AI THÍCH THÌ ĐỌC
Tối qua đến giờ có mấy Facebooker nhắn tin "nhờ cung cấp nội dung bia "Ngự kiến Thiên Mụ tự" và nếu được thì cung cấp thêm thông tin về chùa Thiên Mụ".
Tôi nhắn tin kêu họ tìm đọc cuốn sách CHÙA THIÊN MỤ của Hà Xuân Liêm (Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999). Nhưng cuốn sách này hơi dày, lại khó kiếm.
Vậy nên tôi post tạm ba bài viết của tôi về ngôi chùa này. Ba bài này đã in trong sách HUẾ - TRIỀU NGUYỄN, MỘT CÁI NHÌN của tôi (xuất bản lần đầu năm 2004, tái bản vào năm 2008 và 2018).
Mời bà con đọc tạm. Bài về văn bia chùa Thiên Mụ nói chung và bia "Ngự kiến Thiên Mụ tự" sẽ post sau (để tìm nguồn cái đã).
CHÙA THIÊN MỤ: ĐẠI DANH LAM XỨ HUẾ
Bài và ảnh: TRẦN ĐỨC ANH SƠN
Năm 1558, vì những hiềm khích trong nội bộ gia đình, Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng đã xin phép vua Lê - chúa Trịnh, mà thực chất là xin phép Trịnh Kiểm, anh rể của mình, vào Nam để trấn giữ vùng đất Thuận Hóa, là đất bộ Việt Thường của nước Văn Lang xưa, sau thuộc Chiêm Quốc, mới trở về với Đại Việt từ sau cuộc hôn nhân lịch sử giữa vua Chiêm là Chế Mân với công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông, vào năm 1306. Vâng mệnh chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng phải đứng chân trên đất Quảng Trị để làm tròn chức trách của một quan trấn thủ, song cái khát vọng Nam tiến để tìm một chỗ đất hội đủ hào khí linh kiệt để mưu nghiệp lớn vẫn cháy bỏng trong ông. Hóa Châu là nơi có được điều đó!
Vậy nên, vào năm 1601, nhân cuộc tuần du phương Nam, Đoan Quốc công đã dừng vó ngựa bên dòng Kim Trà (sông Hương sau này) xanh biếc của Hóa châu. Sách ĐNNTC cho hay Nguyễn Hoàng đã đi về phía tây "đến xã Hà Khê, nay là xã An Ninh, thấy đồng bằng nổi đất cao như hình con rồng, ngoảnh đầu trông lại, phía trước trông ra sông cái, phía sau liền với hồ, phong cảnh đẹp tốt, nhân hỏi người địa phương. Họ nói gò này rất thiêng. Tương truyền, ngày trước có người trông thấy một bà già mặc áo đỏ quần xanh, ngồi trên gò nói: "phải có chân chúa đến dựng chùa ở đây mà thu góp khí thiêng để giữ long mạch". Nói xong thì biến mất nên gọi là núi Thiên Mụ. Chúa thượng bèn dựng chùa, gọi là chùa Thiên Mụ".[1] Ấy là năm 1601, tính đến nay, ngót bốn trăm năm.
Thực ra, trước lúc Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng đến đây, đất là Hà Khê đã có chùa rồi. Chùa ấy nguyên tên là Thiên Mẫu, hay Thiên Mỗ. Sách Ô châu cận lục của Dương Văn An soạn năm 1555 chép: "Chùa này ở phía nam xã Hà Khê, huyện Hương Trà, ở trên đỉnh núi, dưới gối dòng sông, ngoài ba nghìn thế giới xa nơi trần tục, trong gang tấc gần chốn thiên trì, khách tản bộ đến nơi du ngoạn, tự nhiên phát thiện tâm, tiêu tư lự, ấy là cảnh trí Phương trượng vậy".[2] Sau này, trong cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, học giả Trần Văn Giáp cũng xác nhận rằng: trước khi Nguyễn Hoàng lập chùa Thiên Mụ, nơi này đã có ngôi cổ tự tên là Thiên Mỗ, được dựng trên nền một tháp Chăm đổ nát. Song có lẽ khi Nguyễn Hoàng dừng chân nơi đây, chùa Thiên Mỗ cũng đã thành phế tích và Tiên chúa đã dựng chùa mới trên phế tích xưa vậy.
Ngót 400 năm gắn bó với Huế, chùa Thiên Mụ cũng trải mấy phen thăng trầm như mảnh đất Huế đô và gắn liền với sự hưng vong của họ Nguyễn ở Đàng Trong. Thiên Mụ đã đạt đến đỉnh cao của sự huy hoàng vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu trị vì Đàng Trong (1691 - 1725). Bài văn Thiên Mụ tự đề danh bi khắc trên tấm bia do do chúa Nguyễn Phúc Chu cho dựng ở phía trái tam quan vào năm 1715, có đoạn ghi: "Từ ngoài vào có điện Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng, Bửu điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh. Hai bên xây lầu chuông, trống; kế tiếp là điện Thập Vương, nhà Vân Thủy, nhà Tri Vị. Điện Đại Bi, điện Dược Sư, Tàng Liêu, Thiền Xá vài chục sở. Ở sau chùa lập vườn Tỳ Da, dựng phương trượng hơn vài mươi sở nữa. Tất cả đều rực rỡ huy hoàng, nhìn vào khiến người ta vui thích, kinh ngạch. Thật rõ ràng là thế giới kim sắc, là quang minh tạng...".[3]
Bấy giờ, chùa uy nghi tráng lệ là vậy nên mới được Thiền sư Thạch Liêm vẽ tranh, vịnh thơ, sau cho chép lên chiếc tô sứ, ký kiểu bên Tàu, để dâng tặng cho Minh Vương Nguyễn Phúc Chu.
天姥曉鍾
既白東方翠積重
曙坰漸與百花濃
斜看雲影江干月
不聽潮聲山寺鍾
獨我閒情衣縹眇
幾人塵夢得從容
悠悠餘韻諸天裏
梵語遙應答曉鍾
Thiên Mụ hiểu chung
Ký bạch đông phương thúy tích trùng
Thự quynh tiệm dữ bách hoa nùng
Tà khan vân ảnh giang can nguyệt
Bất thính triều thanh sơn tự chung
Độc ngã nhàn tình y phiếu miễu
Kỷ nhân trần mộng đắc thung dung
Du du dư vận chư thiên lý
Phạn ngữ dao ưng đáp hiểu chung
Chuông sớm Thiên Mụ
Biêng biếc phương trời buổi rạng đông
Trăm hoa ửng nắng sắc hương nồng
Vẳng nghe, sóng dậy chuông chùa điểm
Ghé mắt, mây phô nguyệt bến lồng
Riêng tớ, tình suông về thăm thẳm
Mấy ai, cảnh mộng tới thong dong
Mang mang dư vận từng không tỏa
Tiếng phạn hồi chuông sớm quyện lòng
(Trần Đình Sơn dịch thơ)
Hòa thượng Thạch Liêm (tức Thích Đại Sán) là vị cao tăng ở chùa Trường Thọ (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Năm 1694, chúa Nguyễn Phúc Chu cho người sang Quảng Đông mời Thích Đại Sán sang thuyết pháp về đạo Phật và lập trai đàn cầu siêu tịnh độ cho dân binh xứ Thuận Hóa. Hòa thượng đã truyền giới Bồ tát cho chúa Nguyễn và hơn 1.400 tăng ni ở Phú Xuân. Chúa Nguyễn được ban pháp danh là Hưng Long, hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân. Từ đó, vương nghiệp của chúa ngày càng gắn bó với chùa Thiên Mụ. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc Đại hồng chung ở chùa Thiên Mụ nặng 3.285 cân (khoảng 2.051 kg), là chiếc chuông lớn thứ nhì ở Việt Nam (chỉ bé thua chuông chùa Cổ Lễ ở tỉnh Nam Định). Chuông được coi là bảo vật của chùa và đã đi vào ca dao như một nét đẹp của xứ Huế sâu lắng, trữ tình:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương
Năm 1715, chúa cho dựng ở phía trái tam quan một bi ký thật lớn, phảng phất phong cách bi ký Đàng Ngoài, nhưng lại in dấu khai phá một phong cách tạo hình cho bi ký xứ Huế sau này. Thiên Mụ bấy giờ trở thành quốc bảo của triều đình Minh Vương. Tiếc thay, thời vàng son ấy rồi cũng lụi tàn. Khi quân Trịnh vượt sông Gianh tiến vào Phú Xuân vào năm 1774, cơ đồ họ Nguyễn tan tành; tiếp theo là sự lan rộng của phong trào Tây Sơn dẫn đến sự kiện 1786, Nguyễn Huệ tiến quân ra Phú Xuân, cả thủ phủ của xứ Đàng Trong chìm trong khói lửa binh đao và chùa Thiên Mụ cũng theo đó mà trở thành hoang phế và đổ nát. Theo ghi chép trong tập Dụ Am ngâm lục của Phan Huy Ích, thì dưới triều Tây Sơn, chùa Thiên Mụ bị triệt hạ, nền chùa được san bằng để làm đàn tế Xã Tắc. Rồi binh diêu cũng mãn cuộc, các vua nhà Nguyễn, từ Gia Long cho đến Khải Định đều dành cho chùa xưa nhiều sự ưu ái. Chùa được vua Minh Mạng liệt vào một trong bốn ngôi quốc tự của kinh sư. Đặc biệt, vua Thiệu Trị là người có công lao to lớn trong việc trùng hưng chùa Thiên Mụ. Năm 1844, nhà vua cho xây tháp Từ Nhân, cao 21,28 m. Tháp dựng xong vua cho đổi tên thành Phước Duyên Bửu Tháp (1845) và dựng bia ghi dấu. Tháp cao bảy tầng bên trong thờ Quá Khứ Thất Phật, theo thứ tự từ tầng 1 ở trên đỉnh xuống đến tầng 7 dưới cùng, gồm: Quá Khứ Tỳ Bà Thi Phật; Thi Khí Phật; Tỳ Xá Phù Phật; Câu Lưu Tôn Phật; Câu Na Hàm Mâu Ni Phật; Ca Diếp Phật và Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật.
Theo Hồng Hoài, tác giả cuốn Ba trăm năm thăng trầm của chùa Thiên Mụ, thì các pho tượng Phật trong tháp đều làm đều bằng vàng, riêng tượng Phật ở tầng trên cùng nặng tới 300 cân vàng. Tiếc rằng mùa đông năm 1942, tượng đã bị kẻ gian lấy mất nên không sao chứng thực được. Vua Thiệu Trị còn cho dựng trước tháp Phước Duyên một tòa nhà hình vuông, đặt tên là đình Hương Nguyện để mỗi khi viếng chùa, vua đến đây làm lễ, dâng hương cúng Phật. Cơn bão năm Thìn (1904) đã làm sập đình Hương Nguyện, phần khung gỗ của tòa nhà này đã được di chuyển vào sau điện Đại Hùng để làm điện Địa Tạng. Bấy giờ, chùa đã được nhà Nguyễn bỏ nhiều công của để trùng tu, tôn tạo nên đã hưng thịnh trở lại, khiến nơi đây trở nên thành "Phật địa" thu hút bao thiện nam tín nữ của xứ thần kinh đến hành hương lễ Phật. Cảm kích trước vẻ đẹp siêu thoát của nhà chùa, lại say cùng cảnh non xanh nước biếc nơi chốn này, vua Thiệu Trị đã liệt hạng chùa Thiên Mụ là cảnh đẹp thứ 14 trong Thần kinh nhị thập cảnh. Bài thơ vịnh cảnh chùa Thiên Mụ của vua Thiệu Trị, tựa là Thiên Mụ chung thanh, được khắc vào bia đá, dựng bên phải tháp Phước Duyên vào năm 1845.
天姥鍾聲
高岡古剎鎮前川
月相常圓自在天
百八洪聲消百結
三千世界醒三緣
噌吰午日幽明感
嘹喨寅宵道味玄
佛蹟聖功垂海宇
善因福果普垓延
Thiên Mụ chung thanh
Cao cương cổ sát trấn tiền xuyên
Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên
Bách bát hồng thanh tiêu bách kết
Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên
Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
Phật tích thánh công thùy hải vũ
Thiện nhân phúc quả phổ cai diên
Tiếng chuông Thiên Mụ
Gò cao chùa cổ trấn dòng trong
Như ánh trăng rằm rạng cõi không
Trăm tám tiếng kình tiêu oán kết
Ba nghìn cõi tục lắng tơ lòng
Văng vẳng trưa vang u giới cảm
Ngân nga sáng vọng đạo thiền nồng
Dấu Phật công Thần ban bốn bể
Nhân lành quả phúc khắp non sông
(Vĩnh Cao dịch thơ)
Bài thơ được in trong Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập của vua Thiệu Trị, cùng với tranh khắc gỗ toàn cảnh chùa Thiên Mụ. Về sau, năm 1845, nhà vua còn cho vẽ tranh lên kính và chép thơ bên cạnh, làm thành một bảo vật quý giá, nay vẫn còn lưu giữ ở Bảo tàng CVCĐ Huế.
Vị vua kế vị Thiệu Trị là Tự Đức, một người tài năng, đức độ, nhưng bệnh tật và yếu đuối. Sinh thời, Tự Đức làm vua trong một bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, anh em tranh chấp ngôi báu, ngoại xâm tấn công, dân tình không thuận. Bản thân nhà vua lại đau ốm, bệnh tật nên không có con. Vì thế nhà vua ngờ rằng ông đã có việc gì đó khinh động đến trời nên bị quở phạt. Để tạ tội, năm 1862 vua Tự Đức hạ chỉ đổi tên tất cả các địa danh có chữ 天 (Thiên: trời) sang chữ khác. Vì thế tên chùa là 天姥 (Thiên Mụ) được đổi thành 靈姥 (Linh Mụ). Bảy năm sau ngày đổi tên, mệnh vua vẫn không khác đi, cho nên, vào năm 1869, nhà vua lại hạ chỉ trả lại tên chùa là 天姥 như xưa. Song bức hoành phi có ba chữ: 靈姥寺 (Linh Mụ tự) vẫn được treo ở tam quan nhà chùa từ thuở ấy đến giờ.
Ngày nay, chùa Thiên Mụ không còn là một ngôi chùa bình thường như bao ngôi chùa khác ở Huế. Đó còn là một nơi du lịch kỳ thú, hấp dẫn biết bao du khách trong và ngoài nước đến viếng chùa, lễ Phật. Những công trình kiến trúc bị hư hại dưới thời Tây Sơn được các vua Nguyễn trùng tu, tôn tạo và được bao thế hệ Phật tử đắp bồi đã tạo cho chùa một cảnh quan nguy nga mà thanh tịnh. Phía sau tam quan, các điện Đại Hùng, Địa Tạng, Quan Âm nối nhau tọa lạc trên trung đạo. Đó là những nơi thờ phụng chư vị Phật và chư vị Bồ Tát. Cuối cùng là ngôi mộ tháp (stupa) của cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, người đã gắn trọn nghiệp tu hành của mình với chùa Thiên Mụ.
Công lao của các chúa Nguyễn khai sơn, kiến tạo cảnh chùa, được các vua Nguyễn trùng hưng, tôn tạo khiến chùa Thiên Mụ gắn bó mãi mãi với người dân xứ Huế. Chùa cũng đã trở thành một bộ phận tổ thành của di sản kiến trúc văn hóa Huế. Chính vì thế mà ngày 27.8.1996, Bộ trưởng Bộ VHTT Trần Hoàn đã ký Quyết định 1964 QĐ/BT công nhận chùa Thiên Mụ là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Tháng 10.1996
*****
Phụ lục 1: VỀ NHỮNG PHO TƯỢNG PHẬT TRONG THÁP PHƯỚC DUYÊN CHÙA THIÊN MỤ
Trong bài giới thiệu chùa Thiên Mụ trên đây, tôi có đề cập những pho tượng Phật được thờ trong tháp Phước Duyên, mà theo nhiều nhà nghiên cứu, những pho tượng ấy đều được làm bằng vàng ròng. Tôi không nghĩ như thế, nên xin góp một đôi lời về những pho tượng ấy.
Chùa Thiên Mụ được coi là ngôi chùa cổ nhất ở Huế, chúa Nguyễn Hoàng cho xây dựng vào năm 1601 để "tụ linh khí cho bền long mạch" như lời truyền của một bà tiên đã từng xuất hiện nơi đây. Dưới thời các chúa Nguyễn (1558 - 1774), cũng như vào thời các vua Nguyễn trị vì sau này (1802 - 1945), chùa được sửa sang, tu bổ nhiều lần. Đặc biệt trong lần trùng tu năm 1844, vua Thiệu Trị đã cho xây một bảo tháp cao bảy tầng, gọi là tháp Từ Nhân. Sách ĐNTL chép: "Giáp thìn, Thiệu Trị năm thứ tư (1844)... bắt đầu xây tháp bảy tầng ở chùa Thiên Mụ, gọi là tháp Từ Nhân, đằng trước dựng đình Hương Nguyện, lấy Thống doanh Hổ oai Hoàng Văn Hậu đốc công việc này".[4] Tháp xây xong được đổi tên là Phước Duyên, bên trong thờ Quá khứ thất Phật (bảy pho tượng Phật thời quá khứ).
Việc thờ các tượng Phật trong tháp được phản ánh trong bài văn Thiên Mụ tự Phước Duyên bửu tháp bi (bia bửu tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ), khắc trên tấm bia dựng ở bên trái, phía trước tháp Phước Duyên, vào tháng Tư năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Bài văn bia có đoạn ghi: "... Kính ư tháp trung thất tằng các phụng kim thân thế tôn, thường viên nguyệt tướng. Chiếu y thích điển phụng cổ Phật dĩ lai. Kỳ đệ nhất quá khứ Tỳ Bà Thi Phật, đệ nhị Thi Khí Phật, đệ tam Tỳ Xá Phù Phật, đệ tứ Câu Lưu Tôn Phật, đệ ngũ Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, đệ lục Ca Diếp Phật, đệ thất Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Tây Phương Cực Lạc Pháp Vương, bồi chi hữu A Nan, Ca Diếp tôn giả, trang nghiêm sắc tướng, bửu lạc huy hoàng" (... Kính cẩn thờ phụng trong tháp bảy tầng các Kim thân Thế tôn thường tròn đầy như mặt trăng. Chiếu theo kinh điển nhà Phật thờ các vị Phật từ trước đến sau: tầng thứ 1 là Quá Khứ Tỳ Bà Thi Phật, [tầng] thứ 2 là Thi Khí Phật, [tầng] thứ 3 là Tỳ Xá Phù Phật, [tầng] thứ 4 là Câu Lưu Tôn Phật, [tầng] thứ 5 là Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, [tầng] thứ 6 là Ca Diếp Phật, [tầng] thứ 7 là Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Tây Thiên Cực Lạc Pháp Vương, có hai tôn giả A Nan và Ca Diếp chầu hầu, tướng mạo trang nghiêm quý báu rực rỡ).
Đối diện với tấm bia trên, phía bên phải có tấm bia khắc bài ngự chế thi của vua Thiệu Trị, tựa Thiên Mụ chung thanh, cũng dựng vào tháng Tư năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Bài dẫn trên tấm bia có đoạn viết: "... Thích Thiên Mụ tự trúc Phước Duyên bửu tháp lạc thành, hoàng tử đẳng quyên dĩ bổn nguyệt sơ lục nhật, phụng kim thân thế tôn cao đăng bửu tháp phúng kinh chúc hổ" (... Nhân dịp khánh thành việc dựng tháp Phước Duyên ở chùa Thiên Mụ, các hoàng tử cùng quyên góp, chọn ngày mồng 6 tháng này kính thỉnh Kim thân Thế tôn lên thiết trí trên bửu tháp và tụng kinh cầu phúc).
Một tấm bia khác dựng ở sau tháp Phước Duyên vào ngày 27 tháng Một năm Khải Định thứ 4 (17.1.1920) có ghi: "... Kỷ mùi niên, quý thu thập ngũ nhật, trẫm thừa dư lâm hành, mệnh Lễ, Công nhị bộ tương thê đảng thượng, hữu quá khứ kim thân thế tôn thất vị, xán lạn huy hoàng, quang thể đoạt mục, phần hương chiêm ngưỡng..." (... Ngày 15 tháng Chín năm Kỷ mùi, trẫm đi xe đến đó, bảo bộ Lễ và bộ Công đem thang đến để lên cao, thấy có tượng bảy vị kim thân thế tôn, xán lạn huy hoàng, sáng sủa đẹp đẽ, thắp hương chiêm ngưỡng...).
Trước nay, nhiều sách vở và công trình khảo cứu đã đề cập đến tháp Phước Duyên và các pho tượng bên trong tháp. Song thông tin mà các tư liệu này đưa ra không thống nhất với nhau thậm chí còn mâu thuẫn với nhau.
Bản dịch ĐNNTC của Viện Sử học có đoạn ghi: "Năm thứ 5 (triều Thiệu Trị), lại ở chỗ chính giữa ngoài cửa nghi môn, xây một cây tháp cao 5 trượng 3 thước 2 tấc, gọi là bảo tháp Phúc (Phước) Duyên. Tháp có bảy tầng, đều thờ Phật thế tôn mình vàng...".[5] Trong khi đó, Thái Văn Kiểm, tác giả cuốn Cố đô Huế, lại cho biết: "Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), vua cho dựng thêm ngoài cửa Nghi Môn một cái tháp hình bát giác cao 5 trượng, 3 thước, 2 tấc, đặt tên là tháp Từ Nhân, sau đổi lại là tháp Phúc Duyên. Tháp có bảy tầng, mỗi tầng thờ một đức Phật, tầng cao nhất thờ đức Phật thế tôn...".[6] Một tác giả khác là Phan Văn Dật trong bài viết Khảo sát về một số cổ tích và địa danh ở Huế qua ca dao, cho hay: "bên trong (tháp Phước Duyên) có đường đi lên theo hình trôn ốc, thời quá khứ thất Phật, mỗi tầng một vị, trên cùng là tượng Kim thân Thế tôn. Tất cả tượng Phật này đều bằng vàng y và đã mất hết trong thời Pháp thuộc".[7] Cụ Phan Văn Dật, cũng như các nhà nghiên cứu khác và đông đảo các sư sãi, tín đồ Phật tử ở Huế đã dùng chữ Đức Thế Tôn để gọi Đức Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, và gọi các tầng lầu, từ tầng 1 đến tầng 7, theo cách tính từ dưới lên trên.
Tuy nhiên, trong cuốn Ba trăm năm thăng trầm của chùa Thiên Mụ, tác giả Hồng Hoài lại viết: "... Vua Thiệu Trị xây dựng tháp Phước Duyên từ năm Giáp thìn (1844) đến năm Bính ngọ (1846) mới xong... Tháp cao 21 m, xây hình bát giác chia làm bảy tầng, đi ở trong lòng theo đường xoáy ốc, mỗi tầng thờ một vị Phật ở đời quá khứ (Quá Khứ Thất Phật). Các tượng Phật này đều bằng vàng ròng. Vị tượng ở tầng thứ nhất ở trên chót nặng 300 kg; các tầng dưới hễ càng xuống tượng càng nhỏ lần, mà vị tượng cuối cùng tầng thứ bảy ở dưới cũng cân nặng 25 kg, vì ký giả (tức Hồng Hoài) giữ sách thủ các vị tượng này nên mới biết được như thế...".[8] Ông Hồng Hoài còn cho biết thêm "... tầng thứ 7 ở dưới trống không, nếu muốn lên tầng thứ 6 ở trên thì phải bắt thang, mà thang này lại do Bộ Công giữ cất. Sở dĩ chìa khóa để một nơi, cái thang do chỗ khác giữ là đề phong sự thông đồng gian dối, cho nên dưới thời vua Bảo Đại, mỗi khi muốn mở tháp có việc cần phải lập "Tam Nha Hội Đồng", nghĩa là bộ Lễ đem chìa khóa đến, bộ Công vác thang đến và Ngự Tiền Văn Phòng do ký giả (tức ông Hồng Hoài) mang sách thủ đến...".[9] Ngược với ý kiến của ông Hồng Hoài, ông Phan Thuận An, tác giả cuốn Kiến trúc cố đô Huế lại cho rằng: "Trong tháp có hệ thống bậc thang xây cuốn từ dưới lên trên, chỉ trừ giữa tầng thứ 6 và tầng thứ 7 (trên cùng) là phải dùng cái thang di động bằng gỗ và cái cửa với chìa khóa đặc biệt, vì ở tầng trên cùng này xưa kia có thờ tượng Phật bằng vàng...".[10]
Qua các khảo cứu được trích dẫn trên đây, tôi nhận thấy giữa các tác giả không có sự thống nhất trên những vấn đề sau:
* Năm nào là năm khởi công xây dựng tháp Phước Duyên? Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844)? (như ý kiến của Thái Văn Kiểm, Hồng Hoài...) hay năm Thiệu Trị thứ 5 (1845)? (như thông tin của sách ĐNNTC).
* Tầng 1 ở trên cao? (như ý kiến của ông Hồng Hoài) hay ở dưới cùng? (như ý kiến của các ông Thái Văn Kiểm, Phan Văn Dật, Phan Thuận An...). Như vậy, các pho tượng được thiết trí ra sao?
* Có bao nhiêu pho tượng bằng vàng trong tháp?
Với mong muốn tìm lời giải đáp cho những thắc mắc trên, tôi đã tham gia một chuyến khảo cứu tại chùa Thiên Mụ và may mắn được vào thăm bên trong tháp Phước Duyên. Tôi xác nhận một số điểm sau:
* Thứ nhất, căn cứ vào nội dung bài văn bia "Thiên Mụ tự Phước Duyên bửu tháp bi" và thông tin trong ĐNTL,[11] có thể khẳng định rằng tháp Phước Duyên được khởi công xây dựng vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) chứ không phải là vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) như ghi chép của ĐNNTC.
* Thứ hai, hệ thống cầu thang xoắn ốc bên trong bắt đầu từ dưới cùng và kéo dài qua sáu tầng tháp. Muốn lên tầng trên cùng phải đi qua một cầu thang gỗ di động và một tấm cửa luôn đóng kín. Được biết, trong lần trùng tu tháp Phước Duyên vào dịp Cửu tuần Đại khánh tiết (mừng thọ 90 tuổi) của Đức Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) vào năm 1899 triều Thành Thái, hệ thống cầu thang này hoàn toàn không bị xáo động. Như vậy, ông Hồng Hoài đã không chính xác khi cho rằng tầng thứ bảy ở dưới cùng thì để trống và phải qua một cầu thang gỗ di động để lên tầng thứ sáu tiếp theo đó. Chính ông Hồng Hoài cũng đã tự mâu thuẫn khi vừa viết tầng thứ bảy có thờ một "vị tượng bằng vàng nặng 25 kg". Sau đó lại viết rằng "tầng thứ 7 ở dưới trống không" (!).
* Về cách thiết trí các pho tượng Phật, theo những chữ Hán ghi ở phía sau mỗi pho tượng, bên trên các bàn thờ, tôi thấy tầng dưới cùng thờ Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật; tiếp theo là Ca Diếp Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật... và trên cùng là Quá Khứ Tỳ Bà Thi Phật. Điều này khác với tư liệu của cụ Phan Văn Dật khi cụ cho rằng tầng trên cùng thờ Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật (mà cụ gọi là Kim thân Thế tôn). Từ đó, tôi cho rằng tầng 1, theo cách gọi của văn bia trước chùa, là tầng trên cùng và tầng 7 là tầng dưới chót, ngược với cách hiểu của các tác giả Thái Văn Kiểm, Phan Văn Dật, Phan Thuận An.
Song vẫn tồn tại một vấn đề khá phức tạp. Đó là có phải tất cả các pho tượng trong tháp đều bằng vàng ròng không? Vì các pho tượng đều bị mất năm 1942 nên tôi chưa thể có câu trả lời chính xác. Tuy nhiên, do cách bố trí hệ thống cầu thang có sự khác biệt giữa tầng trên cùng với những tầng kia. Đặc biệt, việc xuất hiện cái thang gỗ lưu động do bộ Công cất giữ và cánh cửa có chìa khóa do bộ Lễ quản lý, chứng tỏ tầng trên cùng có một chế độ bảo vệ đặc biệt và vô cùng nghiêm ngặt. Từ đó, tôi cho rằng chỉ có pho tượng ở tầng trên cùng mới thực sự bằng vàng. Chữ 金 (kim) trong 金身世尊 (kim thân thế tôn) khắc trên bia không chỉ mang nghĩa vàng hay bằng vàng để hiểu rằng các pho tượng đều làm bằng vàng ròng như nhiều người diễn giải. Hán Việt tự điển của Thiều Chửu đã giải nghĩa chữ 金 (kim) với 10 nghĩa, trong đó có hai nghĩa sau: "Phàm các vật lấy ở mỏ mà có thể nấu chảy ra và biến hóa được hình chất đi đều được gọi là kim (金), như vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc ngày xưa gọi là ngũ kim" và "kim (金): dùng để nói các bậc tôn quý như kim khẩu: miệng vàng. Nói về Phật, về thần, về vua chúa đều dùng chữ kim như kim ngôn: lời vàng, lời của các bậc thánh hiền nói".[12] Cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh cũng giải nghĩa chữ 金 (kim) với sáu nghĩa và đưa ra 79 từ có từ tố kim hợp thành. Đáng chú ý là các từ: "金榜 (kim bảng): bảng vàng, bảng đề tên những người thi đậu tiến sĩ trong khoa cử".[13] "金人 (kim nhân): tượng người bằng vàng hoặc đồng hay sắt".[14] Đặc biệt, chữ 金身 (kim thân) được chú giải: "mình vàng - tượng Phật".[15] Như thế, các chữ 金身世尊 (kim thân thế tôn) trong các văn bia nói trên chỉ là một mỹ từ dùng để tôn vinh các pho tượng Phật, hoặc có nghĩa là những pho tượng Phật được làm bằng kim khí nói chung. Vậy thì chắc gì cả bảy pho tượng đó đều làm bằng vàng? Và sẽ giải thích như thế nào về cái cầu thang gỗ di động và chế độ quản thủ riêng biệt kia?
Tháng 8.1992
Phụ lục 2: NHỮNG TRANG TRÍ BẰNG PHÁP LAM TẠI THÁP PHƯỚC DUYÊN CHÙA THIÊN MỤ
1. Phước Duyên bửu tháp
Tháp Phước Duyên là một trong những công trình kiến trúc trọng yếu của chùa Thiên Mụ. Tòa bửu tháp này không chỉ là biểu tượng của ngôi quốc tự danh tiếng bậc nhất cố đô Huế mà còn là biểu trưng của vùng đất được suy tôn là "Thiền kinh" của Việt Nam.
Tháp được khởi công xây cất vào năm 1844 dưới triều Thiệu Trị (1841 - 1847), muộn hơn thời điểm khai sinh ngôi cổ tự gần 2,5 thế kỷ, nhưng lại giữ một vị trí đặc biệt trong kiến trúc và cảnh quan của chùa Thiên Mụ. Sách ĐNTL viết: "Giáp thìn, Thiệu Trị năm thứ 4 (1844)... bắt đầu xây tháp bảy tầng ở chùa Thiên Mụ, gọi là tháp Từ Nhân, đằng trước dựng đình Hương Nguyện, lấy Thống doanh Hổ oai Hoàng Văn Hậu đốc công việc này".[16] Năm 1845, tháp xây xong đổi tên là Phước Duyên bửu tháp.
Đó là một tòa tháp cao bảy tầng, xây bằng gạch mộc, trên một phần móng cũng xây bằng gạch, bó vỉa bằng đá thanh. Mặt tiền của tháp hướng về phía nam, nơi có dòng sông Hương uốn lượn chảy qua trước cửa chùa Thiên Mụ. Bình đồ của tháp hình bát giác cân phân, càng lên cao càng nhỏ dần, theo kiểu "thượng thu hạ thách". Chiều cao của tháp tính từ mặt đất ở chân tháp đến miệng bình cam lồ gắn trên đỉnh tháp là 22,26 m, trong đó, phần móng cao 1,16 m, bảy tầng tháp cao 19,8 m, bình cam lồ cao 1,30 m.[17]
Tháp Phước Duyên thờ Quá Khứ Thất Phật, mỗi tầng một vị. Văn bia Ngự chế Thiên Mụ tự Phước Duyên bửu tháp bi (Văn bia vua viết về bửu tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ) lập vào tháng Tư năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), khắc trên bia đá dựng ở phía trước bên trái tòa tháp, có đoạn viết: "... Kính ư tháp trung thất tằng các phụng kim thân thế tôn, thường viên nguyệt tướng. Chiếu y thích điển phụng cổ Phật dĩ lai. Kỳ đệ nhất quá khứ Tỳ Bà Thi Phật, đệ nhị Thi Khí Phật, đệ tam Tỳ Xá Phù Phật, đệ tứ Câu Lưu Tôn Phật, đệ ngũ Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, đệ lục Ca Diếp Phật, đệ thất Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Tây Phương Cực Lạc Pháp Vương, bồi chi hữu A Nan, Ca Diếp tôn giả, trang nghiêm sắc tướng, bửu lạc huy hoàng" (... Kính cẩn thờ phụng trong tháp bảy tầng các Kim thân Thế tôn thường tròn đầy như mặt trăng. Chiếu theo kinh điển nhà Phật thờ các vị Phật từ trước đến sau: tầng thứ 1 là Quá Khứ Tỳ Bà Thi Phật, [tầng] thứ 2 là Thi Khí Phật, [tầng] thứ 3 là Tỳ Xá Phù Phật, [tầng] thứ 4 là Câu Lưu Tôn Phật, [tầng] thứ 5 là Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, [tầng] thứ 6 là Ca Diếp Phật, [tầng] thứ 7 là Trung Thiên Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Văn Phật, Tây Thiên Cực Lạc Pháp Vương, có hai tôn giả A Nan và Ca Diếp chầu hầu, tướng mạo trang nghiêm quý báu rực rỡ).
Đối diện với tấm bia này, ở phía bên phải có tấm bia khắc bài thơ Thiên Mụ chung thanh (Tiếng chuông Thiên Mụ) của vua Thiệu Trị, cũng dựng vào tháng Tư năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Bài dẫn khắc trên bia có đoạn viết: "... Thích Thiên Mụ tự trúc Phước Duyên bửu tháp lạc thành, hoàng tử đẳng quyên dĩ bổn nguyệt sơ lục nhật, phụng Kim thân Thế tôn cao đăng bửu tháp phúng kinh chúc hổ" (... Nhân dịp khánh thành việc dựng tháp Phước Duyên ở chùa Thiên Mụ, các hoàng tử cùng quyên góp, chọn ngày mồng 6 tháng này kính thỉnh Kim thân Thế tôn lên thiết trí trên bửu tháp và tụng kinh cầu phúc).
Đối chiếu nội dung văn bia với trật tự bài trí các tượng Phật trong bảy tầng tháp cho thấy thứ tự các tầng tháp được tính từ trên xuống dưới, theo đó tầng trên cùng là tầng thứ nhất và tầng dưới cùng là tầng thứ bảy, là nơi thiết trí tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và tượng hai tôn giả An Nam và Ca Diếp.[18]
Trải qua 160 năm tồn tại, do ảnh hưởng của thời gian, thiên tai và chiến tranh, tháp bị hư hại khá nhiều nên đã được trùng tu nhiều lần. Lần trùng tu quy mô đầu tiên diễn ra vào năm Thành Thái thứ 11 (1899). Sau khi trùng tu, bộ Công cho dựng một tấm bia nhỏ ở sau lưng tháp để lưu dấu tích. Năm Duy Tân thứ 2 (1908), bộ Công lại tu bổ tháp Phước Duyên do tháp bị sét đánh hư. Năm 1959, tháp được chính quyền sở tại đại trùng tu, sửa chữa phần lớn các tầng mái, phục hồi những chữ Hán gắn trên những hoành phi và câu đối ở mặt trước các tầng tháp đã bị hư hại. Sau khi hoàn tất trùng tu, ngày 15.9.1959 chính quyền lúc đó đã phát hành bộ tem Tháp Thiên Mụ (gồm hai con tem) để đánh dấu sự kiện này.[19] Trong các năm 2004 - 2007, chùa Thiên Mụ được trùng tu quy mô lớn, trong đó có tháp Phước Duyên. Quá trình trùng tu tháp Phước Duyên diễn ra từ tháng 8 đến tháng 12.2004, chủ yếu là lợp lại các tầng mái, xử lý chống dột, quét vôi nội thất, tu bổ hệ thống hoa văn của các ô cửa sổ ở các tầng tháp và đặc biệt là tu bổ các đồ án trang trí bằng pháp lam gắn ở tám bờ góc của tất cả các tầng mái.[20] Công cuộc tu bổ hoàn thành, hình hài xưa của tháp Phước Duyên được trả lại gần như nguyên trạng. (Bản vẽ 3) Tòa bửu tháp cổ kính uy nghi tỏa bóng xuống dòng Hương như đã từng trong suốt 160 năm qua.
2. Những trang trí bằng pháp lam ở tháp Phước Duyên
Những trang trí bằng chất liệu pháp lam trên tháp Phước Duyên bao gồm: bình cam lồ gắn trên đỉnh tháp, các cù dao gắn ở góc đao mái của bảy tầng tháp và những chữ Hán gắn trên các bức hoành phi và câu đối ở mặt tiền của bảy tầng tháp.
* Bình cam lồ: Bình cam lồ hình tựa quả bầu eo, miệng vút, cao 1,30 m, rỗng lòng. Cốt bình làm bằng đồng thau dát mỏng, bên ngoài tráng men màu vàng. Quanh eo bình gắn một dải hoa văn hình ngọn lá liên hoàn, cũng bằng chất liệu pháp lam, tráng men màu lục đậm. Bình được gắn vào một bệ đá thanh nhỏ hình bát giác được gắn với một phiến đá thanh hình vuông. Tất cả được gắn chặt vào đỉnh tháp bằng hồ vữa và gia cố bằng các sợi đồng liên kết với bệ đá. Trải bao năm tháng, lớp men phủ bên ngoài bình đã bong tróc khá nhiều, nhưng màu sắc của lớp men còn lại (khoảng 80%) vẫn tươi nguyên như cũ. Vì thế, bình vẫn được giữ lại qua mấy kỳ trùng tu, là hiện vật nguyên gốc, xứng danh là cổ vật pháp lam có kích thước lớn nhất trong các cổ vật pháp lam mà triều Nguyễn để lại trên đất Huế.
* Các cù dao: Cù dao là tên người Huế gọi các tổ hợp trang trí theo đồ án "vân hóa long" gắn trên các bờ nóc, bờ quyết của các cung điện, lăng tẩm, miếu vũ ở Huế xưa. Các đồ án trang trí này thường được đắp bằng vôi vữa, cement, khảm sành sứ… Trong hệ thống cung điện, đền đài… của vương triều Nguyễn, có rất nhiều đồ án "vân hóa long" làm bằng pháp lam. Trên tháp Phước Duyên, có tất cả 56 cù dao làm bằng pháp lam gắn ở tám góc mái của bảy tầng mái tháp. Mỗi cù dao gồm hai mảnh ốp với nhau, được liên kết bằng các sợi dây đồng, bên trong có lõi sắt để gia cường. Cốt của các cù dao này cũng làm bằng đồng thau. Lớp men phủ bên ngoài có bốn sắc màu chính là vàng, đỏ tía, xanh cobalt và lục. Tùy từng vị trí mà mỗi sắc màu lại được thể hiện đậm nhạt khác nhau, tạo nên một bảng hòa sắc đặc trưng của hệ pháp lam Huế. Kích thước của các cù dao ở mỗi tầng mái cũng khác nhau: các cù dao ở mái tầng 1 có kích thước 0,32 m x 0,30 m, các cù dao ở mái tầng 2 có kích thước 0,35 m x 0,30 m, các cù dao ở mái tầng 3 có kích thước 0,33 m x 0,32 m, các cù dao ở mái tầng 4 có kích thước 0,33 m x 0,27 m, các cù dao ở mái tầng 5 có kích thước 0,32 m x 0,25 m, các cù dao ở mái tầng 6 có kích thước 0,35 m x 0,22 m, lớn nhất là các cù dao ở mái tầng 7 có kích thước 0,76 m x 0,35 m.[21]
* Chữ Hán trên các bức hoành phi và câu đối: Phía trên khung cửa chính của mỗi tầng tháp đều có một ô hình chữ nhật, gắn một bức hoành phi bằng chữ Hán. Ngoại trừ bức hoành phi ở mặt tiền tầng 7 khắc bốn chữ 福緣寶塔 (Phước Duyên bửu tháp), là tên của tòa tháp, các hoành phi còn lại trích dẫn từ kinh sách, giáo lý của Phật giáo. Ngoài ra, ở hai bên các khung cửa chính của mỗi tầng còn có những đôi câu đối nội dung đề cập đến luân lý nhà Phật. Nguyên thủy đây là những chữ Hán rời, được gò bằng đồng và tráng men pháp lam bên ngoài, rồi gắn lên tấm bảng đồng làm nền bức hoành phi, hoặc gắn trực tiếp vào nền gạch ở vị trí các câu đối. Chữ Hán gắn lên hoành phi tráng men màu vàng, còn chữ Hán gắn lên câu đối tráng men màu tím đậm. Kiểu trang trí chữ Hán rời bằng pháp lam này cũng xuất hiện trên phương môn dựng trước khu vực tẩm điện tại Xương Lăng - lăng mộ của vua Thiệu Trị, do vua Tự Đức (1848 - 1883) cho xây dựng năm 1848. Theo thời gian, nhiều chữ Hán trên các hoành phi câu đối đã rơi rụng dần, nhà chùa đành cho viết lại các chữ Hán bằng sơn trực tiếp lên nền hoành phi, câu đối.
Trong quá trình trùng tu tháp Phước Duyên năm 2004, nhiều hạng mục trang trí bằng pháp lam của tháp Phước Duyên đã được tu bổ, gia cố. Cụ thể:
* Bình cam lồ: Mặc dù lớp men phủ bên ngoài bình đã bong tróc khoảng 20% nhưng do bình có kích thước lớn, kỹ thuật phục chế pháp lam của đơn vị thi công trùng tu chưa đáp ứng được nên bình vẫn được giữ nguyên trạng, chỉ làm sạch phần rêu phong, han gỉ bên ngoài bình và thay thế các dây đồng liên kết bình với bệ đỡ bên dưới.
* Các cù dao: 80% các cù dao bằng pháp lam đều bị hư hỏng, chủ yếu là cốt đồng đã bị bong men, dây buộc bằng đồng hai mặt cù dao bị đứt gãy, mất mát, phần lõi bằng sắt ở giữa các mặt của cù dao đã bị gỉ sét, đứt gãy… Vì thế, sau khi khảo sát hiện trạng và xin ý kiến tư vấn từ các chuyên gia và đại diện của chùa Thiên Mụ, đơn vị thi công đã tiến hành phục chế 22/56 cù dao, bao gồm 33/112 mặt cù dao cũ bị bong men đã được tái sử dụng để phủ men mới và nung lại, phục chế hoàn toàn hai mặt cù dao đã bị gãy mất ở mái tầng 2.[22] Cụ thể như sau:
- Mái tầng 2 phục chế hai mặt các cù dao số 4 [23] và số 6.
- Mái tầng 3 phục chế hai mặt các cù dao số 2, số 5, số 6 và số 7.
- Mái tầng 4 phục chế một mặt các cù dao số 3 và số 8; phục chế hai mặt cù dao số 4.
- Mái tầng 5 phục chế một mặt các cù dao số 2 và số 8; phục chế hai mặt các cù dao số 4, số 5 và số 7.
- Mái tầng 6 phục chế hai mặt các cù dao số 4 và số 7.
- Mái tầng 7 phục chế một mặt các cù dao số 2 và số 4; phục chế hai mặt các cù dao số 5 và số 6.
Ngoài ra, 77 mặt cù dao cũ tuy đã bị bong men từng phần nhưng chất lượng còn tốt, độ bao phủ của men chiếm hơn 60% diện tích bề mặt và màu sắc men vẫn còn tươi, bền nên chỉ làm sạch bề mặt và lắp vào các vị trí cũ.
* Bức hoành phi "Phước Duyên bửu tháp": Bức hoành phi này đã rơi hết chữ và bề mặt hoành phi đã bong men gần như toàn bộ nhưng dấu vết màu sắc và đường nét của chữ vẫn còn. Vì thế, nhà chùa đã kiến nghị đơn vị thi công tu phục hồi lớp men bề mặt của hoành phi và phục chế lại các chữ Hán đã bị mất bằng chất liệu pháp lam.
Tháng 1.2005, quá trình trùng tu tháp Phước Duyên hoàn tất. Tòa tháp đã được trả lại dung mạo như xưa. Những trang trí pháp lam nguyên thủy và phục nguyên trên tòa tháp đã hòa quyện với nhau, góp phần tái hiện nét đẹp vĩnh hằng của tháp Phước Duyên.
3. Thay lời kết
So với các công trình kiến trúc thuộc dòng kiến trúc cung đình triều Nguyễn thì việc ứng dụng chất liệu pháp lam trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ là không nhiều, nhưng đây là kiến trúc Phật giáo duy nhất ở Huế có sử dụng các trang trí bằng pháp lam, vốn là chất liệu quý thời Nguyễn, chỉ được dùng cho các kiến trúc cung đình. Điều này chứng tỏ vua Thiệu Trị đã tỏ sự "ưu ái" đối với ngôi bảo tháp cũng như đối với chùa Thiên Mụ. Mặt khác, điều này cũng góp phần chứng tỏ vị thế đặc biệt của quốc tự Thiên Mụ trong hệ thống quan tự ở Huế thời Nguyễn.
Tháp Phước Duyên là nơi đầu tiên xuất hiện kiểu trang trí pháp lam bằng chữ Hán đúc rời, gắn lên bảng đồng hoặc trực tiếp gắn lên nền gạch, tạo thành các hoành phi và câu đối trang trí cho công trình kiến trúc. Kiểu trang trí này về sau xuất hiện trong lăng mộ vua Thiệu Trị, với bức hoành phi mang dòng chữ 明德遠矣 (Minh đức viễn hĩ) và đôi câu đối gắn trên phương môn làm bằng đá cẩm thạch uy nghi, bề thế dựng ở trước tẩm điện. Sau đó, tiếp tục xuất hiện trong kiến trúc lăng mộ Kiên Thái Vương, phụ thân của vua Đồng Khánh. Đó là sự tiếp nối một kiểu thức trang trí khởi sinh từ công trình kiến tạo tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, vì thế mang tính tiên phong.
Việc sử dụng chất liệu pháp lam để tạo thành các đồ án trang trí ngoài trời là một thành tựu tuyệt vời của pháp lam Huế. Tuy Việt Nam không phải là nơi phát minh ra pháp lam, nhưng các nghệ nhân pháp lam thời Nguyễn đã ứng dụng kỹ nghệ pháp lam vào cuộc sống sáng tạo hơn các bậc thầy Trung Hoa đã truyền nghề cho họ. Trong khi người Trung Quốc, người Nhật Bản, người phương Tây… chỉ coi pháp lang / shipouyaki / émaux / painted enamels… như một thứ chất liệu để sản xuất ra các vật dụng sinh hoạt, thờ tự hay những món đồ lưu niệm xinh xắn, thì các nghệ nhân pháp lam thời Nguyễn đã vận dụng pháp lam như một loại vật liệu kiến trúc trong công cuộc kiến thiết các cung điện lăng tẩm, chùa chiền ở Huế. Họ đã lợi dụng tính chất bền vững trước các tác động cơ - lý - hóa của pháp lam để tạo thành các đồ án trang trí, gắn lên ngoại thất các công trình kiến trúc, vốn được xây dựng trong một vùng đất có khí hậu và thời tiết khắc nghiệt, vừa làm cho công trình được bền vững, vừa giảm được vẻ u tịch của một kinh đô cổ kính. Vì thế mà trải qua 160 năm tồn tại, những trang trí bằng pháp lam ở tháp Phước Duyên vẫn tươi nguyên màu sắc, dù phải chịu nhiều tác động bởi thời gian, chiến tranh và khí hậu xứ Huế. Và cũng nhờ vậy mà bình cam lồ trên đỉnh tháp Phước Duyên vẫn không ngừng tỏa "ánh đạo vàng" và tòa tháp vẫn giữ nguyên nét lộng lẫy như xưa, uy nghi tỏa bóng xuống dòng Hương, xứng đáng là một biểu trưng của xứ Thiền kinh.
Tháng 4.2014
CHÚ THÍCH
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, ĐNNTC, Tập 1, Bản dịch của Viện sử học, Nxb KHXH, Hà Nội, 1969, tr. 83.
[2] Dương Văn An, Ô châu cận lục, Bản dịch của Bùi Lương, Văn hóa Á châu xuất bản, Sài Gòn, 1961.
[3] Dẫn theo Trần Đình Sơn, "Thiên Mụ ngày xưa", NCVHNT, Số 3/1993, tr. 88.
[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, ĐNTL, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb KHXH, Hà Nội, Tập 25, 1971, tr. 34.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, ĐNNTC, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb KHXH, Hà Nội, Tập 1, 1969, tr. 72.
[6] Thái Văn Kiểm, Cố đô Huế, Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn xuất bản, Tập thượng, 1960, tr. 79.
[7] Mỹ thuật, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế xuất bản, Tập 1, 1974, tr. 72.
[8] Hồng Hoài, Ba trăm năm thăng trầm của chùa Thiên Mụ, Xuân Hữu xuất bản.
[9] Hồng Hoài, Sách đã dẫn.
[10] Phan Thuận An, Kiến trúc cố đô Huế, Công ty Quản lý Di tích Huế xuất bản, 1990, tr. 129.
[11] Quốc sử quán triều Nguyễn, ĐNTL, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb KHXH, Hà Nội, Tập 25, 1971, tr. 34.
[12] Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, Tái bản lần thứ 2, Nhà in Hưng Long, Sài Gòn, 1966, tr. 708.
[13] Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển, In lần thứ 3, Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1957, tr. 427.
[14] Đào Duy Anh, Sách đã dẫn, tr. 427.
[15] Đào Duy Anh, Sách đã dẫn, tr. 429.
[16] Quốc sử quán triều Nguyễn, ĐNTL, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb KHXH, Hà Nội, Tập 25, 1971, tr. 34.
[17] Chiều cao của tháp Phước Duyên ghi trong các tư liệu công bố trước đây không thống nhất với nhau: sách ĐNNTC của Quốc sử quan triều Nguyễn viết: "… tháp cao 5 trượng 3 thước 2 tấc…); sách Cố đô Huế của Thái Văn Kiểm viết: "… tháp hình bát giác cao 5 trượng, 3 thước, 2 tấc…"; sách Ba trăm năm thăng trầm của chùa Thiên Mụ của Hồng Hoài viết: "... tháp cao 21 m, xây hình bát giác chia làm bảy tầng…".
Trong bài viết này tôi sử dụng số liệu từ các bản vẽ trong hồ sơ trùng tu tháp Phước Duyên, do Phân viện Khoa học Công nghệ Xây dựng miền Trung (thuộc Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, Bộ Xây dựng) thực hiện. Nhân đây, tôi xin chân thành cám ơn KTS. Đỗ Thị Thanh Mai, Phó Giám đốc Phân viện Khoa học Công nghệ Xây dựng miền Trung đã cung cấp và cho phép tôi sử dụng các bản vẽ này để minh họa cho nội dung bài viết.
[18] Xem thêm: Về những pho tượng Phật trong tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ.
[19] Dẫn theo: Hà Xuân Liêm, Chùa Thiên Mụ, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999, tr. 250-251.
[20] Lần trùng tu này do Trung tâm BTDT Cố đô Huế làm chủ đầu tư, Phân viện Khoa học Công nghệ Xây dựng miền Trung (thuộc Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, Bộ Xây dựng) là đơn vị thi công.
[21] Nguồn: Hồ sơ trùng tu tháp Phước Duyên, chùa Thiên Mụ do Phân viện Khoa học Công nghệ Xây dựng miền Trung (thuộc Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, Bộ Xây dựng) thực hiện năm 2004.
[22] Nguồn: Tờ trình về việc tu bổ, phục hồi con giống và biển hoành phi pháp lam, công trình tháp Phước Duyên, chùa Thiên Mụ do Phân viện Khoa học Công nghệ Xây dựng miền Trung (thuộc Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, Bộ Xây dựng) trình Giám đốc Trung tâm BTDT Cố đô Huế ngày 20.8.2004.
[23] Cù dao số 1 nằm ở góc trái mặt trước của tháp, các cù dao số 2 trở đi được đánh số theo trật tự ngược chiều kim đồng hồ, cuối cùng là vị trí số 8 ở góc phải mặt trước của tháp.






Comments
Post a Comment