Từ vụ bắn lầm vào Trường Phước Đức đến vụ trực thăng phát nổ tại Tây Ninh.
BÀI THỨ HAI: CHIẾC TRỰC THĂNG CHỞ TRUNG TƯỚNG ĐỖ CAO TRÍ PHÁT NỔ.
Để các bạn tiện theo dõi, chúng tôi xin lập lại ở đây một phần của bài viết mà chúng tôi đã gửi đến các bạn trước đây.
Theo như chúng ta đã được biết thì trong cuộc Hành Quân Toàn Thắng trên lãnh thổ Cao Miên, quân ta đã đánh thẳng vào gần đến sào huyệt của Trung Ương Cục R của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đến hạ tuần tháng Hai 1971 thì sào huyệt của chúng bị quân ta bao vây tứ phía và cắt đứt liên lạc của chúng. Như vậy, ngay cả Hà Nội cũng không liên lạc vô tuyến với Cục R nên chúng quýnh lên, phải đi đêm với Mỹ tại Hoà Đàm Ba Lê.
Ngày 23 tháng Hai 1971, giới lãnh đạo quân sự cao cấp của Việt - Mỹ có mặt tại Trảng Lớn, Tây Ninh, để họp bàn về việc tiến quân. Phía Việt Nam Cộng Hoà có Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và Trung Tướng Đỗ Cao Trí. Trung Tướng Trí muốn tiếp tục tiến quân để xoá sổ cái gọi là Cục R quái ác kia đi. Phía Mỹ phản đối kịch liệt. Họ muốn phía Việt Nam Cộng Hoà đánh cầm chừng sao cho vừa đủ để có thể đàm phán với Bắc Việt và MTGPMN ở thế ngang hàng. Sau một lúc tranh cãi gay gắt, Đại Tướng Viên và Trung Tướng Trí bỏ phòng họp đi ra, và vào phòng riêng để bàn thảo thêm. Sau đó, Đại Tướng Viên lên trực thăng về Bộ Tổng Tham Mưu trước còn Trung Tướng Trí thì phải ở lại thêm một lúc nữa để ra chỉ thị cho các sĩ quan tham mưu. Đại Tướng Viên vừa về đến nơi thì được tin chiếc trực thăng chở Trung Tướng Trí và đoàn tuỳ tùng phát nổ, chỉ vài phút sau khi cất cánh.
Theo như các nhân chứng có mặt tại Trảng Lớn vào lúc đó thì có một sự việc mà chúng ta cần ghi nhận. Đó là khi Đại Tướng Viên và Trung Tướng Trí vừa bỏ phòng họp với các tướng lãnh Hoa Kỳ để sang phòng họp riêng thì có một quân nhân Hoa Kỳ bê một thùng đựng pile dành cho máy truyền tin ra chiếc trực thăng của Trung Tướng Trí. Ông này muốn nhờ đem thùng pile này cho toán cố vấn Mỹ đang có mặt tại nơi mà Trung Tướng Trí sẽ đến.
Thấy vậy, viên phi công trưởng của chiếc trực thăng là Thiếu Tá Đắc nói rằng cần phải hỏi ý kiến Đại Uý Tuấn là sĩ quan tuỳ viên của Trung Tướng Trí. Đại Uý Tuấn nói với Thiếu Tá Đắc rằng "Nếu đây là vì nhu cầu hành quân thì thiếu tá cứ nhận đi. Nếu trung tướng có rầy la, tôi xin nhận trách nhiệm".
Anh quân nhân Hoa Kỳ kia đặt thùng pile lên sàn chiếc trực thăng của Trung Tướng Trí đúng vào lúc Đại Tướng Cao Văn Viên ra chiếc trực thăng riêng của ông.
Một lúc sau, chiếc trực thăng chở Trung Tướng Trí mới cất cánh. Nó nổ tung chỉ vài phút sau đó, mọi người đứng dưới mặt đất tại Trảng Lớn có thể trông thấy rất rõ ràng.
Nếu các bạn tin rằng chiếc trực thăng đã phát nổ vì thùng pile kia có một thứ gì khác ngoài pile thì đó là quyền kết luận của các bạn. Phần tôi, tôi xin bổ túc một sự việc có thể có liên quan mà mãi cho đến nay rất ít người được biết, hoặc để ý đến.
Ngày 12 tháng Hai 1971, tức là trước đó 11 ngày, Thiếu Tướng Neak Sam, Tư Lệnh Mặt Trận Đông - Nam Campuchea, tử trận. Ông là vị tướng lãnh cao cấp nhất của Quân Đội Cộng Hoà Khmer có trách nhiệm phối hợp với các lực lượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Cái chết của Tướng Sam giống như cái chết của Cố Trung Tướng Trình Minh Thế trước kia. Ông bị một viên đạn bắn vào đầu từ phía sau. Cuộc điều tra không đi đến kết luận với lý do là Quân Đội Cộng Hoà Khmer sử dụng vũ khí cả của Hoa Kỳ lẫn khối Cộng Sản. Do đó, không tìm ra nghi phạm.
Một số bạn khác lại chú ý đến sự việc thứ hai, liên quan đến ký giả Francois Sully. Ông này người Pháp nhưng làm việc cho tờ Newsweek của Hoa Kỳ và Việt Tấn Xã từ năm 1962.
Trước đó, Sully có ghé vào Dinh Độc Lập với một chiếc cặp Samsonite trên tay. Sau đó, ông trở ra cũng với chiếc cặp đó và cũng cầm nó theo với ông lên trực thăng và rồi cùng chết với Trung Tướng Đỗ Cao Trí. Những người chú ý đến sự việc này nhấn mạnh đến việc không một ai khám xét chiếc cặp của Sully có những gì bên trong và có thể vụ nổ là do chiếc cặp này, chứ không phải thùng đựng pile mà người lính Mỹ đã gửi. Khi nói như vậy, những người này tin rằng chiếc trực thăng đã nổ không do phía Mỹ mà do Dinh Độc Lập, và rằng Sully cũng chết chứng tỏ rằng một ai đó đã bỏ thứ gì đó vào trong cặp mà chính Sully cũng không biết.
Cá nhân chúng tôi không tin rằng vụ nổ là do chiếc cặp này. Nếu như Sully có xách chiếc cặp đó vào Dinh Độc Lập và trở ra cũng với chiếc cặp đó rồi sau đó cầm nó lên phi cơ thật chăng nữa thì không ai dại gì bỏ bất cứ vật gì khả nghi vào trong đó. Lý do là chiếc cặp của Sully không phải là một hành trang ngoại giao nên nó có thể bị khám xét bất cứ lúc nào. Như vậy, Dinh Độc Lập không có liên quan gì đến vụ nổ này. Bây giờ, chúng tôi mời các bạn cùng xem một chi tiết khác mà trước đây chúng ta ít để ý đến.
Đó là, một ít trong số những người tình cờ nhìn theo chiếc trực thăng trước khi nó phát nổ đã miêu tả lại những gì mà họ chứng kiến. Bên cạnh đó, một số trong những người có mặt trong các uỷ ban điều tra tại hiện trường đã chụp hình các mảnh vỡ của trực thăng. Căn cứ vào các dữ kiện do những người này cung cấp, hầu hết các chuyên gia về chất nổ tin rằng tiếng nổ phát ra từ thùng nhiên liệu chứ không phải từ thùng pile hay chiếc cặp của Francois Sully.
Bắt đầu từ năm 1993, tôi có dịp nói chuyện nhiều lần với một cựu sĩ quan Tình Báo Hải Quân Hoàng Gia Anh Quốc. Cụ này đã về hưu từ lâu và quyết định sống những ngày cuối đời tại Úc, nơi cụ có mấy đứa cháu đang phục vụ trong Hải Quân Hoàng Gia Úc Đại Lợi. Nhờ cụ mà tôi được gặp hai chuyên viên về chất nổ của Hải Quân Hoàng Gia Úc Đại Lợi. Khi tôi nói về hai giả thuyết nói trên, tức là hoặc là thùng pile hoặc là chiếc cặp của Sully đã làm chiếc trực thăng phát nổ, cả ba đều phì cười. Họ cho tôi biết rằng những ai có quyền hành trong tay, có một đạo binh trong tay không cần dùng đến những trò trẻ con đó. Với những gì mà kể cho tôi nghe cộng với những gì mà cá nhân chúng tôi đã tìm hiểu được, chúng tôi xin tóm lược như sau.
Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, tất cả những ai có quyền sử dụng súng, từ một đoàn viên Nhân Dân Tự Vệ cho đến một sĩ quan hiện dịch, đều được cho biết rằng mỗi một đầu đạn khi bắn ra khỏi nòng súng đều có những vết xước do nòng súng gây ra. Tuy rằng cùng một lò đúc nhưng không một nòng súng nào gây ra những vết xước giống như trên các đầu đạn bắn ra từ một khẩu súng khác. Vì thế nên qua giảo nghiệm, người ta biết được ngay rằng đầu đạn đó do khẩu súng nào bắn ra, và số trước tịch của khẩu súng đó. Từ đó, người ta nhanh chóng tìm ra kẻ có trách nhiệm. Bên ngành hàng không cũng tương tự.
Tất cả các chiếc trực thăng khi xuất xưởng đều có những tiếng động cơ khác nhau. Tai thường không phân biệt được nhưng các dụng cụ phân tích có thể làm điều đó trong vài giây. Vì thế nên tất cả các phi cơ - cũng như chiến hạm - khi xuất xưởng đều được ghi lại tiếng động cơ làm mẫu và lưu trữ rất cẩn thận. Những tiếng động cơ mẫu của từng chiếc này được gọi là "CHỮ KÝ". Vậy nên mỗi khi nghe tiếng trực thăng bay ngang qua, các chuyên viên trong nghề có thể dùng dụng cụ mà biết chiếc trực thăng đó xuất xưởng ngày nào, và số hiệu của nó. Đó là điều thứ nhất mà các bạn cần lưu ý.
Bây giờ, đến điều thứ hai.
Từ khi loại trực thăng UH-1 được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam vào năm 1964, người ta đã nghĩ đến trường hợp nó được sử dụng để chở những nhân vật quan trọng. Như thế, người ta cũng đã dự phòng trường hợp một viên phi công nào đó phản bội, chở cả nhân vật quan trọng đó bay sang hàng ngũ địch quân. Nếu nhân vật quan trọng đó không phải là một công dân Hoa Kỳ đồng thời ông ta có đem theo một số tài liệu có liên quan đến nền an ninh quốc phòng Hoa Kỳ thì cách hay nhất là cho nổ chiếc trực thăng đó.
Làm thế nào để cho nó phát nổ? Đó là điều thứ ba.
Nếu bạn nào mở ống liên hợp của một loại máy truyền tin phổ thông nhất vào thời đó là AN-PRC- 25 thì các bạn sẽ thấy có một thỏi nhỏ như một nửa quả trứng gà. Áp sát nó vào tai, các bạn sẽ nghe thấy chương trình phát thanh của một đài gần nhất, hoặc mạnh nhất, cho dù có khoảng cách trên 20 cây số. Như thế, nếu một người nào đó dùng dụng cụ phát ra làn sóng điện đúng tần số của thỏi kia thì nó sẽ nhận được. Khi nhận được, nó sẽ phát ra một luồng điện tương tự như trong chiếc điện thoại cầm tay của chúng ta dùng ngày nay. Luồng điện này đủ mạnh để làm nổ một trạm nhiên liệu, như các bạn đã từng thấy qua tin tức hàng ngày. Một thỏi nhỏ có công dụng tương tự như thỏi nhỏ này nhưng nhỏ hơn và mạnh hơn nhiều được gắn một cách kín đáo vào thùng nhiên liệu của chiếc trực thăng UH-1 hoặc gắn vào một nơi nào đó thuộc hệ thống dẫn nhiên liệu. Một khi nhận ra CHỮ KÝ của chiếc trực thăng, kẻ trong cuộc sẽ nhanh chóng tìm ra tần số của thỏi nhỏ kia và muốn làm cho nó phát ra luồng điện thì chỉ cần nhấn nút gửi làn sóng điện đi.
Đó là những gì mà chúng tôi đã viết, và đã gửi đến các bạn cách nay gần hai năm. Bây giờ đến những gì mà chúng tôi mới tìm hiểu thêm.
Sau cái chết của Cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, người Pháp có mở một cuộc điều tra riêng của họ. Một phần vì họ cũng có sử dụng loại trực thăng UH-1, một phần vì Francois Sully là người Pháp. Cũng có thể vì thế và cũng có thể vì còn có thêm một vài vụ nổ nào khác, phía Hoa Kỳ có xem lại an toàn của hệ thống nhiên liệu trên chiếc trực thăng UH-1. Họ đã thử đi thử lại nhiều lần bằng nhiều cách khác nhau và cuối cùng, chứng minh rằng cho dù bị va chạm mạnh, thùng xăng của chiếc UH-1 cũng không thể nào phát nổ được. Tuy nhiên, sau khi đọc đi đọc lại bản báo cáo của họ, chúng tôi nhận thấy có nhiều điểm rất đáng chú ý mà từ đó chúng tôi có thể kết luận rằng quả thật, chiếc trực thăng chở Cố Đại Tướng đã phát nổ từ hệ thống chứa xăng.
Trong lần thứ nhất thử mức chịu đựng của hệ thống chứa và dụng cụ liên quan trên chiếc UH-1, họ câu chiếc trực thăng lên cao 30 bộ (feet). Chiếc trực thăng này có chứa 165 gallon nước, nặng tương đương 209 gallon xăng phản lực, tức JP-4. Bên dưới là nền xi-măng rất dày. Chiếc trực thăng được thả xuống và nó rơi với vận tốc 44 bộ một giây. Sức va chạm rất nặng này khiến cho hai càng của chiếc trực thăng bị gẫy, và đuôi chiếc trực thăng bị cụp xuống. Riêng về hệ thống nhiên liệu thì van xả xăng dưới đáy bình xăng bên phải bị mở ra. Bên cạnh đó, ống dẫn xăng từ bình bên phải sang bình bên trái bị bể, đồng thời hộp đựng bơm xăng nằm trong bình xăng bên trái bị nứt, nhưng bơm xăng thì không sao. Tuy vậy, cả ba bình xăng đều còn nguyên vẹn, không bị nứt hay bể.
Trong lần thử thứ hai, họ câu chiếc trực thăng lên cao 44 bộ. Chiếc trực thăng cũng chứa trong ba bình nhiên liệu tổng cộng 165 gallon nước, nặng tương đương 209 gallon xăng. Bên dưới mặt đất, họ chôn một gốc cây sâu xuống đất khoảng 4 bộ. Ngoài ra, họ còn đặt ba cục đá khá lớn ở ba vị trí khác nhau. Vị trí của các cục đá và gốc cây được tính toán kỹ lưỡng, sao cho chúng chạm vào nơi mà họ muốn trên chiếc phi cơ.
Khác với lần thử thứ nhất, lần này chiếc trực thăng được cho lướt nhanh xuống theo hai sợi dây cáp, giống như chúng ta đu dây tử thần tại quân trường, chỉ khác một điều là nó có độ dốc hơn dây tử thần, đúng 45 độ. Như vậy, chiếc trực thăng chúi đầu xuống từ lúc được thả ra cho đến khi nó chạm mặt đất. Sau khi chạm mặt đất rồi thì nó nghiêng về phía bên phải khoảng 10 độ nên càng chống bên phía đó bị gẫy đoạn đầu, do chiếc phi cơ chúi đầu xuống. Người ta cố tình điều chỉnh hai sợi dây cáp sao cho chiếc trực thăng nghiêng qua như thế là vì gốc cây được chôn ở một vị trí sao cho nó chạm vào đúng đáy bên phải của bình xăng chính giữa. Ba cục đá cũng được tính toán vị trí sao cho một cục chạm vào đáy bình xăng bên phải, một cục chạm vào đáy bình xăng bên trái, và một chạm vào đáy bình xăng chính giữa.
Xem xét hư hại nơi hệ thống nhiên liệu, người ta chỉ thấy một vết rách nhỏ dưới đáy của bình xăng bên phải. Ngoài ra, khi chiếc trực thăng chạm mạnh xuống mặt đất, các máy quay phim ghi nhận được rằng có một chút nước giả làm nhiên liệu tràn ra ngoài qua lỗ thoáng hơi, với tỷ lệ khoảng 4 lít một phút. Tất cả các dụng cụ liên quan đến hệ thống nhiên liệu, bên trong cũng như bên ngoài ba bình xăng, đều còn nguyên vẹn.
Lần thử thứ ba gần giống như lần thứ hai, chỉ khác một chút như sau. Chiếc trực thăng được đưa lên cao 40 bộ, thay vì 44 bộ như lần thứ nhì. Kế đến, nó được thả xuống theo hai sợi dây cáp với độ dốc 48 độ, thay vì 45. Sau hết, vị trí của ba cục đá dưới đất được xê dịch một chút. Cũng giống như lần thử thứ hai, lần này thì chiếc trực thăng cũng nghiêng qua bên phải sau khi chạm mạnh xuống mặt đất, nhưng độ nghiêng nhiều hơn lần thứ hai.
Và, cũng giống như lần thử thứ hai, lần này hệ thống nhiên liệu chỉ bị hư hại chút ít. Thứ nhất là bình xăng chính giữa bị rách một đường ngắn. Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất là hư hại ở khoá xăng tự động (break-away valve). Chiếc van này bị lệch ra khỏi vị trí do những mảnh vỏ bọc bên ngoài của nó bị tách rời nhau. Điều này khiến cho xăng bị rò ra bên ngoài khoảng 18 lít một phút.
Căn cứ vào đó, người ta kết luận rằng nếu bị rung chuyển mạnh hoặc có va chạm mạnh, khoá xăng tự động này bị nứt, gẫy hay bể, làm thoát xăng ra khỏi ống dẫn và đưa đến việc chiếc trực thăng bị bốc cháy. Chúng ta cần biết rằng khoá xăng tự động này nằm phía sau bình xăng chính giữa, tức là nó nằm bên ngoài bình xăng.
Trong phần kết luận, họ đề nghị rằng khoá xăng tự động nên được dời về ống dẫn xăng giữa lọc xăng và động cơ vì đoạn này được che chở kín hơn, ít bị ảnh hưởng bởi va chạm và rung chuyển.
Tuy nhiên, chúng tôi không chú ý đến điều này cho lắm, bởi vì đó không phải là điều đã xảy ra cho chiếc trực thăng chở Cố Đại Tướng. Các nhân chứng đã nhìn thấy rõ ràng rằng chiếc trực thăng phát nổ, chứ không bốc cháy rồi phát nổ. Do đó, chúng tôi phải tìm tòi thêm, và cuối cùng thì có câu trả lời mà chúng tôi tin rằng chính xác. Đó là các dụng cụ bên trong ba bình xăng.
Trong lần thử thứ ba, ba cục đá tuy rằng được thay đổi vị trí nhưng không khác nhiều so với lần thử thứ hai. Cục thứ nhất được đặt ngay bên cạnh đồng hồ đo mức độ bơm xăng (flow switch). Cục đá thứ hai đặt giữa hai đồng hồ đo mức xăng (fuel quantity transmitter) trong thùng nhiên liệu bên trái. Cục thứ ba thì đặt khá xa đồng hồ đo mức xăng trong thùng nhiên liệu chính giữa. Trong hai lần thử, cả ba dụng cụ đều còn nguyên vẹn. Lẽ đương nhiên, những người tính toán việc thiết trí các dụng cụ này đều biết rõ sức chịu đựng của hệ thống chứa nhiên liệu và nếu như họ có toan tính gì thì họ biết chọn vị trí nào, và dụng cụ nào.
Bây giờ, chúng ta trở lại với việc phát tín hiệu và nhận tín hiệu. Cũng như các máy truyền tin, vật dụng nhận tín hiệu mà chúng tôi nói ở phần đầu cần có điện để hoạt động. Bên trong ba thùng nhiên liệu của chiếc UH-1 từ D cho đến H, có vô số dụng cụ dùng điện như thế. Trước mắt là ba đồng hồ đo mức xăng; kế đến là đồng hồ đo mức độ bơm xăng và chiếc bơm xăng phụ (electric boost pump) mà nó điều khiển. Chúng tôi không tin rằng người ta gắn cục nhận tín hiệu vào đồng hồ đo mức xăng. Lý do là tuỳ theo thời tiết nóng hay lạnh, ba chiếc đồng hồ có thể báo mức xăng chính xác hay không chính xác. Vì thế nên các chuyên viên cơ khí thường xuyên mở nó ra để điều chỉnh cho thích hợp với nhiệt độ trong ngày hôm đó. Nếu vật nhận tín hiệu nói trên được gắn vào đó, các chuyên viên cơ khí am tường về nguyên tắc căn bản có thể thắc mắc nếu họ nhìn thấy. Gắn nó vào chiếc bơm xăng phụ thì có tính cách cầu may, bởi vì bơm này chỉ hoạt động một khi đồng hồ đo mức độ bơm xăng thấy xăng bơm yếu hơn bình thường và bật nó lên. Nói một cách khác, bơm xăng phụ ít khi hoạt động và một khi nó không hoạt động thì nó không có điện. Không có điện thì vật nhận tín hiệu không hoạt động. Như thế, dụng cụ lý tưởng nhất để gắn vật nhận tín hiệu vào là đồng hồ đo mức độ bơm xăng. Nó chỉ ngưng hoạt động khi chiếc trực thăng được tắt máy.
Chiếc đồng hồ đo mức độ bơm xăng nằm ở đáy bình xăng bên phải. Nó được gắn liền với hai dụng cụ khác nên nếu có ai lôi cả chùm ra khỏi bình xăng vì một lý do nào đó, cũng không để ý đến vật nhận tín hiệu. Vật này có thể nhỏ như đầu đũa, dài gần một phân. Nó cũng có thể giống như một nút áo nhỏ. Thế nhưng khi nhận được tín hiệu, nó phát ra tia điện đủ mạnh để làm nổ bình xăng. Các bạn cần nhớ rằng các dụng cụ mà chúng tôi vừa nói đến ở trên chạy bằng điện 155 volt, và là điện một chiều.
PHẦN KẾT
Khi đại binh của Việt Nam Cộng Hoà bắn đầu tiến thẳng về sào huyệt của Trung Ương Cục R thì Hà Nội biết ngay rằng chúng lâm nguy đến nơi. Vì thế nên ngày 10 tháng Chạp 1970, Trung Ương Đảng chỉ thị toàn quân toàn dân nỗ lực gấp đôi để phục vụ cuộc chiến. Vài ngày sau, đảng lại kêu gọi các đơn vị bộ đội chuẩn bị tinh thần và thể chất hơn mức bình thường để sẵn sàng chiến đấu. Những chỉ thị, những lời kêu gọi khẩn thiết như thế cho thấy bọn họ ý thức rất rõ tình hình.
Từ ngày 21 đến ngày 25 tháng Giêng 1971, Hoà Đàm Ba Lê có ba phiên họp giữa Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, Bắc Việt, và Việt Cộng. Cả ba phiên họp này đều đi đến bế tắc vì phía Bắc Việt và Việt Cộng từ chối thương thảo, lấy cớ rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh.
Sau vụ nổ trực thăng, phía Mỹ áp lực để Việt Nam Cộng Hoà đưa Trung Tướng Nguyễn Văn Minh lên giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn III và Quân Khu 3 kiêm Tư Lệnh Chiến Trường Cao Miên. Tướng Minh thay đổi hẳn kế hoạch hành quân, rút bớt quân về nước.
Ngày 5 tháng Ba 1971, Chu Ân Lai đến Hà Nội, và lưu lại ba ngày. Chu nói rằng Trung Cộng đã giúp Bắc Việt trong tất cả mọi mặt để chống Mỹ, và Trung Cộng thề nguyền sẽ tiếp tục như thế cho đến khi chiến thắng.
Hình đính kèm là hệ thống chứa nhiên liệu trên chiếc UH-1 từ Model D cho đến H. Đánh dấu số 1 là các đồng hồ đo mức xăng trong bình. Số 2 là đồng hồ đo mức độ xăng được bơm. Số 3 là vị trí ba cục đá chạm mạnh vào hệ thống nhiên liệu trong lần thử thứ ba. Số 4 là khoá xăng tự động.
-Theo Fb Khiet Nguỵen-
Comments
Post a Comment