ĐỪNG ĐỂ CÁC SIÊU CƯỜNG CHIA CẮT THẾ GIỚI
Hal Brands
Foreign Affairs, 20/4/2020
Nguyễn Trung Kiên dịch
Hai thập kỷ vừa qua đã tạo ra biết bao sự khác biệt. Trong những năm đầu của thế kỷ này, thế giới dường như đang tiến tới một trật tự duy nhất và trơn tru dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ. Ngày nay, thế giới đang bị vỡ thành từng mảnh, và những kẻ độc tài đầy thách thức, dẫn đầu là Trung Quốc và Nga, đang làm suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở Đông Á, Đông Âu và Trung Đông. Trong Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2002, chính quyền George W. Bush đã hình dung sự chấm dứt của các cuộc cạnh tranh giữa các siêu cường. Vào năm 2020, vấn đề đặt ra là, làm thế nào các cường quốc có thể dẫn dẫn các cuộc cạnh tranh quyền lực của họ mà không gây ra chiến tranh.
Trong bài "The New Spheres of Influence" [Các không gian gây ảnh hưởng mới] trên tạp chí Foreign Affairs, tháng 3-4/2020), Graham Allison đã đưa ra một lộ trình cho hoàn cảnh mới này: Hoa Kỳ nên chấp nhận sự trở lại của "các không gian gây ảnh hưởng", đồng thời hãy để Trung Quốc và Nga thống trị các vùng địa chính trị lân cận tương ứng của các quốc gia này. Allison cho rằng, hành động như vậy thực sự phù hợp với truyền thống ngoại giao hiệu quả nhất của Hoa Kỳ, trên cơ sở xem xét lại việc Washington từng để cho Liên Xô một không gian gây ảnh hưởng tại Đông Âu trong Chiến tranh Lạnh. Làm sống lại truyền thống đó là cần thiết, đơn giản vì Hoa Kỳ không còn sự thống trị về quân sự và kinh tế để từ chối Trung Quốc và Nga vì quyền lợi địa chính trị chính đáng của họ. Và đó là điều đáng mong muốn, bởi các không gian gây ảnh hưởng được các bên cùng tôn trọng có thể thúc đẩy sự ổn định và hòa bình trong một thế giới cạnh tranh hơn.
Lập luận của Allison, mặc dù hấp dẫn, nhưng đã thất bại. Trên thực tế, Hoa Kỳ đã chống lại việc tạo ra các không gian gây ảnh hưởng của các đối thủ trong phần lớn lịch sử của mình, ngay cả khi chính họ đã nỗ lực để xây dựng các không gian này. Ngày nay, việc nhượng lại các không gian gây ảnh hưởng cho Trung Quốc và Nga không còn là một cách thức đảm bảo sự ổn định, mà là một kế hoạch chi tiết cho sự áp bực và xung đột, và nó sẽ làm suy yếu ảnh hưởng địa chính trị của Hoa Kỳ trong mối quan hệ với các đối thủ của nó. Cũng không phải là sự trở lại của các không gian gây ảnh hưởng được dự đoán trước, Washington vẫn có đủ sức mạnh để ngăn Bắc Kinh và Moscow thống trị các khu vực của họ, miễn là nó từ chối lời khuyên của Allison để cắt đứt quan hệ với các đồng minh thân cận dễ bị tổn thương. Một thế giới khó khăn hơn và cạnh tranh hơn là không thể tránh khỏi. Không nên hướng tới một thế giới nguy hiểm hơn nhiều bởi sự cát cứ của một nhóm các siêu cường.
TRUYỀN THỐNG HOA KỲ
Các không gian gây ảnh hưởng đã trở nên phổ biến trong suốt lịch sử, nhưng người Mỹ chưa bao giờ thấy thoải mái với chúng. Trên thực tế, phần lớn chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ thời độc lập bao gồm các nỗ lực ngăn chặn các cường quốc đối thủ thiết lập các không gian như vậy. Vào thế kỷ XIX, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã bác bỏ ý kiến cho rằng bất kỳ cường quốc châu Âu nào cũng cần có không gian gây ảnh hưởng ở Bắc Mỹ hoặc Tây bán cầu. Họ khá tàn nhẫn đuổi các cường quốc châu Âu khỏi các khu vực này. Vào đầu thế kỷ XX, Hoa Kỳ đã áp dụng chính sách khu vực này trên toàn cầu. Cái gọi là chính sách Mở Cửa mở thật ra là để nhằm ngăn chặn các cường quốc khác gây ảnh hưởng đến Trung Quốc và sau đó là toàn bộ Đông Á, biến vùng này thành các không gian gây ảnh hưởng riêng biệt. Washington tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất một phần để ngăn Đức trở thành cường quốc thống trị châu Âu. Một thế hệ sau, Hoa Kỳ đã chiến đấu để ngăn Nhật Bản hình thành không gian gây ảnh hưởng ở Thái Bình Dương và ngăn Hitler thiết lập sự thống trị trên toàn bộ châu Âu lục địa. Trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ Hai, Washington cũng tham gia vào các nỗ lực ngoại giao và kinh tế, dù thầm lặng hơn, để đẩy nhanh tiến trình sụp đổ của Đế quốc Anh.
Ngay cả trong Chiến tranh Lạnh, người Mỹ không bao giờ chấp nhận hoàn toàn sự kiểm soát của Liên Xô đối với Đông Âu. Chính quyền Truman và Eisenhower đã tìm cách húc đổ Bức màn Sắt thông qua chiến tranh ý thức hệ và các hành động vụng trộm; sau đó, các chính quyền Hoa Kỳ đã mở rộng quan hệ thương mại và ngoại giao với các quốc gia trong Khối Warsaw để phá hoại sự kiểm soát của Kremlin một cách tinh vi. Chính quyền Reagan vừa công khai vừa ngấm ngầm ủng hộ các phong trào chính trị vốn đang thách thức quyền lực của của Kremlin từ bên trong. Và khi Washington có cơ hội để phá hủy không gian gây ảnh hưởng của Liên Xô một cách hòa bình sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, nó đã thực hiện điều này, bằng việc hỗ trợ cho sự thống nhất của nước Đức và sự mở rộng của khối NATO.
Nói cách khác, chống lại [sự hình thành] các không gian gây ảnh hưởng là một phần của gene ngoại giao Hoa Kỳ. Như Charles Edel và tôi từng tranh luận vào năm 2018, nguyên nhân là do các không gian gây ảnh hưởng này xung đột với các nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Một trong số đó là cách tiếp cận về an ninh của Hoa Kỳ, vốn cho rằng việc bảo vệ lợi ích sức mạnh vật chất sống còn của đất nước đòi hỏi phải ngăn chặn các cường quốc đối thủ thiết lập chỗ đứng ở Tây bán cầu, hoặc thống trị các khu vực chiến lược quan trọng ở nước ngoài. Tương tự như vậy, sự nhấn mạnh của Hoa Kỳ vào việc thúc đẩy tự do và thương mại tự do đồng nghĩa với mối lo ngại rằng "các không gian gây ảnh hưởng" - đặc biệt là những không gian của các quốc gia độc tài - sẽ ngăn cản sự lan rộng của các giá trị của Hoa Kỳ và cho phép các thế lực thù địch ngăn chặn thương mại và đầu tư của Hoa Kỳ. Cuối cùng, không gian gây ảnh hưởng không phù hợp với chủ nghĩa ngoại lệ của Hoa Kỳ. Quan niệm rằng Hoa Kỳ nên vượt qua các cách thức tồi tệ cũ trong chính sách đối ngoại nhằm cân bằng quyền lực và thiết lập một hệ thống quan hệ quốc tế dân chủ và nhân đạo hơn.
Tất nhiên, truyền thống trí tuệ đó đã không ngăn cản Hoa Kỳ xây dựng không gian gây ảnh hưởng của riêng mình tại Châu Mỹ Latinh từ ngay từ đầu thế kỷ XIX, cũng không ngăn cản nước này ngăn chặn các khối tại châu Âu, Đông Á và Trung Đông trở thành một không gian gây ảnh hưởng toàn cầu sau Thế chiến II. Tuy nhiên, cùng một truyền thống đã giúp Hoa Kỳ bành trướng không gian gây ảnh hưởng của mình nhanh chóng hơn nhiều so với các cường quốc trong quá khứ, đó là lý do tại sao nhiều quốc gia đã tìm cách tham gia vào không gian đó hơn là rời bỏ nó. Và vì hành động mang tính đạo đức giả là một truyền thống lâu dài khác trong các vấn đề toàn cầu, không có gì đáng ngạc nhiên khi Hoa Kỳ sẽ thiết lập không gian gây ảnh hưởng tương đối rõ ràng của riêng họ, đồng thời phủ nhận tính hợp pháp của các không gian khác.
Nỗ lực đó đã đạt đến đỉnh cao trong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh, khi sự sụp đổ của khối Xô-viết khiến người ta có thể hình dung ra một thế giới trong đó phạm vi ảnh hưởng của Washington - còn được gọi là trật tự quốc tế tự do - là luật chơi duy nhất trên toàn cầu. Hoa Kỳ duy trì một quân đội bất khả chiến bại trên toàn thế giới để có thể can thiệp quân sự trên toàn cầu; bảo tồn và mở rộng cấu trúc liên minh toàn cầu như một sự kiềm chế các cuộc tấn công vào Hoa Kỳ; và tìm cách hợp nhất các đối thủ tiềm năng, cụ thể là Bắc Kinh và Moscow, vào một hệ thống do Hoa Kỳ lãnh đạo. Như Allison lưu ý một cách chính xác rằng, đó là một định hướng đầy tham vọng; nhưng đó là đỉnh điểm, chứ không phải là sự khởi đầu, của một truyền thống ngoại giao đã kéo dài suốt hai thế kỷ.
CHO HỌ MỘT CHÚT NHÂN NHƯỢNG...
Thời khắc hậu-Chiến tranh Lạnh đã kết thúc, và viễn cảnh về một thế giới bị chia rẽ đang quay trở lại. Nga đang nỗ lực phát huy quyền lực ở Trung Đông và đưa ra yêu sách thống trị đối với các quốc gia láng giềng của nó. Trung Quốc đang xác lập sự chi phối ở phía Tây Thái Bình Dương và vùng Đông Nam Á, đồng thời sử dụng ảnh hưởng ngoại giao và kinh tế của mình để gắn kết chặt chẽ hơn các quốc gia trên thế giới vào quỹ đạo của mình. Cả hai đã phát triển các công cụ cần thiết để ép buộc các quốc gia láng giềng của họ, và ngăn chặn ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
Allison là một trong một số nhà phân tích gần đây đã đưa ra lập luận rằng Hoa Kỳ nên đưa ra một phương án tốt nhất cho tình huống đầy khó khăn của mình, đó là nước này nên chấp nhận các phạm vi ảnh hưởng của Nga và Trung Quốc, bao gồm một phần của Đông Âu và Tây Thái Bình Dương, để xác lập hòa bình và sự ổn định. Logic này có hai mặt: đầu tiên, tạo ra sự tách biệt rõ ràng hơn giữa các cường quốc đang tranh giành ảnh hưởng bằng cách đánh dấu rõ ràng nơi kết thúc không gian gây ảnh hưởng của siêu cường này và nơi bắt đầu không gian gây ảnh hưởng của siêu cường kia; và thứ hai, để giảm nguy cơ xung đột bằng cách trao cho các cường quốc đang trỗi dậy, hoặc đang hồi sinh, một vùng an toàn dọc theo biên giới của chúng. Về lý thuyết, điều này có vẻ như là một cách thức hợp lý để ngăn chặn sự cạnh tranh biến thành xung đột toàn diện, đặc biệt các nước như Đài Loan và các nước vùng Baltic, vốn cách xa Hoa Kỳ hàng nghìn cây số, nhưng lại nằm ráp gianh với các đối thủ của nó. Tuy nhiên, trên thực tế, một thế giới "gồm nhiều không gian gây ảnh hưởng" sẽ mang lại nhiều mối nguy hiểm hơn là sự an toàn.
Phạm vi ảnh hưởng của Nga và Trung Quốc chắc chắn sẽ là lãnh thổ của sự cưỡng bức và chuyên chế. Cả hai quốc gia này đều được điều hành bởi các chế độ độc tài, chuyên quyền; các nhà lãnh đạo của chúng đều nhận thấy các giá trị dân chủ sẽ đe dọa sâu sắc đến sinh mệnh chính trị của họ. Nếu Moscow và Bắc Kinh thống trị các khu vực lân cận, họ sẽ tự nhiên tìm cách làm suy yếu các chính thể dân chủ vốn đang chống lại sự kiểm soát của họ - như Trung Quốc đang thực hiện ở Đài Loan và như Nga đang thực hiện ở Ukraine – mà kết cục là sẽ thách thức tính chính danh của chế độ độc tài. Hậu quả thực tế của việc thừa nhận các không gian gây ảnh hưởng của các chế độ độc tài sẽ gia tăng nguy cơ hình thành một cuộc khủng hoảng về dân chủ mà sẽ khiến thế giới trở nên khốn đốn.
Và Hoa Kỳ cũng sẽ phải chịu thiệt hại kinh tế. Đặc biệt, Trung Quốc - một cường quốc thương mại, đang nỗ lực biến các nền kinh tế châu Á ngả theo Bắc Kinh, và một ngày nào đó có thể khiến Hoa Kỳ gặp bất lợi nghiêm trọng tại lục địa năng động nhất về kinh tế của thế giới. Washington không nên thừa nhận một không gian gây ảnh hưởng của Trung Quốc, trừ khi nó cũng sẵn sàng thỏa hiệp về các nguyên tắc của các nguyên lý "Mở Cửa" vốn đã đã trở thành nền tảng quản trị quốc gia của Hoa Kỳ trong suốt hơn một thế kỷ.
Các chi phí như vậy có thể được chấp nhận để đổi lấy hòa bình và an ninh. Nhưng các không gian gây ảnh hưởng trong Chiến tranh Lạnh đã không ngăn được Liên Xô liên tục tìm cách vượt qua các lằn ranh đỏ của Hoa Kỳ ở Berlin, gây ra các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, trong đó chiến tranh hạt nhân là một khả năng thực sự. Những không gian đó cũng không ngăn hai bên cạnh tranh gay gắt, và đôi khi dữ dội, tại [các quốc gia thuộc] "Thế giới thứ Ba". Trong suốt lịch sử, các cuộc định đoạt không gian gây ảnh hưởng, từ Thời kỳ Hòa bình Ba mươi năm giữa Athens và Sparta đến Thời kỳ Hòa bình Amiens giữa Vương quốc Anh và nước Pháp thời Napoleon, đều sớm muộn sẽ kết thúc bằng chiến tranh.
Ý tưởng cho rằng các không gian gây ảnh hưởng là một công thức cho hòa bình dựa trên các giả định thường không được giải thích: rằng các cường quốc không tuân thủ luận chơi chung được thúc đẩy chủ yếu bởi sự bất an, rằng họ bị đối xử bất bình đẳng, rằng lợi ích thực sự quan trọng của các cường quốc đang cạnh tranh nhau là không xung đột với nhau, và do đó có thể tạo ra trạng thái cân bằng bền vững, chấp nhận lẫn nhau. Vấn đề là những cơ sở này không phải lúc nào cũng có thể giữ vững. Không chỉ đơn giản là sự bất an, mà ý thức hệ và hành trình tìm kiếm sự vĩ đại mới thường là thứ chi phối hành động của các siêu cường. Các quốc gia mới nổi liên tục bị dụ dỗ đàm phán lại về các lợi thế của mình. Đưa ra những nhượng bộ cho một nhà nước không tuân thủ luật chơi chung có thể đơn giản thuyết phục nó rằng trật tự hiện tại là mong manh và cần được thử nghiệm thêm. Công nhận một không gian gây ảnh hưởng cho những kẻ đang thách thức trật tự siêu cường có thể không tạo ra sự ổn định, mà chỉ đơn giản là cho kẻ thách thức đó một vị thế tốt hơn để từ đó thực hiện tham vọng của mình.
Hãy xem xét tình hình ở phía tây Thái Bình Dương. Phạm vi ảnh hưởng tối thiểu nhất của Trung Quốc chắc chắn sẽ bao gồm Đài Loan. Tuy nhiên, nếu Đài Loan trở thành một nền tảng cho năng lực quân sự tiềm tàng của Trung Quốc, thì việc bảo vệ các đồng minh khác của Hoa Kỳ trong khu vực, như Nhật Bản và Philippines, sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Một sự nhượng bộ như vậy cũng không thỏa mãn tham vọng của Trung Quốc. Ngày càng nhiều các nghiên cứu của những học giả như Toshi Yoshihara, James Holmes, Liza Tobin và Elizabeth Economy cho thấy mong muốn tối thiểu của Trung Quốc là đẩy Hoa Kỳ ra khỏi chuỗi đảo chạy từ Nhật Bản qua Đài Loan đến Philippines. Ngay cả một không gian gây ảnh hưởng hạn chế của Trung Quốc ở phía Tây Thái Bình Dương cũng sẽ đóng vai trò là bàn đạp cho mục tiêu lớn hơn này.
Trong khi đó, Hoa Kỳ sẽ hy sinh một số lợi thế quan trọng bằng cách rút quân. Một Đài Loan tự do là bằng chứng rằng cho thấy nền văn hóa và và nền dân chủ của Trung Quốc không tương thích với nhau; chinh phục Đài Loan cũng sẽ cho phép Bắc Kinh loại bỏ mối đe dọa ý thức hệ này. Tệ hơn nữa, Hoa Kỳ sẽ mất lợi thế đến từ việc trở thành một siêu cường duy nhất mà không có mối nguy hiểm an ninh đáng kể nào gần biên giới. Chỉ sau khi Hoa Kỳ đạt được sự thống trị ở Tây bán cầu thì nó mới có thể có được sức mạnh thống trị trên toàn cầu. Ngược lại, Nga và Trung Quốc vẫn phải đối phó với các đồng minh, đối tác và các cơ sở quân sự của Hoa Kỳ tại các quốc gia láng giềng của họ - một tình huống sẽ chuyển hướng các nguồn lực mà họ có thể sử dụng để theo đuổi tham vọng xa hơn, và cạnh tranh với Hoa Kỳ ở quy mô toàn cầu thực sự.
CÁC PHÉP ĐO QUYỀN LỰC
May mắn thay, [sự hình thành] các không gian gây ảnh hưởng mới là có thể tránh được. Nga là một tay chơi đáng gờm vì sẵn sàng chấp nhận rủi ro và theo đuổi các chiến lược bất cân xứng; nhưng Moscow sẽ không xây dựng lại một không gian gây ảnh hưởng có ý nghĩa chừng nào Hoa Kỳ phản đối tham vọng đó. Ở châu Âu, Nga vẫn còn vượt trội đáng kể. Phải thừa nhận rằng, ở sườn phía Đông của khối NATO, địa lý và cán cân quyền lực của vùng này đang ủng hộ Moscow; nhưng ngay cả ở đó, NATO đã tăng cường sức mạnh của mình trong vài năm qua. Các nghiên cứu của Tập đoàn RAND cho thấy, với việc triển khai quân đội phù hợp, NATO có thể thiết lập một sự ngăn chặn đáng tin cậy với chi phí thấp để ngăn chặn sự xâm lược của Nga mà không gây ra bất kỳ mối đe dọa tấn công nào. Trong khi đó, Nga đã phải vật lộn để kéo Ukraine trở lại quỹ đạo của mình: mặc dù phe ly khai được Nga hậu thuẫn đang tiến hành một cuộc chiến đẫm máu ở phía Đông đất nước, và Moscow đã sáp nhập Crimea, miền tây Ukraine, vốn đã hướng về châu Âu và Hoa Kỳ kể từ năm 2014. Và mặc dù Nga có thể tạo ra một số ảnh hưởng ở Trung Đông, nhưng nó có thể nổi lên như một thứ quyền lực đối trọng quan trọng của khu vực này chỉ khi Hoa Kỳ từ bỏ vai trò của mình ở đây.
Phạm vi quyền lực của Trung Quốc làm cho tình hình ở phía tây Thái Bình Dương trở nên khó khăn hơn. Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ gặp khó khăn trong việc thống trị khu vực theo cách mà Hoa Kỳ đã thống trị vùng Caribbean. Các quốc gia láng giềng của Trung Quốc không phải là những kẻ dễ chơi. Nhiều quốc gia có sự hỗ trợ ngoại giao và quân sự của Hoa Kỳ, và một số, như Nhật Bản, còn là siêu cường đúng nghĩa. Hơn thế nữa, Trung Quốc phải triển khai sức mạnh quân sự trên khắp các vùng lãnh hải lớn nếu muốn thiết lập quyền lực trong khu vực, và sẽ thật sự khó khăn để làm được điều này. Sẽ khó khăn hơn nếu các đồng minh trong khu vực của Hoa Kỳ đầu tư vào các vũ khí quân sự cần thiết để gây tổn thất ở mức cao nhất cho bất kỳ cuộc tấn công nào [của Trung Quốc], và nếu Washington tinh chỉnh năng lực quân sự tiềm tàng, và trong cả nhận thức của mình, để chống lại sự xâm lược của Trung Quốc. Cán cân quân sự khu vực sẽ không bao giờ trở lại như năm 1996, khi Washington có thể thách thức những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đe dọa Đài Loan bằng cách đưa hai nhóm tàu sân bay vào vùng biển ngoài khơi Trung Quốc; nhưng với các khoản đầu tư và chiến lược đúng đắn, Hoa Kỳ và các đồng minh có thể làm gia tăng chênh lệch trong sức mạnh thống trị khu vực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Có lẽ để thừa nhận thực tế này, Trung Quốc cũng đang sử dụng các hoạt động truyền thông, các ưu đãi kinh tế và các hình thức can thiệp chính trị khác để làm suy yếu sức đề kháng của khu vực đối với sức mạnh của nó. Tuy nhiên, một số quốc gia đã hành động để giảm sự tổn thương của họ đối với áp lực kinh tế và chính trị [từ Trung Quốc]. Úc đã thực hiện một chiến dịch lớn để làm nổi bật ảnh hưởng của Trung Quốc, mà sẽ gây tổn hại tới lợi ích quốc gia của Úc; Nhật Bản đang tích cực tìm cách hạn chế sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng từ Trung Quốc. Washington có thể đã tự làm suy yếu sức mạnh của mình, nhiêu hơn những gì mà Trung Quốc đã thực hiện, thông qua việc rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, và sự chậm trễ trong việc cùng với các đồng minh đưa ra các lựa chọn thay thế cho công nghệ, đầu tư và các khoản cho vay của Trung Quốc. Những lỗi chính sách này đang gây tổn hại, nhưng chúng vẫn nằm trong khả năng sửa chữa sai lầm của Hoa Kỳ.
ĐỪNG TỪ BỎ
Triển vọng duy trì sự cân bằng quyền lực trong khu vực tốt hơn nhiều so với những người hoài nghi giả định. Tuy nhiên, điều cần thiết là Washington không làm xói mòn những triển vọng đó bằng cách cắt đứt quan hệ với các đồng minh và các đối tác dễ bị tổn thương trên cùng mặt trận kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc. Allison cho rằng làm như vậy có thể là cần thiết để khiến Hoa Kỳ tuân thủ các cam kết của mình, và giảm sự đụng độ với các cường quốc đang lên. Tuy nhiên, hậu quả của việc từ bỏ các đồng minh Baltic hoặc phá vỡ cam kết vốn còn đang mơ hồ với Đài Loan sẽ khiến các nước đó không thể tránh khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc hoặc Nga, và làm mất tinh thần các đồng minh khác của Hoa Kỳ. Washington sẽ mở đường để hạn chế không gian gây ảnh hưởng của các chế độ độc tài, vốn nên tránh né và có thể tránh né được. Hoa Kỳ từng có thành tích đặc biệt về việc phá vỡ các không gian gây ảnh hưởng của các chế độ độc tài, đầu tiên là ở Tây bán cầu của và sau đó là các khu vực xa hơn. Bây giờ Hoa Kỳ không nên mắc phải sai lầm lịch sử khi vứt bỏ thành tích đó cho một lời hứa đầy tính ảo tưởng về sự ổn định, hoặc như một sự nhượng bộ sớm cho một tương lai đen tối hơn, vốn sẽ không thể vượt qua.
(Hal Brands là Giáo sư về các vấn đề toàn cầu tại John Hopkins School of Advanced International Studies, và nghiên cứu viên cao cấp tại American Enterprise Institute, đồng thời là bình luận viên của tờ Bloomberg)
Comments
Post a Comment