Mấy hôm trước đưa bài về nhà cách mạng ái quốc Tiểu La Nguyễn Thành lên FB, có nhiều người quan tâm. Hôm nay tôi xin đăng lên bài viết của thầy tôi Nguyễn Hoàng Huân là cháu nội của cụ Tiểu La để chia sẻ với các bạn.
Thầy tôi ra đi đã 25 năm rồi, đây là nén hương lòng dâng lên thầy.
NHỮNG ĐOẠN ĐƯỜNG ĐI TÌM MỘ CỤ TIỂU LA NGUYỄN THÀNH
Vào khoảng mấy năm từ 1938 đến 1940, mặc dù đã phải bỏ học tại Huế nhưng thỉnh thoảng tôi lại trở về Huế. Tôi thường ở lại nhà cụ Phan Bội Châu năm, bảy hôm, có cậu Phan Nghi Đệ, mợ Đệ và các cháu của cụ Phan như các anh Phan Thiệu Cầu, Phan Thiệu Tường, Phan Thiệu Kế. Anh Phan Thiệu Cầu con trai lớn của cậu Đệ là bạn với tôi. Cụ Phan xem tôi như con cháu. Hai ông cháu thường hay trò chuyện hoặc ra vườn hái mận, nhổ cỏ trên mộ người nữ liệt sĩ và mộ con chó Vá... Tôi hỏi cụ về chuyện ông tôi như đã thuật ở trên. Còn về phần mộ của ông tôi tại Côn Đảo thì cụ không biết gì cả bởi khi ông tôi mất cụ còn ở bên Tàu tại nhà bà Sư Thái ở Quảng Châu.
Tôi có dịp hỏi cụ Huỳnh Thúc Kháng tại nhà của cụ trước kia ở đường Abattoir, đường Lò mỗ, thì được cho biết mộ ông tôi được bọn Pháp chôn cách nhà tù chính Côn Lôn chừng sáu, bảy trăm mét về phía tây nam, bạn tù chính trị có lén lút khắc tên Tiểu La vào gạch đá rồi quăng vào ngôi mộ. Tôi tin điều cụ nói vì đến năm 1921 cụ Huỳnh mới được tha. Như vậy sau khi ông tôi chết cụ Huỳnh còn ở lại đảo mười năm. Tôi hỏi chi tiết thì cụ Huỳnh bảo là mấy năm sau cụ yếu đuối không phải làm việc tạp dịch bên ngoài nên chẳng biết gì thêm.
Cuối năm 1945, sau khi Việt Minh cướp chính quyền, tướng Võ Nguyên Giáp nguyên là biên tập viên báo Tiếng Dân về Huế mời cụ Huỳnh ra Hà Nội. Cụ ra đi với anh Lê Nhiếp là rễ cụ Huỳnh và cũng là biên tập viên báo Tiếng Dân. Tôi theo ra Hà Nội nhưng Bắc Bộ phủ lúc bấy giờ thật khó lòng nhận một người như tôi. Tôi đến ở nhà chụp hình Hương Ký phố Hàng Trống, sau đó do một sự tình cờ tôi được ông Nguyễn Hải Thần lúc đó là Phó Chủ tịch chính phủ Liên hiệp cho gọi đến dinh Phó Chủ tịch nguyên là lâu đài của Hoàng Trọng Phu tại vườn hoa Canh Nông, Hà Nội. Lúc đó ông Nguyễn đã già lắm rồi, cao và ốm, nhìn thiếu sinh khí vì nghiện á phiện, bà vợ Tàu còn rất trẻ, các con còn bé thơ. Vài thủ hạ thân tín và độ một trung đội canh gác dinh thự. Ở Tàu quá lâu, ông Nguyễn nói tiếng Việt lơ lớ như người ngoại quốc.
Ông Nguyễn nói với tôi về cụ Tiểu La Nguyễn Thành dù chưa hề gặp gỡ, giao thiệp lần nào. Những điều ông nói đều do cụ Phan Bội Châu hoặc các sinh viên du học do cụ Tiểu La đưa đi kể lại. Điều duy nhất ông Nguyễn Hải Thần nói làm tôi ngạc nhiên sửng sốt là mỗi lần cầu cơ ở bên Tàu đều có cụ Tiểu La nhập vào.
Tôi ở dinh Phó Chủ tịch một tuần. Những ngày này tôi hay đến nhà cụ Cử Lê Đại cựu tù nhân Côn Đảo nên được nghe nhiều về thời gian tù đày của cụ Tiểu La trên đảo. Tôi cũng có đến nhà ông Sở Cuồng Lê Dư, người được đưa đi du học ở Nhật, về Tàu rồi ra đầu thú được Pháp cho làm ở Viện Bác Cổ Hà Nội. Ông Lê Dư ở Thái Hà ấp, chung nhà với con gái và rễ là Nữ sĩ Hằng Phương và nhà văn Vũ Ngọc Phan. Ông Sở Cuồng có nghe danh tiếng cụ Tiểu La Nguyễn Thành, ông đã gián tiếp được cụ Tiểu La chọn làm du học sinh (tôi chắc cụ Đỗ Đăng Tuyển giới thiệu vì Sở Cuồng Lê Dư là người huyện Đại Lộc, Quảng Nam). Vui vẻ, cởi mở, cười nói xuề xòa, cái đầu láng bóng, ông Lê Dư cho rằng Tiểu La Nguyễn Thành là người bậc nhất trong đám sĩ phu yêu nước Nam Ngãi.
Hè năm 1957 tôi dạy ở trường Trung học P.H.H.S. và Providence lên Sài Gòn. Tôi gặp ông Võ Như Nguyện lúc đó là Dân biểu Lập hiến, Quốc hội Sài Gòn. Ông Nguyện là con cụ Cử nhân Võ Bá Hạp người Thừa Thiên. Tôi đề nghị ông tìm cách cho tôi ra Côn Đảo tìm mộ cụ Tiểu La. Ông Nguyện gặp Chánh Văn phòng Đặc biệt của Tổng thống Ngô Đình Diệm là ông Võ Bá Hải. Bảy ngày sau tôi được đến Phủ Tổng thống, chỉ gặp ông Võ Văn Hải. Ở đó độ một giờ đồng hồ, ông Hải gặp ông Diệm, tôi chẳng hiểu họ nói gì ở phòng bên cạnh, sau đó tôi nghe ông Hải điện thoại cho Đại tá Trần Văn Chơn bấy giờ là Tư lệnh Hải quân. Tôi nhận một bức thư giới thiệu tôi với Thiếu tá Vệ lúc đó là Tỉnh trưởng tỉnh Côn Sơn và số tiền 5.000$ (năm ngàn đồng). Tôi không gặp ông Diệm.
Chiều hôm sau một công xa lái đến nhà ông Võ Như Nguyện ở đường Trần Hưng Đạo đón tôi đến bến Bạch Đằng. Nửa giờ sau Chiến hạm Hóa Giang (loại tàu tuần tiểu nhỏ) rời bến qua Rừng Sát đến Vũng Tàu rồi ra biển. Một giờ chiều hôm sau tôi đến Côn Đảo. Chiến hạm Hóa Giang quay mũi trở về đất liền chỉ để lại viên đại úy của Văn phòng Đặc biệt Phủ Tổng thống.
Tôi ở nhà khách dinh Tỉnh trưởng nhưng sau đó ra ở chung một căn nhà với một người thiếu úy trẻ tuổi còn độc thân. Chúng tôi đi hầu khắp đảo Côn Lôn. Côn Lôn gồm 7 hòn đảo. Hòn Lớn là nơi các cơ quan chính quyền đóng, có các nhà lao chính trị lẫn hình sự, không có thường dân ở, chỉ có quân dội và nhân viên hành chính. Năm 1945 sau khi cướp chính quyền, Việt Minh đã di dân về đất liền. Có một đường rail nhỏ từ Cầu Tàu đến trung tâm đảo để các xe gòong chở hàng hóa, thực phẩm cung cấp cho đảo. Ngoài Hòn Lớn, có Hòn Trứng, Hòn Dừa, Hòn Cỏ Ống v.v... Khí hậu tốt, bãi biển Côn Lôn sạch và đẹp nhưng không nên tắm ở mũi Cá Mập vì đa số cá mập đều tập trung ở đó. Côn Lôn có rừng rậm, có trâu rừng, có thỏ, sóc, chồn, chim muông... Nếu đừng có những nhà tù thì Côn Lôn là nơi du lịch lý tưởng.
Khi tôi đến Côn Lôn, trong những ngày buồn bã tôi thường cùng viên thiếu úy đi dạo khắp đảo. Đi về phía Mũi Cá Mập ở phía đông của đảo tôi bắt gặp những khu vườn chuối, cam, quýt đã cằn cỗi vì từ lâu vắng người trông coi. Tôi thấy một bảng gỗ đã rơi xuống đất, trên bảng ghi Village d' An Hải (làng An Hải). Cách làng An Hải độ 200 mét có một chiếc chiến thuyền của Nhật bị quân Đồng Minh đánh chìm còn nổi lên những ống khói. Cá mập tụ tập nơi đây lấy chiến thuyền làm hang ổ.
Tôi theo sự chỉ dẫn của cụ Huỳnh Thúc Kháng và cụ cử Lê Đại đi về phía tây nam đảo tìm mộ người xưa. Cát trắng và vô số cây du to hằng ôm. Cách trung tâm đảo chừng cây số có vô số là mộ. Nhiều cái đã bị cát lấp hẵn, có ngôi mộ không ghi tên người chết. Mộ chôn lộn xộn không hàng lối, chen chúc lẫn nhau. Chỉ có độ năm bảy chục ngôi mộ của những người dự cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Cổ Am là còn dấu vết qua những bia bằng gỗ hình chữ thập. Giữa những ngôi mộ "sè sè nắm đất" đó có ngôi mộ độc nhất được xây cất bằng ciment của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh. Trong một tuần lễ tôi đi khắp và quan sát hằng vạn ngôi mộ chẳng thấy vết tích nào về ngôi mộ của Tiểu La Nguyễn Thành. Đặc biệt tôi có đến một ngôi mộ tập thể trông giống như một ngọn đồi nhỏ, theo người ta kể lại nơi ấy xưa kia là một nhà lao, bão làm sập chôn vùi gần 300 tù nhân, bọn Pháp cho lấp luôn thành một ngọn đồi nhỏ.
Tuần lễ thứ hai và thứ ba chúng tôi, viên đại úy Đại diện Đặc biệt Văn phòng Phủ Tổng thống, viên thiếu úy của tỉnh Côn Sơn và tôi, mở cửa thư khố của đảo để tìm lý lịch cụ Tiểu La Nguyễn Thành. Bao nhiêu là tủ, ngăn, kệ, hộc. Trong đống giấy tờ đồ sộ đó chúng tôi phân chia nhau làm việc. Thứ tự A, B, C qua nhiều biến cố 1945, 1954 đã bị đảo lộn đi nhiều trật tự theo sự classification của Pháp. Vào tuần thứ hai chúng tôi tìm được hồ sơ của ông Nội tôi gồm có:
-Một công văn của Tòa án Pháp gởi cho chúa đảo Côn Lôn.
-Một fiche (phiếu) khai tử của Nguyễn Hàm.
-Một công văn của chúa đảo Côn Lôn gởi cho Khâm sứ Trung kỳ (Résident Supérieur) và Công sứ Quảng Nam (Résident) báo tin tên tù Nguyễn Hàm chết.
-Một bệnh án của Nguyễn Hàm do Y sĩ trung úy của đảo làm (Lieutenant Médicin) có ngày tháng, tên họ, bệnh lý và những người chứng.
Fiche (phiếu) của người chết ghi trên tấm carton trắng loại tốt ghi rõ được dịch ra như sau:
Họ tên: Nguyễn Hàm (dit Ấm Hàm)
Tội trạng: Phiến loạn (rebelle)
Bệnh: Xuất huyết phổi
Ngày tháng năm chết: 11-11-1911 (Onze Novembre Mil neuf cent onze)
Các nhân chứng:
1.Quan hai thầy thuốc
2.Lính chiến hạng nhất
3.Một tù nhân phục vụ y tế.
Hoàn toàn những giấy tờ này không có tên hiệu Tiểu La hoặc Nguyễn Thành. Điều này khẳng định một lần nữa rằng ngoài các hoạt động khác bọn Pháp không hề biết cụ Tiểu La chủ mưu phong trào Đông Du và là một trong số lãnh tụ của phong trào Duy Tân.
Xong công việc đó chúng tôi lại đi khắp đảo để tìm mộ. Chúng tôi đến cả làng An Hải cũ nữa nhưng chỉ thấy năm bảy ngôi mộ của dân làng đã chết từ lâu. Chúng tôi đành quay lại phía tây nam đảo tìm từ ngôi mộ một. Hai tuần nữa trôi qua. Chúng tôi được biết có nhiều ngôi mộ mới chôn lấp cả những ngôi mộ cũ.
Một buổi chiều tôi cùng viên thiếu úy ngồi dưới bóng một cây du to gần bằng ôm để nghỉ. Đất bẩn sau một đêm mưa. Chúng tôi cạy mấy viên đá dưới cây du để làm chỗ ngồi. Khi phủi cát ở một viên đá bỗng viên thiếu úy la lên:
-Ôi! Đây rồi! Mộ cụ đây rồi!
Mừng rỡ, chúng tôi lấy cây đào xới. Bao nhiêu là viên đá và những viên gạch thật to đều khắc tên Tiểu La hoặc Nguyễn Hàm.
Lập tức chúng tôi chạy về báo tin cho Tỉnh trưởng và viên đại úy Đại diện Văn phòng Đặc biệt. Thế là ngay từ đó chúng tôi bốn người đến tận nơi xem xét rồi đánh điện về Phủ Tổng thống, Sài Gòn.
Sáng hôm sau bốn người chúng tôi cùng một tiểu đội lính và một người tù hình sự già (quê ở Gò Công đã mãn hạn tù nhưng xin ở lại đảo làm một túp lều chuyên trồng rau, nuôi gà vịt để sinh sống) đến chỗ cây du rồi đào xới dần từng lớp đất tìm hài cốt người tù vô cùng dũng cảm suốt đời chỉ biết lo cho đất nước. Chiều hôm đó chúng tôi mới tìm thấy hài cốt của người đã vĩnh biệt cõi đời cách đây 46 năm. Một ít xương còn sót lại dưới lớp cát hơi ẩm khi đem ra ngoài gió nắng đã tan rã. Người tù già và tôi sắp xếp vào chiếc hòm nhỏ, bọc bên ngoài lớp giấy hồng rồi đem về quàng tại tỉnh đường Côn Sơn.
Hai ngày sau chiến hạm Hóa Giang cập bến đưa về Sài Gòn. Ban đầu định đưa hài cốt về dinh Tổng thống, đài phát thanh Sài Gòn suốt mấy ngày loan báo tin này, nhưng không hiểu vì sao tại bến Bạch Đằng một chiếc G.M.C. cùng với một tiểu đội lính đưa hài cốt lên sân bay Tân Sơn Nhứt. Sáng hôm sau một chiếc D.C. 3 cùng với viên đại úy và tiểu đội lính đưa hài cốt bay thẳng ra Đà Nẵng. Tại đây viên Tỉnh trưởng Quảng Nam đón sẵn rồi đưa hài cốt về quê.
Hai ngày sau một số thân hào nhân sĩ tỉnh và huyện cùng dân chúng có biểu ngữ đưa hài cốt cụ Tiểu La Nguyễn Thành ra một huyệt. Đám tang có đến vài ba ngàn người tham dự.
Thế rồi, từ đó đến nay...
(Huy Phương Nguyễn Hoàng Huân)
Comments
Post a Comment