt Nam bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác kiểu Tây Âu, nhưng mối tình đầubcủa ông dành cho hiện tượng học. Đầu thập niên 1940, Thảo đã bị cuốn hút bởi Husserl, người đã nghĩ rằng ông tránh được những cạm bẫy của chủ nghĩa duy tâm bằng cách lập luận rằng tất cả các tri thức đều được tìm thấy trong thế giới của trải nghiệm hợp lý. Từ chối quan niệm rằng chân lý có thể được tìm thấy thông qua logic thuần túy, Husserl lập luận rằng cần tìm kiếm chân lý trong thế giới của kinh nghiệm sống trải, "thế giơi-đời sống", mà triết học phải hướng tới. "Thế giới-đời sống", vốn rất quen thuộc với chúng ta, là "nền tảng của mọi kiến thức khách quan" (Landgrebe 1981, 179).

Phương pháp hiện học đã được định hình trong những tác phẩm sớm nhất của Thảo. Chẳng hạn, trong một bài viết năm 1946, ông lưu ý rằng với một người Pháp, khái niệm độc lập của Việt Nam là một khả năng trừu tượng, một khả năng trái ngược với thực tế của sự thống trị của thực dân Pháp. Nhưng mặt khác, đối với "người Việt Nam", điều ngược lại mới là chân lý:

Một Việt Nam không có chủ nghĩa thực dân không phải là một "giả thuyết đơn thuần", mà là một viễn kiến thực sự sống động, viễn kiến thậm chí là sự tồn tại của nó, định nghĩa sự tồn tại của nó như là người Việt Nam. Thế giới của những khả năng này tạo thành bối cảnh trên đó xuất hiện những thực tại được cảm nhận và mang lại ý nghĩa cho chúng. Bước vào thế giới này, sự tham gia của chủ nghĩa thực dân ngay lập tức cho thấy sự tiêu cực của nó. (Tran Duc Thao 1946, 881)

Nói cách khác, sự tiêu cực của chủ nghĩa thực dân đã ngăn chặn "người Việt Nam" nhận ra tiềm năng thực sự của mình.

Sau đó, Thảo mở rộng phân tích của mình bằng cách viện dẫn khái niệm hiện tượng học về "chân trời" để phát triển một lập luận mạnh mẽ. Ông lập luận rằng "người Việt Nam" không phải là tù nhân của thế giới quan thuộc địa. Thật vậy, với cùng một sự việc, người Việt và người Pháp thường đi đến những kết luận trái ngược nhau. Do đó, Thảo lập luận rằng, trong chủ nghĩa thực dân, sự khác biệt không thể tồn tại ở mức độ chất lượng của tranh luận: thay vào đó, " 'ý nghĩa của sự tồn tại' tồn tại trước những lý lẽ mà người ta sử dụng trong biện minh" và phụ thuộc vào chân trời mà người ta hiểu được thực tế. Đối với người Pháp, Việt Nam nằm trong đế chế Pháp. Đó là một phần của "'chân trời nội bộ" của anh ta, một khuôn khổ trong đó xuất hiện mọi thứ trong cộng đồng Pháp (Tran Duc Thao 1946, 897, 883). Ngược lại, đối với "người Việt Nam", chân trời của anh ta được xác định bởi chính Việt Nam, và nước Pháp nằm ngoài nó. Sự khác biệt về ưu thế này xác định các loại lập luận mà mỗi bên sử dụng để tự biện minh.

Từ những điều trên, có thể thấy rằng rõ ràng trong thời kỳ đầu Thảo đã hạ thấp các mối quan hệ nội bộ (như giai cấp) trong cộng đồng quốc gia để xây dựng một hiện tượng học về chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa thực dân. Tuy nhiên, điều này đã thay đổi khi Thảo chuyển từ hiện tượng học sang chủ nghĩa Mác. So với chủ nghĩa Mác-Lênin của Liên Xô hoặc của Trung Quốc, chủ nghĩa Mác phương Tây mới mẻ của Thảo tương thuộc với [triết học] Hegel và hiện tượng học hơn, và chú ý nhiều hơn đến các vấn đề về quyền, trách nhiệm và tự do của cá nhân. Đến năm 1948, Thảo đã phủ định nhiều phần của phân tích hiện tượng học, đồng thời nhận thấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và những phân tích về lao động và đấu tranh giai cấp của nó là cách tốt nhất để hiểu các biến đổi lịch sử (Tran Duc Thao 1948). Đến năm 1951, trong tác phẩm "Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng", Thảo lập luận rằng "chủ nghĩa Mác xuất hiện với chúng ta như là giải pháp khả dĩ duy nhất để giải quyết những vấn đề do chính hiện tượng học nêu ra". Sau đó, ông đã giải thích điểm này bằng cách tuyên bố rằng ông đã hy vọng tìm ra giải pháp cho sự bế tắc trí về tuệ của mình trong chính cuộc cách mạng Việt Nam (Tran Duc Thao 1986, xxi; 1992, i).

Một thứ triết học riêng biệt và mới mẻ của Thảo, giống như hiện tượng học mà ông chối bỏ, đã cho thấy một niềm tin sâu sắc vào tính duy lý và khoa học. Chủ nghĩa Mác đã đưa ra một luận thuyết rõ ràng về chủ nghĩa Marx đã thêm một lý thuyết rõ ràng về sự phát triển tuyến tính theo hướng tiến bộ của lịch sử. Theo cách thức như vậy, nó rõ ràng mang tính hiện đại. Đến lúc này, Thảo đã tin rằng hiện tượng học của Husserl, mặc dù tuyên bố tập trung vào "thế giới-đời sống", hay thế giới của trải nghiệm có thể cảm nhận, đã đi quá xa về phía chủ nghĩa duy tâm: "Vị trí giai cấp của Husserl không cho phép ông quay trở lại các quan hệ xã hội của sản xuất vốn đã xác định nội dung thực sự của một đời sống có thể cảm nhận"(Tran Duc Thao 1951, xxviii). Thảo lập luận, chủ nghĩa Mác cho thấy rằng ý nghĩa được cấu thành trong lịch sử thông qua lao động và do đó liên quan đến giai cấp.

Nhìn qua, "Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng" dường như làm sáng tỏ chút ít về những chỉ trích sau này của Thảo dành cho Đảng Lao động Việt Nam. Cuốn sách tập trung trước hết vào việc chỉ ra những mâu thuẫn của hiện tượng học Husserl, và cách giải quyết những mâu thuẫn này thông qua chủ nghĩa Mác. Nhưng chủ nghĩa Mác được trình bày trong tác phẩm này này đều mang tính lý thuyết cao và dường như khác xa với chính trị thực tiễn. Điều này có nghĩa là, cuốn sách này ít liên quan đến các bài viết của Thảo vào năm 1956. Trước hết, như Francois Lyotard đã lưu ý, Thảo cho rằng kiến trúc thượng tầng (ý thức hệ và văn hóa) có phần độc lập với cơ sở hạ tầng -  hay sản xuất đời sống vật chất, và chính sự độc lập này của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đã tạo ra những mâu thuẫn giúp thúc phép biện chứng lịch sử (Lyotard 1991, 128). Ý tưởng về tính độc lập của kiến trúc thượng tầng này có thể đã ảnh hưởng đến ý thức tự do [vượt khỏi kiểm soát của] Đảng ở Thảo, và sự quan tâm sâu sắc của ông đối với các vấn đề về [nguồn gốc của] ý thức.

Thứ hai, Thảo đánh giá cao sức mạnh của sự phủ định để thúc đẩy sự thay đổi vốn luôn được chào đón. Trong các phân tích hiện tượng học của mình, ông đã mô tả chủ nghĩa thực dân một cách đầy tiêu cực: sự phát triển thuộc địa đã đẩy Việt Nam theo một con đường phủ nhận những gì nó sẽ có nếu nó được phép tự phát triển. Nhưng trong giai đoạn mác-xít của mình, ông mô tả sự tiêu cực như là một phần tất yếu và mang tính xây dựng của biện chứng lịch sử: cách mạng đòi hỏi phải phủ nhận sự tha hóa của con người nhưng cũng tái lập một xã hội mới trong đó một số yếu tố đáng mong muốn của quá khứ sẽ được hấp thụ vào cái mới bởi  giai cấp vô sản (Tran Duc Thao, 1986, 216-18). Một điểm cuối cùng về tác phẩm này: giống như Marx, Thảo đã nhìn thấy lao động, và do đó là giai cấp, là đấu trường của sự đấu tranh. Ông không chú ý đến vai trò của các đảng phái. Thật vậy, trong suốt các bài viết về sau, người ta có thể cảm nhận rằng với Thảo, Đảng chỉ là thứ yếu đối với người dân: nhân dân là yếu tố tiên phong của lịch sử và Đảng sẽ gặp rắc rối khi quên mất thực tế cơ bản đó.

Tư tưởng của Trần Đức Thảo thường được phát triển với mức độ trừu tượng cao. Nhưng khi trở về Việt Nam và tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội, Thảo đã tự buộc mình phải liên kết sự thay đổi cá nhân với sự biến đổi xã hội. Và một khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã giành chiến thắng tại Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải rút khỏi Việt Nam, Thảo chuyển sang các vấn đề thực tiễn cũng như triết học. Ví dụ, vào năm 1956, về Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, Thảo đã viết hai bài báo cáo buộc Đảng Lao động [Việt Nam] về những sai sót của mình (ví dụ như trong cải cách ruộng đất) và kêu gọi phát triển "quyền tự do dân chủ". Những bài phê bình của ông, dù sắc sảo, cũng thấm đẫm hương vị không tưởng: Thảo tin rằng tương lai là thời điểm mà các cá nhân và tập thể sẽ có thể nhận ra, thông qua sự giải phóng, những khả năng đầy đủ của một xã hội không giai cấp.

Trong bài báo viết vào tháng 10 năm 1956, Thảo kêu gọi Đảng Lao động Việt Nam đấu tranh chống quan liêu, bè phái và sùng bái cá nhân. Theo quan điểm của Thảo, sau sự thất bại của đế quốc Pháp và hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc, những "bệnh" này của chế độ đã xuất hiện trở lại. Trách nhiệm của Đảng và nhân dân là đấu tranh chống lại chúng nếu muốn "xây dựng chủ nghĩa xã hội". Và đó là nhiệm vụ của họ, ông tin rằng, để phát triển "quyền tự do dân chủ" (Trần Đức Thảo 1956, 10).

Trần Đức Thảo cẩn thận phân biệt quan điểm của ông về "quyền tự do dân chủ" với cái mà ông gọi là quan niệm tư sản về quyền tự do đó: Trần Đức Thảo cẩn thận phân biệt quan điểm của ông về "quyền tự do dân chủ" với cái mà ông gọi là quan niệm tư sản về quyền tự do đó: Tự do mà họ (người dân) muốn phát triển quyết định không phải là tự do tư sản của xã hội cũ, tự do của thiểu số bóc lột đa số. Tự do mà họ muốn phát triển là quyền tự do của toàn dân để phê bình lãnh đạo, bởi vì lãnh đạo chính xác là lãnh đạo của chính họ... Tự do đó là quyền của công dân được công nhận và bảo vệ trong hệ thống của chúng tôi. (Trần Đức Thảo 1956, 1) ... Cái tự do ấy là quyền của người công dân, nó được hoàn toàn công nhận và bảo đảm trong chế độ ta. (Trần Đức Thảo 1956, 1)

Trần Đức Thảo lưu ý rằng, mặc dù dân chúng được đảm bảo "tự do dân chủ", nhưng trên thực tế, các đảng viên trong Đảng đã bóp nghẹt các quyền tự do này. Như vậy, làm thế nào để đảm bảo rằng các quyền tự do như vậy phát triển ở mức cao nhất? Thảo chỉ ra rằng tự do "không phải là cái gì có thể ban ơn" bởi Đảng. Tự do không phải là một cái gì đó chỉ dành cho giới trí thức; đó là điều mà toàn bộ dân chúng phải tự nhận ra.

Thảo lập luận, vấn đề là Đảng đã không phân biệt chính xác giữa nội dung tự do và hình thức tự do. Ông tuyên bố: "Về nội dung, hệ thống của chúng ta là tự do về bản chất và trên thực tế." Người Việt Nam đã lật đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp, và các hoạt động bóc lột chỉ còn dấu vết trong quá khứ. Nhưng ở hình thức của tự do, vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại và những vấn đề này đã cản trở sự tham gia đầy đủ của người Việt Nam trong việc hiện thực hóa tự do của họ. Trong một cuộc thảo luận sau đó, Thảo đã làm rõ các ví dụ về "hình thức tự do" như các quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp và tự do báo chí (Tran Duc Thao 1956, 1, 5).

Phủ định quan điểm cho rằng người Việt Nam phải làm việc chỉ vì tập thể, Trần Đức Thảo cho rằng "hình thức tự do là tự do cá nhân". Dưới chế độ cũ, đây không là gì ngoài sự "mơ mộng duy tâm", nhưng trong xã hội của chúng ta, nó đã được tái sinh và biến thành một giá trị thực sự. Cá nhân phục tùng tập thể, nhưng tập thể cũng phải có cá nhân xây dựng và hình thức tự do trong phạm vi pháp lý nhân dân là điều kiện để mỗi cá nhân góp phần thực sự xây dựng tập thể. (Trần Đức Thảo 1956, 5)

Nói cách khác, sự phát triển thực sự của cá nhân là một phần của quá trình biện chứng, đồng thời đưa Việt Nam tiến xa hơn trên con đường phát triển của chủ nghĩa tập thể theo khuynh hướng cộng sản chủ nghĩa. Cuối cùng, Thảo tin rằng, xã hội sẽ xóa bỏ các giai cấp và nhà nước sẽ tự tiêu hủy (Tran Duc Thao 1956, 16). Nếu Trần Đức Thảo đã để lại lời phê bình của mình về điều đó, có lẽ ông đã thoát khỏi cơn thịnh nộ của Đảng. Nhưng trong một bài báo tiếp theo vào cùng năm đó, ông đã làm sâu sắc thêm sự phê phán của mình. Ông tuyên bố, ở mọi cấp của Đảng, người ta có thể tìm thấy những căn bệnh của chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa bè phái và sùng bái cá nhân. Những tệ nạn này đã lan rộng trong xã hội "nhưng chỉ trong lãnh đạo, nó mới có khả năng gây ra tác hại lớn cho người dân". Cải cách ruộng đất là một ví dụ minh họa cho điều này. Thảo lưu ý, cán bộ cấp thấp ở các địa phương nhận ra những sai lầm này, và họ phải chịu đựng những tác hại gây ra cho bản thân hoặc cho những người xung quanh (Trần Đức Thảo 1956, 20):

Các yếu tố lạc hậu và bảo thủ đã ngăn cản quần chúng bày tỏ ý kiến của họ, cản trở việc khắc phục sai lầm, gây ra tác hại lớn; các tổ chức bị thiệt hại nặng nề, việc xây dựng lại các tổ chức [của Đảng] ở các huyện và tỉnh phát triển theo một học thuyết trong đó nông dân bị biến thành kẻ lưu manh hóa. (Tran Duc Thao, 1959a, 21-2)

Về bản chất, những yếu tố lạc hậu và bảo thủ này đã tạo ra những sai lầm rất lớn, và sau đó biến những sai lầm này thành đường lối của Đảng. Hơn nữa, họ bị tiêu diệt bởi những âm mưu tưởng tượng: "Một bộ máy hùng mạnh, được tạo ra để quét sạch kẻ thù, đến mức không thể nhìn thấy kẻ thù và quay lưng với bạn bè, biến bạn bè thành kẻ thù và tiêu diệt họ một cách bừa bãi" (Tran Duc Thao 1959a, 22).

Những lời chỉ trích sự lạm dụng [quyền lực của] Đảng của Trần Đức Thảo tập trung vào các sự kiện từ năm 1954 đến 1956. Đảng Lao động đã thừa nhận những sai lầm của mình trong cải cách ruộng đất: thực tế, Hồ Chí Minh đã xin lỗi họ [những người bị oan trong cải cách ruộng đất (ND)] (Duiker 2000, 483). Nhưng nỗi sợ "những âm mưu còn ẩn giấu" nhằm lật đổ cuộc cách mạng, được đề cập ở trên, chưa bao giờ biến mất ở Việt Nam: theo một xu thế đầy mỉa mai, cuối cùng Đảng đã gán cho Trần Đức Thảo là một kẻ thù giấu mặt đã cố gắng phá hoại cuộc cách mạng từ bên trong.

Theo nhiều hướng quan trọng, các bài báo của Trần Đức Thảo đã vượt xa [khỏi bối cảnh của] Việt Nam để khẳng định lại những lập luận quen thuộc của Marx mà các đảng Cộng sản đã bỏ qua. Thảo nhấn mạnh tầm quan trọng của cá nhân đối với chủ nghĩa Mác, nói rằng sự phát triển của cá nhân và của tập thể được đan xen;  Đảng, nghi ngờ chủ nghĩa cá nhân tư sản, đã bác bỏ lập luận này. Hơn nữa, mặc dù chấp nhận lãnh đạo Đảng, Trần Đức Thảo cuối cùng cũng coi Đảng chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Theo quan điểm của ông, Đảng Cộng sản đã trở nên kiêu ngạo đối với các quyền thuộc về nhân dân, và do đó đã lừa dối chính họ và nhân dân về tình hình ở Việt Nam. Phát biểu trên tinh thần diễn ngôn Mác-xít, Thảo lập luận rằng Đảng cần phải cải tổ. Đảng, cũng nhân danh trong những gì được coi là hệ tư tưởng Mácxít, đã phản ứng bằng cách bóp nghẹt bất kỳ cuộc tranh luận công khai nào về mình và những sai lầm của mình. Thảo, bị buộc phải tự phê bình, trở thành nạn nhân của cuộc đàn áp trong những năm 1956-1958 đối với những người bất đồng chính kiến, và hầu hết bị lãng quên trong cuộc bể dâu còn lớn hơn nữa của lịch sử Việt Nam.

Nguồn: Shaw McHale (2002). "Vietnamese Marxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory: Tran Duc Thao, 1946-1993". The Journal of Asian Studies, Vol. 61, No. 1 (Feb., 2002), pp. 7-31.

Comments

Popular posts from this blog

​Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế

Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế… Người ấy không hỏi nhiều, không kể lể, chẳng tranh phần đúng, cũng chưa từng đòi phần hơn. Nhưng lạ lắm – cứ mỗi lần nhà có chuyện, thì chính người ấy lại là người đầu tiên chao đảo. Khi ai đó gặp hạn, người ấy lại ốm. Khi cả nhà cùng lo âu, người ấy lại gánh thêm những điều chẳng ai thấy. Không phải vì người đó yếu. Mà bởi trời đất đôi khi có một cách sắp đặt kỳ lạ: Để một người chịu nhiều hơn một chút – Để những người còn lại, được bình yên hơn một chút. co là con út trong một gia đình năm người. Chị gái lấy chồng xa, anh trai có công việc ổn định, bố mẹ vẫn khỏe mạnh ở tuổi về chiều. Chỉ riêng Co – đi đâu cũng lận đận, làm gì cũng va vấp. Đã có lúc, cô ngồi một mình và hỏi: "Hay là mình là đứa gánh nghiệp cả nhà?" Và rồi cô để ý – rất rõ – Mỗi lần trong nhà có người gặp chuyện: mẹ ốm, bố té xe, hay chị gái buồn bực chuyện chồng con… Thì chỉ vài hôm sau, Linh lại là người "đón hạn": xe hư, mất việc, hay bỗng dưng té ...

Khủng hoảng kinh tế 2008 và các sói già phố Wall

  Có lẽ nhiều người đã biết khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 xảy ra do bong bóng thị trường cho vay mua nhà (mortgage) của Mỹ sụp đổ, khi hàng loạt người có điểm tín dụng xấu – không có khả năng chi trả nợ - được cho vay mua nhà (subprime mortgage). Thời điểm 2000-2007, việc 1 người có thể sở hữu 2-3 căn nhà là hoàn toàn bình thường nhờ vay tiền từ các tổ chức tín dụng. Đến 1 thời điểm, khi người mua nhà không còn khả năng phát chi trả nợ, bong bóng này chắc chắn sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, việc tín dụng xấu có thể tồn tại trong 1 thời gian dài và tạo nên ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới chắc chắn không chỉ phụ thuộc vào những người có tín dụng xấu. Từ 1 đống rác, mortgage tín dụng xấu đã được hô biến thành 1 món hàng cực kỳ uy tín và chất lượng, tóm gọn lại trong hai yếu tố: 1. Biến subprime mortgage thành 1 sản phẩm hoàn toàn mới 2. Dát vàng cho sản phẩm mới này 1 trò chơi hoàn hảo đã được bày ra bởi các sói già phố Wall. Thay đổi nhận diện Yếu tố thứ...

Việt nho

Theo triết gia Lương Kim Định người Tàu đã biến đổi Việt nho thành Hán nho, phản bội ý nghĩa bản thể của chữ nho/nhu, thay thế phép ứng xử mềm mại, thuần nhất thành lối ứng xử cương cứng, hai mặt "trong pháp ngoài nho"... + Từ Việt nho đến Hán nho Mặc dù sinh ra trong một gia đình nhà nho, nhưng không hiểu sao, hoặc chính vì thế, mà tôi có ác cảm với Nho giáo. Ở Việt Nam, Nho giáo và tính tiểu nông là căn nguyên nhị trùng kìm hãm sự phát triển của đất nước. Và, cũng vì thế, mà tôi lảng đọc Kim Định, nghĩ rằng ông là toàn-nho. Gần đây, do tìm hiểu văn hóa Việt Nam, tôi mới buộc phải đọc ông. Hóa ra, thứ nho mà tôi ghét bấy lâu nay là Hán nho, một thứ nho đã bị tha hóa, xa vời nguồn gốc hoặc bị người ta cố tình bẻ quẹo, còn nho Kim Định tán dương là nguyên nho, được ông gọi là Viẹ...