1.
Năm 2879 BC- 258 BC niên đại theo truyền thuyết thuộc họ HỒNG BÀNG.
Niên đại này gây nhiều bàn cãi trong giới sử học hiện đại.
Phạm Văn Sơn (VSTT, tr. 46) cho rằng họ Hồng Bàng bắt đầu vào thế kỷ 9
BC, khi một nhà quý tộc họ Mị thống nhất một số thị tộc Việt lên làm
vua, bắt chước các vua Sở lấy chữ Hùng làm hiệu. 18 đời Hùng Vương bắt
đầu từ Kinh Dương Vương.
Bùi Thiết ( Ðối Thoại Sử Học, nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, 2000)
lập luận một đời vua Hùng khoảng chừng 30 năm nên thời Hùng Vương
khoảng chừng 5 thế kỷ là vừa (!). Nghĩa là trước thế kỷ 6 BC, đất nước
ta không có lịch sử !
Cả hai lập luận trên bị các cuộc khai quật khảo cổ học bác bỏ. Di chỉ
Ðồng Vườn ở Yên Mô Ninh Bình được khai quật vào đầu tháng 8. 2002 tìm
được một số đồ gốm thô có hoa văn, rìu, bàn mài niên đại khoảng 1500
BC. Di chỉ này cùng hai di chỉ Hang Sáo và Hang Cò ở thị xã Tam Ðiệp
(Ninh Bình) thuộc nền văn hóa Ða Bút có niên đại từ thiên niên kỷ 5
tới thiên niên kỷ 3 BC.
Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1) đưa ra giả thuyết mỗi đời vua Hùng thực ra gồm
nhiều người nối nhau làm vua, nên trung bình một đời vua Hùng kéo dài
130 năm là điều có thể chấp nhận. Giả thuyết này của ông là cách sử
gia Tầu áp dụng khi viết cổ sử. Theo Cổ sử Trung Hoa, đời Thần Nông
kéo dài 193 năm không phải chỉ có một vua Thần Nông mà do 4 vua kế tục
nhau: vua Nghi (2889- 2884 BC), vua Lai (2843- 2794 BC), vua Ly (2795-
2751 BC), vua Du Võng (2752- 2696 BC). Theo Lê Mạnh Thát, triều đại
Hùng Vương kéo dài tới vị vua cuối cùng là Trưng Vương (39- 43). Ông
còn trích dẫn một báo cáo của Lưu An (mất năm 122 BC) ghi trong Tiền
Hán Thư, theo đó từ thời Tam Ðại ( gồm nhà Hạ 2140 BC- 1711 BC, nhà
Thương hay nhà AÂn 1711 BC- 1066 BC và nhà Chu 1066 BC- 256 BC) dân
Việt đã không chịu dùng lịch pháp Trung Quốc. Ông và Nhất Hạnh (VNPGSL
1) đều cho rằng vào thời Hùng Vương, tổ tiên ta dùng lịch pháp Ấn Ðộ
(một năm có 4 mùa, 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày). Ông cũng giải mã bài
Việt Ca được Lưu Hướng (77 BC- 6 BC) ghi trong Thuyết Uyển và khẳng
định ít nhất từ thế kỷ thứ 4 BC, tiếng Việt đã là một ngôn ngữ có chữ
viết tương đối hoàn chỉnh, tuy có liên hệ với tiếng Trung Quốc.
Dựa trên những công bố của ngành khảo cổ, Cung Ðình Thanh, Nguyễn Văn
Tuấn và Nguyễn Ðức Hiệp ( tài liệu tham khảo 14) cho rằng trước khi
tiếp xúc với người Hoa Hán (Trung Quốc), tổ tiên chúng ta đã có một
nền văn minh cao do kết quả của 3 sáng chế quan trọng: trồng lúa nước,
kỹ thuật hàng hải và kỹ thuật xây dựng đô thị. Trình độ đồ đồng của
nền văn minh Ðông Sơn tuy xuất hiện muộn (khoảng 700 BC) nhưng kỹ
thuật rất cao vì có pha chì tạo độ bền dai đặêc biệt mà các di chỉ đồ
đồng ở những nơi khác không có. Fritj Capre trong tác phẩm The Tao of
Physics cho rằng nếu giải mã hoàn toàn những hoa văn trên trống đồng
Ðông Sơn, người ta có thể thấy đó là nền văn minh tinh thần cao nhất,
gần với nền văn minh hậu nguyên tử. Khoảng 60 ngàn năm trước, những di
dân đầu tiên tới vùng Ðông Nam Á. Vùng này trải qua những đợt nước
biển lên xuống. Trong khoảng thời gian giữa hai thời kỳ băng hà (40
ngàn năm – 21 ngàn năm trước) khí hậu phía Bắc ấm, những người hiện
đại mới di chuyển lên Trung Quốc. Khoảng 30 ngàn năm tới 18 ngàn năm
trước, mực nước biển thấp hơn bây giờ tới 130 mét, đồng bằng sông Hồng
nối liền tới đảo Hải Nam. Sau đó nước biển bắt đầu dâng mỗi năm 1 cm.
Khoảng 8 ngàn năm trước, trận hồng thủy cuối cùng xảy ra nhận chìm
toàn bộ đồng bằng Bắc Việt dưới nước biển lan tới tận Việt Trì. Tới
5500 năm trước, nước mới rút, con cháu những người di tản các nơi từ
núi non và hải đảo mới trở về miền đất phì nhiêu xây dựng nước Văn
Lang. Câu chuyện Lạc Long Quân lấy AÂu Cơ đẻ ra trăm trứng, nở ra trăm
con rồi chia tay nhau người lên rừng kẻ xuống biển có lẽ là huyền
thoại hóa sự kiện di tản rồi trở về này của các bộ tộc Bách Việt. Như
vậy họ Hồng Bàng có thể còn xuất hiện sớm hơn niên đại theo truyền
thuyết 2879 BC, vì đồng bằng Bắc Bộ đã được tổ tiên ta tái định cư từ
hơn 5 ngàn năm về trước.
Năm 563 BC dựa vào sử ký nước Tích Lan, niên đại được đa số sử gia
Phật giáo chấp nhận là năm sinh của thái tử Tất Ðạt Ða, người sau này
trở thành Phật Thích Ca. Các niên đại quan trọng khác: năm 536 BC xuất
gia tìm chân lý, năm 528 BC bắt đầu truyền bá giáo pháp tại thành
Vương Xá (Ràjagaha) là kinh đô hùng mạnh nhất Bắc Ấn và thành lập giáo
hội, năm 483 BC nhập Niết Bàn.
Năm 269 - 232 BC Triều đại vua A DỤC (Asoka Moriya). Năm 253 BC nhà
vua bảo trợ Ðại Hội Kết Tập Kinh Ðiển lần thứ 3 dưới quyền chủ tọa của
Trưởng Lão Moggaliputta với cả ngàn tỳ kheo tham dự. Trong 9 tháng làm
việc, Ðại Hội đi tới hai quyết định quan trọng: 1- công nhận một số
kinh điển trước đây đã bị loại bỏ ra ngoài khối kinh điển nguyên thủy
của Thượng Tọa Bộ, 2- Chấp nhận các tác phẩm có tính lý luận học thuật
vào bộ thánh điển, gọi là Luận A-tỳ-đàm hay Thắng Pháp; Luận Tạng được
công nhận là thánh điển Phật giáo kể từ đây, trở thành Tạng thứ ba
trong Tam Tạng Kinh Ðiển Phật Giáo. Theo một vài tài liệu khác (như
Thích Phước Sơn, Lịch Sử Kết Tập Kinh Ðiển), Ðại Hội Kết Tập Kinh Ðiển
lần ba xảy ra vào năm 325 BC, vì được ước tính sau khi Phật nhập Niết
Bàn 218 năm.
Vua A Dục còn cử nhiều phái đoàn chư tăng đi hoàng pháp ở nước ngoài.
phái đoàn đầu tiên do hoàng tử Mahinda hướng dẫn tới Tích Lan (Sri
Lanka). Nhờ đó kinh tạng Pali được bảo tồn gần như nguyên vẹn tại đây
cho tới ngày nay. Một trong những phái đoàn truyền giáo do vua A Dục
cử đi do Sona và Uttara hướng dẫn có thể đã tới vùng Ðông Nam Á và
nước ta. Cho tới những năm từ 380 tới 420, những người đi lượm củi ở
vùng Ðồ Sơn còn thấy chùa và tháp do dân địa phương dựng tại thành Nê
Lê để tưởng nhớ công đức của vua A Dục. Tháp này tại núi Mẹ (Mẫu Sơn)
ở Ðồ Sơn. Sau này, tháp Long Tường do vua Lý Thánh Tông (1054- 1072)
xây trên nền tháp cũ . Theo HT Ðức Nhuận (ÐPVDSV), trong tám bài thơ
xưa Ðồ Sơn Bát Vịnh, hai câu đầu củabài thứ 5: Cổ tháp di hư loạn thảo
đôi, Dục vương khứ hậu ủy yên đồi. (Tháp xưa lau cỏ tốt bời bời, Vua
Dục đi, vua sau cũng đổ luôn).
Các sắc dụ của vua A Dục khắc trên đá thường phù hợp với ngôn ngữ địa
phương để dân nơi đó có thể hiểu được. Vì vậy, phái đoàn truyền giáo
của vua A Dục đến nước ta hẳn đã được học ngôn ngữ xứ Văn Lang để có
thể tiếp xúc với dân địa phương một cách thuận tiện.
Lúc đó, theo truyền thuyết, nước ta thuộc đời Hùng Vương thứ 18 (chấm
dứt vào năm 257 BC) và nhà Thục (257 BC- 207 BC). Sử gia Lê Mạnh Thát
cho rằng nhà Thục là một triều đại không có thực, chỉ là một truyền
thuyết xuất hiện khoảng năm 400 phỏng theo bản anh hùng ca Mahàbharatà
của Ấn Ðộ (LSPGVN 1, tr. 602). Danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cũng đã nêu lên
từ giữa thế kỷ 19 và Ngô Tất Tố đặt thành vấn đề trên báo Tao Ðàn ngày
1 tháng 3.1935 về vấn đề không có nhà Thục trong sử Việt.
Thế kỷ 3 – Thế kỷ 2 BC nhà sư PHẬT QUANG ( còn gọi là sư Bần, gốc Ấn
Ðộ) lập bàn thờ Phật tại một hang núi ở núi Mẹ (Ðồ Sơn), tu và tịch
tại đây vào cuối đời Hùng Vương. Hiện nay, nơi đây có ngôi chùa gọi là
chùa Hang. Khi CHỬ ÐỒNG TỬ ghé thuyền vào núi Quỳnh Viên (núi Mẹ hay
Mẫu Sơn, ở Ðồ Sơn) để lấy nước ngọt, gặp ông, được ông truyền pháp,
trao cho gậy và nón. Chử Ðồng Tử nhận lãnh, về truyền pháp lại cho vợ
là công chúa Tiên Dung. Hai người được coi là Phật tử đầu tiên tại
nước ta. Sự tích này đầu tiên được Trần Thế Pháp, một danh sĩ đời Trần
ghi lại trong tác phẩm Lĩnh Nam Trích Quái. Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1)
cho rằng núi Quỳnh Viên ở Cửa Sót, Nghệ An, một vùng lúc đó chưa thuộc
nước ta. Theo HT Ðức Nhuận (ÐPVDSV), bảo tháp do dân địa phương dựng
để ghi nhớ công ơn đoàn truyền giáo của vua A Dục và hang núi sư Phật
Quang tu cùng ở tại núi Mẹ (Mẫu Sơn) tại Ðồ Sơn.
Công chúa Tiên Dung con vua Hùng Vương thứ 18 (theo Lê Mạnh Thát,
LSPGVN 1, có thể thuộc đời vua Hùng Nghị Vương, đời Hùng Vương thứ
17), vì lấy Chử Ðồng Tử một anh đánh cá nghèo tới mức phải chia chung
cái khố với bố, bị vua cha trục xuất cả hai ra khỏi nước. Hai vợ chồng
lập phố xá buôn bán để sanh sống, lênh đênh ra khắp nước ngoài. Sau
này, Chử Ðồng Tử được thờ ở Ðền Trung trong hệ thống Ðền Hùng ở núi
Nghĩa Lĩnh tỉnh Phú Thọ. Tại phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên cũng có đền
thờ Chử Ðồng Tử.
Các sử sách đời trước đều nhất quán cho rằng thời Hùng Vương chấm dứt
vào khoảng năm 257 BC, sau khi bị Thục Phán đánh bại. Giả thiết như
vậy, sự kiện Chử Ðồng Tử được sư Bần (sư Phật Quang) truyền pháp có
thể xảy ra trước thời vua A Dục ở Ấn Ðộ lên ngôi. Phái đoàn truyền
giáo của vua A Dục có mục đích tìm đến đại chúng để giáo hóa theo Phật
pháp, nên không thể chọn một hang núi vắng vẻ để tu như sư Phật Quang.
Vào thời Hùng Vương, thành Luy Lâu (nay thuộc Bắc Ninh) là một trung
tâm thương mại đón nhận nhiều thương gia Ấn Ðộ. Các tăng sĩ Ấn Ðộ đi
theo các thuyền buôn này đem sinh hoạt Phật giáo đến nước ta. Chùa Yên
Trì (nay thuộc Hà Nội) có lẽ được xây vào thời kỳ này.
HT Thích Ðức Nhuận (ÐPVDSV) cho rằng vào thế kỷ 3 BC, có phong trào di
dân rộng lớn tại Ấn từ xứ Kalinga sang phía Ðông và xuống phía Nam, có
thể đưa một số tăng sĩ Phật giáo Ấn tới nước ta. TT Thích Mật Thể
(VNPGSL tr. 69) dẫn theo Sylvain và Pelliot cho rằng Trung Quốc và Ấn
Ðộ giao thương với nhau từ năm 245 BC qua cửa ngõ đất Văn Lang làm
trung gian.
Năm 110 BC năm cuối cùng của nhà Triệu (207- 110 BC), thời tể tướng LỮ
GIA nắm quyền. Trong Thiên Nam Ngữ Lục, thiền sư Chân Nguyên (1646-
1726) đề cập tới chùa Trúc Viên ở núi Sài Sơn, Sơn Tây đã có từ thời
này. Trước đó, từ thời Hồng Bàng đã có chùa Yên Trì ở Long Biên (Hà
Nội), sau này bị hư hại nặng, năm 544 vua Lý Nam Ðế dựng chùa Khai
Quốc trên nền chùa này.
Năm 39- 43 triều đại HAI BÀ TRƯNG. Năm 39 Hai Bà khởi nghĩa đánh đuổi
Tô Ðịnh, dành được quyền tự chủ cho Giao Chỉ. Bà HOÀNG THIẾU HOA
(3- 40) tu tại chùa Phúc Khánh (nay là chùa làng Hiền Quan ở tỉnh Phú
Thọ) từ năm 16 tuổi, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng, rời khỏi
chùa mộ được 500 nghĩa binh. Bà trở thành tướng tiên phong của Hai Bà
Trưng. Sau khi Trưng Vương dẹp yên 65 thành, bà Thiều Hoa trở lại chùa
tu và một năm sau thì tịch. Bà đươc xưng tụng là Diệt Bạo Tướng Phật
(LSPGVN 2, tr.26). Hành trạng của bà Thiều Hoa cho thấy lý tưởng Bồ
Tát nêu trong Lục Ðộ Tập Kinh "Bồ tát thấy dân kêu ca, bèn gạt lệ xông
vào nơi hà khắc" đã được biết tới và thực hành từ thời này.
Theo Phạm Văn Sơn (VSTB), Trưng Vương chỉ đánh dẹp 56 thành, chứ không
phải 65 thành như tất cả các sử gia khác xưa cũng như nay đã ghi. Theo
Phạm Cao Dương, trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nông dân đã
đứng lên chống lại bọn quan lại bóc lột và kiều dân nhà Hán chạy loạn
Vương Mãng (9- 24) qua cướp ruộng đất của họ (Thực Trạng Của Giới Nông
Dân VN Dưới Thời Pháp Thuộc, Sài Gòn, Khai Trí xuất bản 1967)
Theo Hậu Hán Thư ( của Phạm Việp 398- 445): sau khi chuẩn bị từ hơn
một năm trước, Mã Viện huy đọâng hơn 2 ngàn chiến thuyền và 2 vạn
quân, tổng tấn công tàn sát quân của Trưng Vương, chém giết và bắt hơn
5 ngàn người. Vào thời này, theo Hán Thư Ðịa Lý Chí, nước ta có chừng
92,440 nóc gia. Hai Bà Trưng trầm mình xuống sông Hát tự vẫn năm 43.
Cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương chấm dứt. Một số bộ tướng của Hai Ba
sống sót có thể lánh mình nơi cửa Phật, một người được sử sách ghi lại
là BÁT NÀN PHU NHAÂN (nữ tướng Tiên La, được thờ ở đền làng Tiên La,
Thái Bình). Thời Hai Bà Trưng có nhiều nữ tướng nên Ni giới nước ta có
thể coi như đã có mặt từ lúc này. Tại Trung Quốc mãi tới năm 429, có
một phái đoàn mấy chục ni từ nước Tích Lan đến Kiến Nghiệp (phía Nam
Trung Quốc) học chữ Hán để hướng dẫn các nữ tu người Hán.
Có ít nhất là 64 bộ tướng của Hai Bà Trưng còn được thờ cho tới ngày
nay tại nhiều đền ở miền Bắc (trong đó tượng Hai Bà Trưng và tượng 12
nữ tướng được thờ chung ở đình làng Ðồng Nhân, Hà Nội) cho thấy tính
cách vĩ đại, oai hùng của cuộc khởi nghĩa Trưng Vương. Bác sĩ Trần Ðại
Sỹ có dịp quan sát thực địa tại 5 tỉnh phía Nam Trung Quốc (Quảng
Ðông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên) cho biết tại đây có
hơn 100 đền miếu thờ các tướng lãnh của Hai Bà Trưng. Theo cuộc nghiên
cứu của ông, cuộc khởi nghĩa Trưng Vương có 162 anh hùng phò giúp,
trong đó hơn 100 người là nữ ( xem bài tường trình của ông nơi Thư
Viện Việt Nam số 3, trang nhà Internet: www. thuvienvietnam.com)
Sau khi đại thắng Trưng Vương, Mã Viện dù đã mệt mỏi sau hai cuộc
chinh chiến liên tiếp từ Bắc tới Nam Trung Quốc, vẫn đi kinh lý khắp
cõi Giao Chỉ, tiến hành một cuộc đồng hóa gắt gao và toàn diện dân
Giao Chỉ về pháp luật, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội (VSTT, tr.
114- 115). Chắc chắn Phật giáo Việt Nam cũng chịu một pháp nạn chung
với nạn nước trong giai đoạn này khi Mã Viện muốn xóa bỏ triệt để toàn
bộ nền văn hóa nước ta để thay thế bằng văn hóa nhà Hán Trung Quốc (
chẳng hạn Mã Viện sửa đổi 10 điều luật trong bộ Việt luật, dùng phép
Hán để đổi tục Việt, đày dân Việt vào vùng Giang Hoài làm cho đất Ðông
Việt trở thành trống trơn, vây bắt hàng trăm người lãnh đạo Việt tộc
mà y gọi là "cừ soái"đưa đi đày ở Linh lăng, thu gom hết trống đồng để
đúc ngựa ...).
Vào thời Mã Viện, Phật giáo chưa truyền vào Trung Quốc. Mãi tới năm
67, Trung Quốc mới biết đến Phật giáo sau khi Hán Minh Ðế nằm mộng
thấy "người vàng", đã cử một phái đoàn 18 người qua nước Ðại Nhục Chi
( ở giữaBắc Ấn và Trung Quốc) rước tượng Phật về thờ và các vị tăng Ma
Ðằng Ca Diếp, Trúc Pháp Lan qua kinh đô Lạc Dương. Học giả Phật học
Henri Maspero cho rằng câu chuyện giấc mộng "người vàng" trên do đời
sau bịa ra và Phật giáo xuất hiện tại trung tâm Lạc Dương muộn màng
hơn năm 67.
Năm 189 KHAÂU ÐÀ LA chống gậy vân du đến Giao Chỉ, lúc nước ta bị đô
hộ dưới thời Hán Linh Ðế, Sĩ Nhiếp làm Thái Thú Giao Chỉ. Ðời Hán có 3
trung tâm Phật giáo là Trung tâm Luy Lâu ở Giao Chỉ, Trung tâm Bành
Thành và Trung tâm Lạc Dương. Trung tâm Luy Lâu được xem là bàn đạp
đưa đạo Phật vào đất Hán vì các tăng sĩ Ấn Ðộ có thể học chữ Hán hay
tuyển người thông dịch tại đây. Trung tâm Bành Thành do các tăng sĩ từ
Luy Lâu đến mà thành lập. Sách Cao Tăng Truyện ghi lại lời sớ của
Vương Ðộ đời Tấn: Từ khi Phật giáo được du nhập, người Hán không được
phép xuất gia. Nhà Ngụy (220- 264) theo pháp chế của nhà Hán cũng chưa
cho dân bản xứ xuất gia. (VNPGSL 1, tr.23).Thời Sĩ Nhiếp, Giao Chỉ là
một xứ sở phồn thịnh: một năm lúa trồng hai mùa, 8 lứa kén tằm,
Theo Lĩnh Nam Trích Quái: Khâu Ðà La là người Nam Ấn, hành pháp tu
đứng một chân, theo lời mời đến ở nhà cư sĩ Tu Ðịnh. Con gái của Tu
Ðịnh là Man Nương lúc đó 12 tuổi theo hầu hạ sư. Một thời gian sau, sư
từ giã vào núi tu. Tu Ðịnh dẫn Man Nương đi theo, tiếp tục đem rau
trái cúng dườngsư, có khi sai Man Nương đi. Tới tuổi cập kê, Man Nương
không chồng mà chửa. Thai đến 14 tháng, sinh ra bé gái, Man Nương bồng
con đến chỗ sư ở, bảo là con Khâu Ðà La. Khâu Ðà La nhận con, đặt vào
một cây đại thọ mở ra, cây liền khép lại. Sau này nước lụt ,cây đổ
trôi về thành Luy Lâu thì dừng lại. Vì những thần kỳ xảy ra, Sĩ Nhiếp
cho tạc 4 tượng Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Ðiện từ cây
đó, lập 4 chùa Thiền Ðịnh, Thành Ðạo, Phi Tướng vàTrí Quả để thờ. Man
Nương được gọi là Phật Mẫu. Tượng Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,
Pháp Ðiện và Man Nương sau này được thờ tại chùa Dâu (chùa Pháp Vân),
làng Khương Tự Bắc Ninh cho tới ngày nay. Các vua đời Hậu Lê (thế kỷ
15) mỗi khi hạn hán, thường cho rước Phật Pháp Vân về kinh đô để cầu
mưa, thường linh ứng. Chùa Pháp Vân cũng là nơi xuất phát dòng thiền
Tỳ Ni Ða Lưu Chi khi ông tới đây truyền pháp và truyền tâm ấn cho Pháp
Hiển.
Sự tích Phật Pháp Vân còn được ghi lại trong tác phẩm Nôm Cổ Châu Pháp
Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục và Lĩnh Nam Trích Quái.
Chùa Dâu được xây cất lại vào năm 1161 đời Lý Anh Tông. Năm 1313, vua
Trần Anh Tông cho trùng tu chùa, giao phó Mạc Ðĩnh Chi thực hiện,
dựng tháp Hòa Phong cao 9 tầng. Chùa còn được trùng tu vào năm 1675.
Năm 1738 đời Lê Ý Tông, thiền sư Tính Mộ tái thiết lại tháp trên nền
đổ nát cũ và tái thiệt chùa. Năm1793 và 1917 chùa lại được trùng tu.
Năm 1946 Việt Minh bắt HT Thích Ðại Hải, trú trì chùa Pháp Vân, kết
tội là đảng viên Quốc Dân Ðảng và đem xử tử. Lễ hội chùa Dâu có 11 xã
trong tổng Khương Tự Bắc Ninh tham dự từ ngày 8 tới 10 tháng 4 AÂL.
Hiện tượng thờ Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Ðiện là bản địa
hóa Phật giáo, một khuynh hướng tất nhiên khi đạo Phật ở thời kỳ quyền
năng, hội nhập vào một xã hội đã có một nền văn hóa rõ rệt như nước
ta. Cũng là hiện tượng bản địa hóa Phật Giáo khi vị anh hùng phá tan
giặc AÂn vào đời Hùng Vương thứ 6 trở thành Phù Ðổng Thiên Vương (hay
Sóc Thiên Vương vì bay lên trời ở núi Sóc Sơn,theo truyền thuyết) thay
thế Tỳ Sa Môn Thiên Vương là một trong Tứ Ðại Thiên Vương trấn giữ
phía Bắc cõi Diêm Phù Ðề, và Quán Thế AÂm Bồ Tát trở thành Quan AÂm
Nam Hải. Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1), hiện tượng bản địa hóa Phật
Giáo xảy ra sau thời Trưng Vương, như một phản ứng của Phật Giáo VN
trước sự đàn áp của Mã Viện.
Năm 198 MAÂU TỬ (160- 230) viết Lý Hoặc Luận. Ðây là sáng tác bằng Hán
văn đầu tiên về Phật giáo, từng là sách gối đầu giường của giới học
Phật ở Trung Quốc và Nhật Bản. Mâu Tử dẫn mẹ qua Giao Chỉ tị nạn vào
thời Tam Quốc, lúc Trung Quốc nhiễu loạn khắp nơi. Ông là người học
rộng hiểu nhiều, không sách gì không đọc, đã từng bỏ ra 3 năm tu luyện
phép tiên (tịch cốc trường sinh bất tử). Giao Châu lúc đó có trung tâm
Phật giáo Luy Lâu, với hơn 20 ngôi chùa, độ được hơn 500 tăng, dịch
được 15 cuốn kinh. Người dân trồng hoa Uất Kim Hương để cúng Phật.
Nhưng đa số trí thức Trung Quốc tới Luy Lâu lánh nạn đều học phép tịch
cốc để luyện trường sinh bất tử ( Mâu Tử cho biết có tới mấy ngàn trăm
thuật). Mâu Tử làm quen với Phật pháp từ năm 183 và tiếp thu một cách
nghiêm chỉnh tại trung tâm Luy Lâu có lẽ vào khoảng năm 194 (VNPGSL
1). Sau khi mẹ mất, ông rút lui khỏi chính sự, dốc chí nghiên cứu đạo
Phật. Ông viết Lý Hoặc Luận để trả lời những người chỉ trích ông phản
bội Nho theo Thích (Phật giáo). Sự có mặt của Lý Hoặc Luận chứng tỏ
Phật giáo Giao Chỉ thời đó đã chinh phục không những đại chúng bình
dân mà cả giới trí thức Nho gia nữa, vào thời Nho học bắt đầu suy yếu.
Lý Hoặc Luận gồm 37 điều: 5 điều đầu giải thích tổng quát về Phật
giáo, 23 điều phản bác các luận cứ của Nho gia về Phật giáo, 9 điều
nhận xét về Ðạo gia. Lý Hoặc Luận khẳng định: Trung Quốc chưa hẳn là
trung tâm của trời đất, Ngũ kinh chưa hẳn là lời của thánh hiền; bản
chất đạo Phật là ở nhà có thể đem ra mà thờ cha mẹ, giúp nước có thể
đem mà trị dân, sống một mình có thể đem mà tu thân. Lý Hoặc Luận được
Lê Mạnh Thát dịch và giới thiệu trong Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt
Nam tập 1 ( Nhà xuất bản TP/HCM năm 2001).
Vào giai đoạn này, tăng đoàn đã được thành lập tại Giao Chỉ, với các
lễ truyền giới có "tam sư, thất chứng". Khương Tăng Hội đã được truyền
giới xuất gia như vậy. Tại Trung Quốc, mãi tới năm 250 mới có Ðàm Ma
Ca La từ Trung Ấn qua làm lễ truyền giới xuất gia theo nghi thức " tam
sư thất chứng". Nghi thức truyền giới này là quy định trong các đại
giới đàn Phật giáo Việt Nam cho tới ngày nay.
Có thể cũng ở thời đại này, một sản phẩm nổi tiếng của trung tâm Luy
Lâu được thương gia Trung Quốc và Ấn Ðộ ưa chuộng là giấy, có phẩm
chất cao trắng mà không nát khi bỏ xuống nước. Nghệ nhân Luy Lâu cũng
đã khắc in trên mộc bản bằng gỗ cây Thị.
Năm 247 KHƯƠNG TĂNG HỘI, một nhà sư gốc Ấn Ðộ, qua Trung Quốc hoằng
pháp. Ông sinh ra, lớn lên, xuất gia và tu học tại Giao Châu (năm 203,
thái thú Sĩ Nhiếp trình xin đổi tên Giao Chỉ thành Giao Châu). Ông là
nhà sư hoàn toàn được đảo tạo tại Giao Châu. Ông tới kinh đô Kiến
Nghiệp của nhà Ðông Ngô hoằng pháp, có đem theo một tượng Phật. Ông
thông thạo tam tạng Kinh, hiểu thấu 6 kinh nền tảng của Nho giáo lại
giỏi khoa ăn nói và nghệ thuật viết lách nên đã làm hưng thịnh Phật
pháp tại đất Ðông Ngô, một vùng trước đây chỉ có vài nhà sư dịch kinh.
Ông tịch vào năm 280, đã dịch nhiều kinh tạng từ Phạn văn qua chữ Hán,
soạn cuốn nghi thức Nê Hoàn Bối âm điệu réo rắt, trầm buồn và xây dựng
nhiều chùa tháp. Trong 14 quyển kinh ông dịch, bản dịch Lục Ðộ Tập
Kinh được coi là đỉnh cao sự nghiệp dịch thuật của ông. Một số nhà
biên khảo Trung Quốc cho rằng bộ kinh tập Lục Ðộ Tâp Kinh do ông sáng
tác. An Thế Cao (người dịch kinh An Ban Thủ Ý ra Hán Văn) tán dương
Khương Tăng Hội là người truyền dạy Kinh Thiền. Các kinh về Thiền như
An Ban Thủ Ý và Ấm Tri Nhập do An Thế Cao dịch được ông diễn giải theo
tinh thần Ðại Thừa. Sư ông Nhất Hạnh suy tôn Khương Tăng Hội là tổ
Thiền Tông Việt Nam. Với tác phẩm Nê Hoàn Bối, ông là một trong những
người đầu tiên đặt nền móng cho lễ nhạc Phật giáo Trung Quốc.
Lục Ðộ Tập Kinh gồm 91 truyện tích, mỗi truyện có những trích dẫn kinh
nói về lục độ ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định và trí tuệ) xếp thành 8 quyển. Ba quyển đầu nói về bố thí, mỗi
quyển sau nói về một độ còn lại ( VNPGSL 1,tr. 76). Truyện 68 đặc biệt
nêu lý tưởng Bồ Tát dấn thân: Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ,
xông mình vào nơi hà khắc cứu dân khỏi lầm than. Lê Mạnh Thát (LSPGVN
1) cho rằng Khương Tăng Hội dịch Lục Ðộ Tập Kinh ra Hán văn từ một bản
tiếng Việt cổ, không phải từ nguyên bản tiếng Phạn. Khương Tăng Hội có
thể còn chủ động trong việc phục hồi Phật giáo ở Ðông Ngô sau khi Tôn
Lâm (231- 258) ra lệnh phá chùa, chém sư vào năm 258, vài tháng trước
khi y bị Tôn Hưu giết. Vua Ðường cho họa hình ông và treo tại chùa Từ
AÂn, nơi Tam Tạng Pháp Sư Huyền Tráng dịch kinh, vì công nhận ông là
nhà dịch kinh của TRung Quốc.
Cũng năm 258 ở Trung Quốc, Châu Tử Hàng khai đàn giảng kinh Bát Nhã ở
kinh đô Lạc Dương. Việc giảng kinh cho đại chúng ở Trung Quốc bắt đầu
từ đó.
Năm 248 BÀ TRIỆU (TRIỆU TRINH NƯƠNG, Triệu thị Trinh, 225- 248) cùng
anh là Triệu Quốc Ðạt khởi nghĩa chống lại thứ sử Giao Chỉ là Lục Dận,
nhà Ðông Ngô. Cuộc khởi nghĩa tuy chỉ kéo dài 6 tháng nhưng đủ oanh
liệt làm khiếp đảm quân Ðông Ngô. Sau vì thứ sử Lục Dận tìm cách mua
chuộc các bộ tộc Giao Châu nên lực lượng kháng chiến của bà trở thành
quân ít thế cô, bà phải rút lui về đất Thanh Hóa rồi tự sát. Theo
Thiên Nam Ngữ Lục của thiền sư Chân Nguyên, có thể các nhà sư Giao
Châu được bà Triệu nhờ qua Ðông Ngô trong một sứ mạng nào đó. Mộ bà
Triệu và đền thờ bà tại núi Sơn Trang, Thanh Hóa. Dân chúng địa phương
tới nay vẫn gọi bà là Vua Bà. Theo nhà văn Trần Ðại Sỹ, dân 5 tỉnh
miền Nam Trung Hoa tiếp giáp nước ta, cũng tôn vinh Bà Trưng là Vua
Bà.
Năm 425 ÐÀM HOẰNG từ miền bắc Trung Hoa tìm tới chùa Tiêu Sơn, Bắc
Ninh tu học và chuyên trì kinh Vô Lượng Thọ và Thập Lục Quán, pháp môn
Tịnh Ðộ. Ông tự thiêu năm 455. Ông giúp cho tín ngưỡng A Di Ðà phát
triển mạnh ở nước ta trở thành phong trào, đến mức có những nhà sư
Trung Quốc đã tìm đến Giao Châu để tu học pháp môn này tại trung tâm
Phật giáo Tiêu Sơn.
Vào thời ông, nghệ thuật chùa Tiên Sơn (ở núi Tiên, cửa Tây thành Long
Biên) bắt đầu phát triển mà nét đaàu7841?c sắc là biểu tượng Phật qua
hình ảnh hoa sen nằm giữa lá Bồ Ðề thay vì hình tượng người.
Trong suốt chiều dài lịch sử Phật Giáo nước ta, Tịnh Ðộ không đứng
biệt lập như ở Trung Quốc hay Nhật Bản. Vua Lý Thánh Tông (1023- 1072)
dù là đệ tử truyền thừa đời thứ nhất của thiền phái Thảo Ðường, vẫn
sai tạc tượng A Di Ðà bằng đá ở Tiên Du Bắc Ninh rất độc đáo. Trong
tác phẩm Khóa Hư Lục, vua Trần Thái Tông (1225- 1258) viết hẳn một
chương Niệm Phật Luận. Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Ðăng (1647- 1726) dù
là truyền thừa của cả hai dòng Thiền Lâm Tế lẫn Trúc Lâm và được xưng
tụng là người phục hồi dòng Thiền Trúc Lâm, vẫn viết 3 tác phẩm về
Tịnh Ðộ trong số 14 tác phẩm của ông còn được truyền lại tới nay.
Năm 454- 455 sáu lá thư trao đổi giữa LÝ MIỄU (một sứ quân xưng vương
ở Giao Châu) và hai vị thiền sư ÐẠO CAO và PHÁP MINH (được ông coi là
thầy) về vấn đề nếu Phật đầy quyền năng, tại sao không thấy Phật hiện
ra ở đời ?. Vào thời này ở Trung Quốc, sư Huệ Viễn thuộc phái Tịnh Ðộ
ở Lô Sơn xướng lên thuyết "bất kỉnh vương" (tăng ni không cần làm lễ
hay xưng mình là thần tử trước vua chúa).
Sáu lá thư nói trên là một khám phá vô cùng quan trọng của Lê Mạnh
Thát, được ông dịch ra tiếng Việt trong LSPGVN tập 2, tr. 417- 431.
Sáu lá thư này cung cấp những nét đậm về:
1- Về nghệ thuật : từ nửa đầu thế kỷ V, nghệ thuật chùa Tiên Sơn
đã tượng trưng đức Phật qua hình ảnh hoa sen nằm giữa lá bồ đề.
2- Về âm nhạc: xác nhận sự hiện diện của "ca tán tụng vịnh". Trên
bệ đá chùa Tiên Sơn có khắc 10 vị nhạc thần chơi 9 nhạc cụ đàn dây
hoặc ống. Trước đó trống đồng và khánh đá đã xuất hiện.
3- Về văn học: sáu lá thư là những tác phẩm văn học xưa nhất tại
nước ta được phát hiện. Như vậy văn học nước ta phải khởi đầu ít ra là
từ thời điểm này, không phải chỉ từ thế kỷ 10 như quan điểm đại đa số
các nhà biên soạn văn học sử ở cả hai miền Nam Bắc.
4- Về lịch sử Phật giáo: lá thư thứ 4 của Ðạo Cao mô tả Phật tử
nước ta hoaàu7841?c ngồi thiền trong rừng, tu đức cạnh thành thị, cung
kính chắp tay hay ca hát ngâm vịnh. Như vậy tu thiền và tu tịnh, tu
phước và tu huệ đã xuất hiện đồng thời vào giai đoạn này.
5- Về lịch sử chính trị: Lý Miễu (được Ðạo Cao và Pháp Minh gọi là
sứ quân) là thái thú Giao Châu muốn trở thành tự trị. Sự liên hệ giữa
ông và hai đại sư Ðạo Cao, Pháp Minh giới thiệu khả năng vận động
chính trị của các nhà sư Giao Châu trong giai đoạn nước ta bị đô hộ.
6- Về lịch sử tư tưởng: nêu vấn đề đâu là cơ sở cho giá trị lịch
sử của những lời khẳng định trong kinh Phật, đồng thời xác định học
thuyết Nho và Mặc đang tranh nhau nổi lên ở nước ta.
Vào thời này, Luy Lâu là một trung tâm hoằng pháp lớn, góp phần quan
trọng vào việc phục hưng Phật Giáo tại Trung Quốc sau này. Năm 456 sư
Huệ Lâm viết Quân Thiên Luận chủ trương xã hội hóa Phật Giáo, dung hòa
tư tưởng Phật với Nho, được gọi là Hắc Y Tể Tướng, bị giới nho sĩ
chống đối. Triều đình Trung Quốc trục xuất ông qua Giao Châu, nơi đây
ông sống cho tới cuối đời.
Năm 542- 607 niên đại ÐÀM THIÊN. Ông quê ở Thái Nguyên (Trung Quốc),
chuyên nghiên cứu các kinh Hoa Nghiêm, Duy Ma, Lăng Già. Gặp thời Bắc
Chu bên Tầu hủy diệt chánh pháp, ông tìm đến phương Nam (trung tâm Luy
Lâu), học về Duy Thức, Nhiếp Ðại Thừa Luận và rất tâm đắc về hai bộ
luận này. Phương Bắc dứt pháp nạn, ông trở về quê hương mở trường dạy
các bộ luận Nhiếp Ðại Thừa Luận, Khởi Tín Luận và kinh Lăng Già.
Không bao lâu trở thành nổi tiếng. Ông giúp vua Văn Ðế nhà Tùy(589-
601) chấn hưng Phật Giáo Trung Quốc, xây chùa dựng tháp khắp nơi. Khi
vua Tùy Văn Ðế muốn truyền bá Phật pháp qua Giao Châu, ông tâu: Giao
Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc; khi Phật pháp mới tới Giang
Ðông chưa đầy đủ thì ở Luy Lâu đã có 20 ngôi bảo sát (chùa), độ được
hơn 500 vị tăng, dịch được 15 cuốn kinh. Ông ca ngợi Pháp Hiền Thượng
Sĩ là người trong hàng bồ tát.
Tiểu sử của Ðàm Thiên được ghi trong Cao Tăng Truyện là một trong
nhiều bằng chứng cho thấy ảnh hưởng hỗ tương trong quan hệ giữa Phật
Giáo Việt Nam và Trung Quốc. Phật Giáo Việt Nam trong truyền thống
không phải đơn thuần là bản sao của Phật Giáo Trung Quốc. Có những
giai đoạn Phật Giáo Việt Nam trở thành chỗ dựa cho Phật Giáo Trung
Quốc.
Năm 544: LÝ BÔN xưng đế, lấy hiệu là Lý Nam Ðế, đặt tên nước là Vạn
Xuân. Thuở nhỏ, mẹ con ông cư ngụ tại chùa Bảo Phúc được sự giúp đỡ
của vị sư trụ trì là Triệu Quang Hành. Nhà sư sai cháu ông là Triệu
Quang Phục hầu hạ, giúp đỡ.
Một trong những việc làm đầu tiên của Lý Nam Ðế sau khi lên ngôi là
dựng chùa Khai Quốc trên nền chùa cũ Yên Trì có từ thời Hồng Bàng, ở
Long Biên (Hà Nội). Nhà Tiền Lý trải qua 3 đời vua. Năm 602 vua Lý
Phật Tử chết, con là Sư Lợi nối ngôi, bị tướng Lưu Phương của nhà Tùy
tấn công và bị bắt. Giao Châu lại bị Trung Quốc đô hộ kể từ đây, từ
nhà Tùy (602- 617) tới nhà Ðường (618 - 907). Sách Việt Ðiện U Linh:
sau khi vua Lý Nam Ðế chết vì bệnh năm 546, người trong nước chỗ nào
cũng lập đền thờ.
Năm 580: thiền sư TỲø NI ÐA LƯU CHI đến nước ta thời vua Lý Phật Tử,
truyền pháp ở chùa Pháp Vân ( chùa Dâu ngày nay, ở Bắc Ninh), khai mở
dòng thiền Pháp Vân ( còn gọi là dòng thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi). Ông là
người miền bắc Ấn Ðộ, một vùng tôn sùng Phật giáo Ðại Thừa chuyên về
thiền định, đến kinh đô Trường An, Trung Quốc, năm 574 vào đời vua Tùy
Dương Ðế. Ộng được Tăng Xán (tổ thứ 3 Thiền Tông Trung Hoa) ấn chứng
và khuyên nên đi về phương Nam mà hoằng hóa. Do đó, ông tìm tới nước
ta.
Ông dịch hai quyển kinh quan trọng là Tượng Ðầu Tinh Xá và Ðại Thừa
Phương Quảng Tổng Trì. Như vậy Thiền Việt Nam dù chủ trương không bị
ràng buộc vào ngôn ngữ nhưng ngay từ đầu chưa từng khinh khi văn tự.
Thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi chú trọng nhiều về thực hành, nặng ảnh hưởng
Ðại Thừa của Ấn Ðộ, trong đó có tính thần bí của Mật Tông. Theo Nhất
Hạnh (VNPGSL 1), Tỳ Ni Ða Lưu Chi dùng danh từ "tâm ấn" sớm nhất. Tâm
ấn dùng trong kinh Ðại Nhật (bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tông) có
nghĩa là tinh yếu mật ý của kinh này.
Kinh Tượng Ðầu Tinh Xá dạy 10 phép thiền quán nội ngoại để trừ chấp
trước, mang mầu sắc văn học Bát Nhã, nói về bản chất của giác ngộ qua
các vấn đề: ai tu Bồ Ðề, ai được Bồ Ðề, lấy thân hay lấy tâm mà chứng
để được Bồ Ðề, Bồ Ðề ( sự giác ngộ) là gì? Kinh Tượng Ðầu Tinh Xá
thuộc hệ Bát Nhã, được Tỳ Ni Ða Lưu Chi dùng làm căn bản hành thiền
cho dòng thiền Pháp Vân.
Kinh Ðại Thừa Phương Quảng Tổng Trì là một kinh về Mật giáo, nêu lên
những lời răn đe các Phật tử ưa chỉ trích lẫn nhau. Lê Mạnh Thát đã
dịch hai bản kinh này ra tiếng Việt (LSPGVN 2, tr. 729- 771). Ảnh
hưởng của Mật giáo trong dòng thiền Pháp Vân trở thành mạnh mẽ hơn vào
thời nhà Ðinh và Tiền Lê sau này.
Tỳ Ni Ða Lưu Chi truyền tâm ấn cho Pháp Hiển, người trước đó đã học
thiền với sư Quán Duyên trú trì chùa Pháp Vân từ trước khi Tỳ Ni Ða
Lưu Chi tới. Khi Tỳ Ni Ða Lưu Chi tịch, Pháp Hiển tổ chức lễ Trà Tyø
(hỏa thiêu), là một phong tục hoàn toàn xa lạ với dân Trung Quốc thời
bấy giờ. Mãi tới năm 676, sư Vận Kỳ mới trình vua Ðường hai bản kinh
Ðại Niết Bản do thầy mình là Hội Ninh cùng Trí Hiền hợp dịch tại đảo
Java (Nam Dương), nói về hỏa táng và thâu thập xá lợi của Phật.
Pháp Hiển (tịch năm 626) có tới 300 đệ tư.û Pháp sư nổi tiếng Ðàm
Thiên (542- 607) của Trung Quốc tôn Pháp Hiển là một vị bồ tát sống
(VNPGSL 1, tr.113). Vua Cao Tổ nhà Tùy bên Trung Quốc nghe tiếng đạo
hạnh của Pháp Hiển, sai sứ đem theo hộp Xá Lợi và điệp văn sang cúng
dường. Sư cho xây tháp Thuận Thành ở chùa Pháp Vân và các tháp chùa
châu Phong, châu Hoan, châu Ái để thờ Xá Lợi. Theo sách Thiền Uyển Tập
Anh, dòng thiền Pháp Vân truyền đến đời thứ 19 là thiền sư Y Sơn (tịch
năm 1213). Thời Hậu Lê, vào thế kỷ 15, các vua nhiều lần rước tượng
Phật chùa Pháp Vân về kinh để cầu mưa.
Thập niên 630 THANH BIỆN ( ? – 686 ): đời thứ 4 dòng thiền Pháp Vân,
được thầy là thiền sư Pháp Ðăng giảng và giao cho việc nghiên cứu kinh
Kim Cương làm đối tượng tu học từ lúc còn nhỏ, trở thành người đầu
tiên chuyên trì tụng kinh Kim Cương, trước ngũ tổ Hoằng Nhẫn (đắc pháp
với Ðạo Tín năm 630) và lục tổ Huệ Năng (biết tới kinh Kim Cương
khoảng năm 670, bốn năm trước khi Hoằng Nhẫn tịch). Lê Mạnh Thát (
LSPGVN 2, tr.112) cho rằng hệ tư tưởng của dòng thiền Pháp Vân được
Thanh Biện làm cho trở thành hoàn chỉnh. Theo ông, cho tới thập niên
660, Trung Quốc chỉ có hai trung tâm Thiền lớn là trung tâm Ngưu Ðầu
của thiền sư Pháp Dung và trung tâm Huỳnh Mai của ngũ tổ Hoằng Nhẫn.
Tại nước ta, cũng có hai trung tâm Thiền lớn mỗi đợt đào tạo hàng trăm
thiền sư là trung tâm Pháp Vân và Phật Tích.
Vua Trần Thái Tông ngộ đạo do đọc kinh Kim Cương. Kinh Kim Cương vào
thời Hậu Lê, từ sau Lê Lợi, trở thành đề tài thi bắt buộc trong những
cuộc khảo hạch tăng sĩ.
Năm 665 Pháp sư Ðại Thừa Ðăng từ Trường An (kinh đô Trung Quốc) qua
Ấn Ðộ cầu pháp. Tiểu sử của ông được pháp sư Trung Quốc Nghĩa Tịnh ghi
lại trong bộ Ðại Ðường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện. Bộ này ghi
chép các sự kiện về hơn 60 vị cao tăng từ các nước phương Ðông qua Ấn
Ðộ cầu pháp từ năm 650 trở đi. Trong số này có 6 cao tăng từ nước ta:
Trí Hành, Ðại Thừa Ðăng, Giải Thoát Thiên, Huệ Diệm, Vận Kỳ và Khuy
Xung.
Ðại Thừa Ðăng, người Ái Châu (Thanh Hóa), theo cha mẹ qua
Thái Lan, có lẽ xuất gia tại đây. Năm 645 qua kinh đô Trường An của
Trung Quốc, thọ đại giới với Tam Tạng Pháp Sư Huyền Tráng (600- 664).
Trong số 75 bộ kinh do Huyền Tráng dịch, ông góp công tới 7 phần tám
với tư cách bút thọ. Bút Thọ là người chép và chỉnh lại những câu văn
dịch sao cho vừa tôn trọng nguyên tác chữ Phạn vừa hợp với văn pháp
chữ Hán. Sau khi Huyền Tráng (còn gọi là Huyền Trang) tịch, ông xin
qua Ấn Ðộ cầu pháp. Ông gặp Nghĩa Tịnh tại Ấn Ðộ năm 671. Ông tịch tại
chùa Niết Bàn ở thành Câu Thi Na (Kasia, Ấn Ðộ).
Trong khoảng thời gian 663- 667, Giao Châu mất mùa lớn,
người vật đều đói khổ. Nhà sư người nước Khương Tăng Già Bạt Ma được
vua Ðường phái qua nước ta hái thuốc, thấy dân ta đói khổ, cứ lo kiếm
thức ăn uống giúp người mà nước mắt thương xót ứa ra hoài, được gọi là
Thường Ðề Bồ Tát ( Bồ Tát Hay Khóc)
Năm 791 PHÙNG HƯNG quê ở Sơn Tây khởi nghĩa chiếm phủ thành chống lại
chế độ đô hộ hà khắc của nhà Ðường. Dân chúng coi như cha mẹ, tôn là
Bố Cái Ðại Vương. Ðược vài tháng, ông bị bệnh mà mất, con ông là Phùng
An được tôn lên thay. Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 276) cho rằng Phùng
Hưng đã phong chức Cung Phụng cho nhà sư trí thức ÐỊNH KHÔNG (729-
808) và cử qua kinh đô Trường An giảng đạo cho hoàng đế Trung Quốc
Ðức Tông Lý Quát là người hâm mộ đạo Phật. Cung Phụng là một chức vụ
nằm trong bộ tham mưu thân cận nhà vua. Trong thời gian này, có thể
các nhà sư Duy Giám và Nhật Nam cũng được cử qua Trung Quốc giảng kinh
cho vua Ðường nhiều lần. Ba vị sư này đã được các danh sĩ Trung Quốc
thời đó ca ngợi về công phu tu tập và sở học.
Sự kiện các lãnh tụ dân tộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của Trung
Quốc trong những thế kỷ đầu như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Phùng
Hưng dù làm vua không lâu vẫn được dân chúng sùng bái qua nhiều thế hệ
cho tới ngày nay là điểm đặc sắc của lịch sử VN cần được nghiên cứu
nghiêm chỉnh.
Năm 820 Thiền sư VÔ NGÔN THÔNG từ Trung Hoa sang Giao Châu, tới chùa
Kiến Sơ lập phái thiền Vô Ngôn Thông. Chùa Kiến Sơ vào thời này là
ngôi chùa mới lập, do thiền sư trẻ tuổi Cẩm Thành (tịch năm 860) dựng.
Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 352), có thể thiền sư Cẩm Thành theo
học tại đạo tràng lớn Chúng Thiện do thiền sư Pháp Hiển (truyền thừa
đời thứ 1 dòng Tỳ Ni Ða Lưu Chi) thành lập. Lúc đó nước ta dưới quyền
đô hộ của nhà Ðường, một chế độ được coi là hà khắc nhất trong gần
ngàn năm nước ta bị Trung Quốc đô hộ.
Vô Ngôn Thông (tịch năm 826) tu học với thiền sư Bách Trượng (779-
803, là người soạn bộ quy chế đầu tiên cho các thiền viện, gọi là Bách
Trượng Thanh Quy. Hiện nay, nhiều chùa và tự viện lớn của VN vẫn áp
dụng Bách Trượng Thanh Quy). Ông ít nói, nhưng thông minh hiểu biết
mau nên có danh hiệu Vô Ngôn Thông hay Thông Thiền sư.
Tông chỉ của phái thiền Vô Ngôn Thông nhắm vào đốn ngộ, tức Tâm tức
Phật, không có đối tượng của giác ngộ, nhấn mạnh vào tự lực tự tiến,
sử dụng "thoại đầu". Nhiều thiền sư trong thiền phái Vô Ngôn Thông
chuyên trì kinh Viên Giác, một kinh dạy về phương pháp đốn ngộ. Các
kinh Bát Nhã và Pháp Hoa cũng được các thiền sư phái này sử dụng
nhiều.
Thoại đầu là câu nói hay mẩu đối thoại có tác dụng thúc đẩy hay làm
phát khởi sự đạt ngộ. Thiền sư Quy Sơn (Trung Quốc, 771- 853) đồng
thời với Vô Ngôn Thông, là những người đầu tiên dùng "thoại đầu" để
dạy đệ tử. Cả hai đều là đệ tử của thiền sư Bách Trượng. Gần đây,
thiền sư Duy Lực (1922- 1999) là người tiếp nối dùng phương pháp
"thoại đầu" tại hệ thống thiền đường Từ AÂn ở Việt Nam và California.
Phái thiền Vô Ngôn Thông truyền tới thiền sư Tiêu Diêu và Nhất Tông
quốc sư được 17 đời. Ðệ tử nổi tiếng của Tiêu Diêu là Tuệ Trung Thượng
Sĩ. Ðệ tử nổi tiếng của Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Nhân Tông, trở
thành sơ tổ dòng thiền Trúc Lâm. Các đệ tử của phái Vô Ngôn Thông như
các thiền sư Giác Hải, Không Lộ và Nguyện Học chịu ảnh hưởng khá rõ
của Mật Giáo.
Năm 860- 873 triều đại vua Ðường Ý Tông, Trung Quốc. Vua sai thái sử
Cao Biền làm An Nam Ðô Hộ, với sứ mạng chính là đi "yểm" 19 chỗ để
Giao Châu không thể nào thoát khỏi kiếp nô lệ. Cao Biền báo cáo hoàn
tất công tác 18 chỗ bằng cách đào bới nhưng không thể nào "yểm" được
núi Tản Viên. Ðồng dao VN có những câu ám chỉ sự kiện này như lẩy bẩy
như Cao Biền dậy non hoặc núi Tản Viên thắt cổ bồng lại có thánh sinh.
Cao Biền viết nhiều sách về địa lý phong thủy còn truyền lại tới ngày
nay.
Sự cai trị của nhà Ðường ở Giao Châu khắc nghiệt hơn bất cứ thời đô hộ
nào khác. Nhà Ðường tìm mọi cách ngăn chận sự phát triển về học thuật
và văn hóa của Giao Châu. Cho nên chỉ có những nhà sư ở nước ta mới có
điều kiện thông hiểu Nho học. Họ do đó sẽ đóng vai trò tham mưu quan
trọng cho các chính quyền nước ta sau khi thu hồi được độc lập vào thế
kỷ sau.
Năm 906 nhân nhà Ðường suy yếu, KHÚC THỪA DUï một hào trưởng quê ở Hải
Dương nổi lên, thái thú Tăng Cổn phải bỏ trốn. Nhà Ðường phải phong họ
Khúc làm Tiết Ðộ Sứ . Năm sau, Khúc Thừa Dụ qua đời, con là Khúc Hạo
lên thay. Ông sửa sang lại nền hành chánh khoan dung mà dản dị nên dân
chúng ca tụng như "được sống lại", cho thấy sự đô hộ của nhà Ðường vô
cùng hà khắc. Bên Tầu, nhà Hậu Lương (907- 951) thay nhà Ðường toan cử
quân sang đánh chiếm Giao Châu mà không dám. Năm 917, Khúc Hạo mất,
nhà Lương phong chức Tiết Ðộ Sứ cho con ông là Khúc Thừa Mỹ. Năm 923,
Khúc Thừa Mỹ bị vua Nam Hán là Lưu Cung bắt, rồi thả ra. Nam Hán đô hộ
Giao Châu được 8 năm thì bị tướng của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ nổi
lên đánh đuổi, năm 931 lên làm Tiết Ðộ Sứ. Năm 937, Dương Diên Nghệ bị
một nha tướng là Kiều Công Tiễn cướp quyền. Con rể của Dương Ðình
Nghệ là Ngô Quyền đánh đuổi được Kiều Công Tiễn. Y chạy sang Tầu cầu
cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán huy động toàn lực dưới quyền chỉ huy của
thái tử Hoằng Tháo tấn công Giao Châu. Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán
trên sông Bạch Ðằng, giết Kiểu Công Tiễn và thái tử Hoằng Tháo. Năm
939, ông xưng vương, đóng đô ở thành Cổ Loa (Phúc Yên).
Năm 969 vua Ðinh Tiên Hoàng (968- 980) phong cho thiền sư NGÔ CHAÂN
LƯU (930- 1011) làm Tăng Thống. Năm 971 vua phong TRƯƠNG MA NI làm
Tăng Lục và ban hiệu KHUÔNG VIỆT Ðại Sư cho Ngô Chân Lưu. Chức Tăng
Thống và Tăng Lục ở nước ta bắt đầu từ đấy. Tăng thống là người thống
lãnh sư sãi, đứng đầu Phật giáo. Như vậy sau khi dẹp xong 12 sứ quân
trong vòng 2 năm và thống nhất đất nước, Ðinh Tiên Hoàng thống nhất
Phật giáo Việt Nam, tổ chức thành giáo hội liên hệ với chính quyền và
xã hội. Sau này vào thời Lý có thêm những chức Tăng Chính, Ðại Hiền
Quan (Nguyễn Lang, VNPGSL 1, tr. 212). Theo Nguyễn Lang (VNPGSL 1),
Tăng Lục là người phụ trách văn thư giấy tờ, trông coi tăng sự và ghi
chép, làm công việc như sử quan trong giáo hội.
Ðinh Tiên Hoàng thuở hàn vi đánh cá, thường ngủ trọ ở chùa Giao Thủy (Hoa Lư).
Tăng Thống Ngô Chân Lưu thuộc phái Vô Ngôn Thông, sau này khi nhà Tiền
Lê thay thế nhà Ðinh (năm 980), ông càng được vua Lê Ðại Hành (980-
1005) kính trọng. Năm 987 vua sai ông ứng đáp sứ nhà Tống là Lý Giác.
Người đi đón Lý Giác là thiền sư Pháp Thuận. Vua còn sai Khuông Việt
Ðại Sư viết khúc nhạc Ngọc Lang Qui để tiễn phái bộ nhà Tống ra về.
Ông cũng được vua Lê Ðại Hành hỏi ý kiến về nhiều việc triều chính. Lê
Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 444) cho rằng dưới triều vua Ðinh Tiên Hoàng
và Lê Ðại Hành, Ðại Sư Khuông Việt thực sự là thái sư (tể tướng).
Năm 973 ÐINH LIỄN, tước Nam Việt Vương con của Ðinh Tiên Hoàng, cho
dựng 100 tràng kinh (là trụ đá hình bát giác cao từ 50 tới 80 phân )
khắc kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni ở Hoa Lư, kinh đô của nhà Ðinh.
Năm 979 ông lại cho dựng thêm 100 cột kinh nữa, cũng tại Hoa Lư, để
cầu giải thoát cho em là Ðinh Hạng Lang (bị ông giết vào đầu năm vì
tội không trung hiếu với cha và anh), cầu cho cha mình là vua Ðinh
Tiên Hoàng được sống lâu và bản thân mình được lộc vị bền vững. Tháng
10 năm 979 ông và vua Ðinh Tiên Hoàng bị tên Ðỗ Thích giết. Hoàng hậu
Dương Vân Nga mưu cùng một số quan đưa Lê Hoàn lên làm vua, lập triều
đại nhà Tiền Lê. Những cột kinh này được phát hiện vào đầu năm 1963.
Kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni đã được hòa thượng Thích Thiền Tâm
dịch ra tiếng Việt trước năm 1975. Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr.
429), bản kinh do Ðinh Liễn sai khắc trung thực, đầy đủ hơn các bản
Hán dịch công bố trong Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh. Bản kinh này là
một bài chú của Mật Giáo, được trì niệm trong thiền đường Trung Quốc
từ thế kỷ 8. Năm 776, vua Ðường Ðại Tông ra lệnh toàn bộ tăng ni phải
tụng 21 biến bài chú này và phải báo cáo tổng kết mỗi năm vào ngày 1
tháng giêng.
2. (tiếp theo)
Năm 1010- 1028 triều đại vua LÝ THÁI TỔ. Khi còn nhỏ, vua và mẹ là bà
Phạm Thị Ngà cư ngụ tại chùa Châu Minh, Bắc Ninh. Bà Ngà là thủ hộ của
chùa. Quốc sư Vạn Hạnh là thầy của vua thuở hàn vi. ÐẠO HẠNH (Quốc Sư
Vạn Hạnh, Từ Lộ, tịch năm 1068) tinh thông về Phật Học, Khổng Học lẫn
Lão Học, rất giỏi về các khoa sấm vĩ, địa lý và các pháp thuật của Mật
Tông. Ông thuộc thế hệ thứ 12 dòng Thiền Pháp Vân (Tỳ Ni Ða Lưu Chi).
Ông được coi là người chủ động trong nỗ lực đưa Lý Công Uẩn lên ngôi
vua, và thuyết phục vua dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Thăng
Long (Hà Nội). Các huyền thoại về đời ông được chùa Láng diễn lại vài
năm một lần trong lễ hội chùa. Các thiền sư nước ta chú trọng tới sấm
vĩ và phong thủy là hiện tượng đạo Phật tích cực dấn thân nhập thế,
góp phần vào nỗ lực dựng nước trước âm mưu của nhà Ðường kìm hãm dân
ta trong vòng nô lệ bằng mọi cách kể cả phong thủy, thì các thiền sư
Ðịnh Không (730- 808), La Quý An (852- 936) và Vạn Hạnh đã dùng phong
thủy và sấm vĩ để phản ứng lại.
Năm 1010 vua Lý Thái Tổ sai tuyển người xuất sắc để cho xuất gia. Bốn
năm sau, Tăng Thống Thẩm Văn Uyển lập đại giới đàn ở chùa Vạn Thọ. Năm
1016, hơn 1 ngàn người ở Kinh đô được tuyển để tu học làm tăng sĩ và
đạo sĩ. Năm 1019 mở đại giới đàn lần nữa.
Năm 1011 vua cho dựng nhà tàng kinh Trấn Phúc để chứa kinh điển. Năm
1018 vua sai người qua nhà Tống,Trung Quốc, thỉnh tam tạng kinh. Năm
1020 ấn bản đại tạng kinh chữ Hán đầu tiên do Tống Thái Tổ ra lệnh
khắc in về tới nước ta gồm 1076 kinh ( 480 tập, 5048 quyển). Năm 1021
vua cho dựng tàng kinh các Bát Giác để chứa Ðại tạng kinh. Năm 1023
vua sai chép thêm một bản Ðại tạng kinh và dựng tàng kinh các Ðại
Hưng. Năm 1027, vua lại sai chép thêm một bản Ðại tạng kinh nữa.
Theo sử quan Lê Văn Hưu ( Ðại Việt Sử Ký): làm vua được hai năm mà Lý
Thái Tổ đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Ðức, độ hơn ngàn người ở kinh đô
làm sư.
Ðời nhà Lý còn nhiều lần sai sứ qua Tầu thỉnh Ðại tạng kinh: năm 1034
và 1036 (triều Lý Thái Tông), 1081 và 1098 (triều Lý Nhân Tông). Tất
cả các bản Ðại tạng kinh trên đều là ấn bản in năm 983. (VNPGSL 1,
tr.213- 214).
Có thể nghề khắc mộc bản in kinh tại nước ta đã bắt đầu từ thời Sĩ
Nhiếp ở trung tâm Luy Lâu. Ðời nhà Lý, việc khắc mộc bản được phát
triển để in các bản kinh thông dụng như Kim Cương, Dược Sư, Pháp Hoa,
Viên Giác ... hầu đáp ứng nhu cầu tu học tại các chùa. Trong Thiền
Uyển Tập Anh, thiền sư Tín Học (tịch năm 1200) được ghi là đời đời
chuyên nghề khắc kinh. Vào thế kỷ 14, các vị tổ phái Thiền Trúc Lâm
như Giác Hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang đều cho khắc in nhiều kinh
với số lượng lớn. Nghề khắc in ở nước ta trở nên hoàn hảo hơn sau khi
Lương Nhữ Hộc (1420- 1501) học được của Trung Quốc qua hai lần đi sứ
(1443 và 1459) về truyền dạy cho dân làng Liễu Tràng, Hải Dương. Do đó
ông được truyền tụng một cách lầm lẫn là tổ nghề in.
Các vua nhà Lý xây dựng khoảng 30 ngôi chùa, từ các chùa Hưng Thiên
Ngự, Thắng Nghiêm, Ðại Giáo năm 1010 dưới triều Lý Thái Tổ, chùa Một
Cột năm 1049 tới chùa Thánh Húc năm 1206 triều Lý Cao Tông. Trong cả
nước đã có chừng 300 ngôi chùa, những chùa cũ hư nát được trùng tu
lại.
Nghề làm tượng Phật ở nước ta có lẽ bắt đầu từ hay trước thời Khương
Tăng Hội (tịch năm 280), phát triển mạnh dưới thời vua Lý Thái Tông.
Năm 1036, vua làm lễ khánh thành tượng Phật Ðại Nguyện, năm 1040 khánh
thành một nghìn pho tượng Phật bằng gỗ và một nghìn bức tranh Phật,
năm 1041 cho đúc tượng Phật Di Lặc bằng đồng nặng 7,560 cân tại viện
Thiên Phúc. Năm 1056 vua Lý Thánh Tông cấp 12 ngàn cân đồng để đúc
chuông chùa Báo Thiên và tự tay viết bài minh khắc lên chuông, cũng
cho đúc hai tượng Phạm Vương và Ðế Thích bằng vàng đặt thờ ở hai chùa
Thiên Phúc và Thiên Thọ. Năm 1057, vua sai Lang Tướng Quách Mãn tạc
tượng A Di Ðà bằng đá ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh (VNPGSL 1, tr. 206).
Năm 999 -1090 Thiền sư VIÊN CHIẾU (Mai Trực) được coi là thiền sư thi
sĩ tài ba nhất của phái thiền Vô Ngôn Thông, rất am tường phép tam
quán của kinh Viên Giác. Bản luận giải Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn ông
đem trình Lý Nhân Tông được vua sai sứ đưa qua Trung Quốc nhờ vua Tống
Triết Tông duyệt. Vua Tống giao cho các pháp sư chùa Tướng Quốc đọc và
cho ý kiến. Họ trình: đây là đấng Bồ Tát hóa thân ở phương Nam, giảng
giải kinh nghĩa rất tinh vi, không thể thêm bớt gì được. Vua Tống sai
sao một bản, gởi trả lại bản gốc cho vua Lý với lời khen tặng. Các tác
phẩm của ông còn được biết tới nay: Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, Tán
Viên Giác Kinh, Thập Nhị Bồ Tát Hành Tu Chứng Ðạo Tràng, Tham Ðồ Hiển
Quyết. Tham Ðồ Hiển Quyết là tác phẩm ghi lại những đối đáp có tính
cách như thơ về các công án thiền học. Ðinh Quang Mỹ ( Thiền Trúc Lâm,
Tập San Nghiên Cứu Phật Học số 4, trang nhà www. thuvienhoasen.org)
cho rằng tới thời thiền sư Viên Chiếu, hệ thống công án mới được
truyền vào các dòng thiền nước ta. Hệ thống công án được phát triển
cao độ trong Thượng Sĩ Ngữ Lục
Năm 1069 Thiền sư THẢO ÐƯỜNG được vua Lý Thánh Tông (1054- 1072) phong
làm Quốc sư. Ông là đệ tử của Tuyết Ðậu ( tác giả sách Bích Nham Lục
nổi tiếng nhất trong Thiền môn). Nhiều thiền sư nổi tiếng của phái Vô
Ngôn Thông và Tỳ Ni Ða Lưu Chi thời Thảo Ðường tới cuối thế kỷ 12 chịu
nhiều ảnh hưởng của thiền sư Tuyết Ðậu. Ảnh hưởng này còn thấy trong
phái thiền Trúc Lâm.
Thiền sư Thảo Ðường qua Chiêm Thành hoằng pháp, bị quân của vua Lý
Thánh Tông bắt khi chinh phạt xứ này và được giao cho phục dịch vị
Tăng Lục. Khi ông lén sửa lại những chỗ sai lầm trong bản ngữ lục chép
tay của vị này, tài học của ông được khám phá và trình lên vua. Sau
khi khảo hạch về sức học cũng như đạo đức, vua rất khâm phục ông. Ngay
đó ông được mời trụ trì chùa Thảo Ðường ở kinh đô. Ông khai sáng thiền
phái Thảo Ðường, đệ tử đầu tiên là vua Lý Thánh Tông. Chịu ảnh hưởng
của thầy ông, Thiền sư Tuyết Ðậu (tác giả tác phẩm Thiền nổi tiếng
Bích Nham Lục) là người chủ trương dung hợp Phật và Nho, đưa Nho gia
tới gần Phật, Con đường tu tập của phái Thảo Ðường: tham thiền, quán
chiếu và niệm Phật. Thiền Thảo Ðường chỉ ảnh hưởng tới giới trí thức
và triều đình mà không thâm nhập được vào đại chúng. Trong 19 vị
truyền thừa của phái Thảo Ðường ghi trong Thiền Uyển Tập Anh có tới 9
vị là cư sĩ thuộc thành phần vua quan ( trong đó có các vua Lý Thánh
Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông).
Tác phẩm Tuyết Ðậu Ngữ Lục do thiền sư Thảo Ðường phổ biến rộng rãi,
được nhiều thiền sư cả hai thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi và Vô Ngôn
Thông hâm mộ, mở đường cho sự thống nhất ba thiền phái này thành dòng
thiền Trúc Lâm đời nhà Trần sau này. Chính vua Trần Nhân Tông đã được
thầy là Tuệ Trung Thượng Sĩ, sau khi ấn chứng, trao cho hai bộ Ngữ Lục
của Tuyết Ðậu và Dã Hiên để thâm cứu khi rảnh rỗi vào năm 1287.
Năm 1070 sau khi quy y với thiền sư Thảo Ðường, ông vua Phật tử LÝ
THÁNH TÔNG lập Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Khổng Tử và các tiên hiền.
Lần đầu tiên Nho học được triều đình nước ta chính thức cổ súy. Trong
suốt chiều dài lịch sử Phật giáo VN, đạo Phật chưa bao giờ kỳ thị Nho
và Lão giáo. Rất nhiều thiền sư VN uyên thâm về Nho học đã giúp cho
việc truyền bá đạo Phật trong giới trí thức từ thời nhà Ðinh (968-
980) trở về sau. Mặc dù có những giai đoạn như cuối đời Trần, đầu đời
Hậu Lê ( cuối thế kỷ 14, thế kỷ 15 và nửa đầu thế kỷ 16), nỗ lực đả
kích Phật giáo của một số Nho gia đã ảnh hưởng tới vua, Nho giáo chưa
bao giờ chiếm địa vị độc tôn trong lịch sử VN.
Năm 1077 LÝ THƯỜNG KIỆT (1019- 1105) đại thắng quân Tống trên sông Như
Nguyệt, tướng nhà Tống Quách Quỳ phải đầu hàng. Chính tại đây Lý
Thường Kiệt cho phổ biến bài thơ nổi tiếng hùng hồn Nam Quốc Sơn Hà
Nam Ðế Cư, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.
Trận chiến thắng này làm kinh hoàng quân Tống. Trước đó, năm 1069 ông
đã khuất phục được vua Chiêm Thành ở phương Nam, năm 1075 ông đã thống
lĩnh quân đội Ðại Việt tấn công san bằng các căn cứ nhà Tống ở châu
Ung, châu Khâm và châu Liêm. Vào thời này, triều Tống đã hùng mạnh nhờ
những cải cách của tể tướng lỗi lạc Vương An Thạch.
Khi được đề cử làm Tổng Trấn Thanh Hóa, Sùng Tín Trưởng Lão (thầy của
Linh Nhân Hoàng Thái Hậu, tức Ỷ Lan Phu Nhân) vào thăm ông, được ông
nhờ chọn đất để xây chùa. Khởi công năm 1085, hoàn tất năm 1089 tại
phía Nam núi Ngưỡng Sơn, Thanh Hóa, ông đặt tên chùa là Linh Xứng. Sau
khi ông qua đời, thiền sư Pháp Bảo (Giác Tính Hải Chiếu Ðại Sư) được
vua Lý Nhân Tông giao phó làm bài văn bia chùa Linh Xứng ca ngợi công
trạng và đức độ của Thái Úy Lý Thường Kiệt, vị tướng lãnh trụ cột của
3 triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Bài này là
một kiệt tác văn học khá dài, đại ý đoạn cuối như sau: Thái Úy vào
trong thì sáng suốt khoan hòa, ra ngoài thì nhân từ dản dị, đổi dời
phong tục nào có quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì
ôn hòa, cho nên đời được cậy nhờ chẳng phải ít.... Trị dân thì dân
được yên, xuất quân thì tất thắng, tên tuổi vang lừng khắp cõi, tiếng
thơm nức bốn phương, thuận theo và tôn sùng đạo Phật, giữ gìn phúc đức
quả là đây.
Năm 1088 vua LÝ NHAÂN TÔNG (1072- 1127) phong Khô Ðầu đại sư làm Quốc
Sư. Quốc sư không chỉ làm cố vấn mà có khi còn đứng ngang hàng với tể
thần xử đoán các việc và các kiện tụng. Tuy nhiên các quốc sư thời Lý
Trần thường không mặc áo thế quyền, mà chỉ coi là thầy dạy đạo cho cả
nước.
Cũng năm này, theo đề nghị của các quan, vua Lý Nhân Tông phân các
chùa thành 3 loại: 1- Ðại danh lam (chùa lớn). 2- Trung danh lam (
chùa vừa). 3- Tiểu danh lam ( chùa nhỏ). Các chùa có ruộng và có người
cày ruộng do nhà nước cấp. Nhà vua đã cho xây dựng hơn 100 ngôi chùa
trong cả nước.
Năm 1075 vua đặt ra phép thi Tam trường để kén người tài ra giúp nước.
Những Nho sĩ muốn thi làm quan phải nghiên cứu sâu về đạo Phật.
Sau đời Lý Nhân Tông, các vua nhà Lý thường chết yểu, tân vương nhỏ
tuổi nên Thái Hậu có nhiều quyền, đạo Phật dần dần mang nhiều mầu sắc
mê tín, hòa nhập với đạo Lão hiện hành và tín ngưỡng cổ truyền có tính
quyền năng còn sót lại trong dân gian.
Năm 1176- 1210 triều vua Lý Cao Tông. Sau lần độ tăng năm 1134 (triều
Lý Thần Tông) số người xuất gia đông dần, tệ lậu nẩy sinh nơi Thiền
môn. Năm 1179, vua cho khảo hạch các tăng quan , năm 1198 lại cho chọn
lọc và sa thải bớt tăng sĩ không xứng đáng. Một số nho thần như Ðàm Dĩ
Mông nhân đó cực lực bài xích Phật giáo. Nhưng các đại sư Phật Giáo
vẫn còn ảnh hưởng tới triều đình. Tăng phó Nguyễn Thường đã có lần
khuyên can vua không nên tổ chức hát xướng chơi bời xa hoa quá độ.
Phật giáo đời nhà Lý có những đóng góp lớn lao vào học thuật, phong
hóa, xã hội. Ảnh hưởng của Mật giáo tuy có nhưng tính chất mê tín dị
đoan còn ít hơn so với thời Hậu Lê và Pháp thuộc. Các Quốc sư như Vạn
Hạnh, Khô Ðầu, Không Lộ, Thông Biện, Viên Chiếu đều là người học rộng,
hiểu nhiều góp phần tích cực tạo nên một đời mà Hoàng Xuân Hãn cho là
"thuần từ nhất trong lịch sử nước ta" ( Lý Thường Kiệt, Viện Ðại Học
Vạn Hạnh tái bản, Sài Gòn 1966).
Tại Ấn Ðộ, năm 1203, đợt tấn công sau cùng của quân Hồi Giáo san bằng
đại học Nalanda và tàn sát gần hết tăng sĩ, khoảng 70 tăng sĩ sống sót
nhờ chạy trốn qua Nepal và Tây Tạng. Phật Giáo hầu như bị loại khỏi
Ấn Ðộ, chỉ bắt đầu được phục hồi lại từng bước nhỏ từ cuối thế kỷ 19
nhờ nỗ lực của vị đại sư Dharmapàla từ Tích Lan tới.
Năm 1236 Sau khi bị Trần Thủ Ðộ bắt ép phải bỏ vợ là Lý Chiêu Hoàng để
lấy chị dâu đang có mang hầu có thể có con nối dõi ngay khiến cho anh
ruột bị mất vợ là Trần Liễu phẫn uất dấy binh nổi loạn , TRẦN THÁI
TÔNG (1218- 1277) bỏ ngôi vua, đêm 3 tháng 4 năm Bính Thân đem theo
vài tùy tùng tìm lên núi Yên Tử để đi tu. Tại đây, vua tham kiến Trúc
Lâm đại sư , được khuyên: Trong núi vốn không có Phật. Phật ở trong
tâm ta. Nếu tâm lắng lại và trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Giác
ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần phải
đi tìm cưc khổ ở bên ngoài.
Lời khai thị trên đã mở đường cho vua Trần Thái Tông tự tìm học Phật.
Vua tham vấn Phật pháp với các thiền sư Viên Chiếu, Tức Lự . Vua
chuyên trì tụng kinh Kim Cang, tới câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm"
thì ngộ. Sau đó vua viết Thiền Tông Chỉ Nam. Khi quốc sư Viên Chiếu
tới thăm, vua trình cuốn này, thiền sư khen là đã thấu suốt được tâm
tông. Vua cũng có những bạn đồng đạo như các thiền sư Ðại Ðăng, Ứng
Thuận. Hai thiền sư Trung Quốc Thiên Phong và Ðức Thành nghe tiếng
vua tìm sang nước ta xin yết kiến để tham vấn đạo. Theo sách Thiền
Tông Bản Hạnh của thiền sư Chân Nguyên (1647- 1726), vua đã mở các
trường tăng học tại chùa Quỳnh Lâm, chùa Tư Phúc (ở núi Côn Sơn, Ðông
Triều Hải Dương) và chùa Hoa Yên (Vân Yên, ở núi Yên Tử). Những chùa
này vào đầu thế kỷ 14 trở thành ba trung tâm hoằng pháp lớn của phái
thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập.
Vua ở ngôi 32 năm, sau đó nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, lên
làm Thái Thượng Hoàng. Tác phẩm của vua được biết gồm Thiền Tông Chỉ
Nam (viết năm 30 tuổi), Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải, Lục Thời Sám
Hối Khoa Nghi, Bình Ðẳng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục, Thi Tập.
Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi theo Nhất Hạnh (VNPGSL 1, tr. 256) là bài
sám pháp gọn gàng, đẹp đẽ và thực dụng có tính cảnh giác và khích lệ
hành động, so ra bằng hoặïc hơn các sám pháp phổ thông từ Trung Quốc
đưa qua như Lương Hoàng Sám, Từ Bi Thủy Sám, Dược Sư .
Khóa Hư Lục là tác phẩm quan trọng hướng dẫn hành trì tu tập thực tiễn
và khai phóng, vừa nhắm vào giới trí thức qua các đề mục Thiền như Tọa
Thiền Luận, Giới Ðịnh Tuệ Luận, Tuệ Giới Giám Luận, Niệm Tụng Kệ với
43 công án Thiền ..., vừa nhắm vào đại chúng qua các đề mục Tịnh Ðộ
như Niệm Phật Luận, Lục Thời Sám Hối, Bình Ðẳng Lễ Sám Văn Tự ... Sư
Tuệ Tĩnh (1330- 1399) dịch tác phẩm này ra văn Nôm giúp tăng sức phổ
biến của nó.
Con ông là vua Trần Thánh Tông (1258- 1278) sau này xuất gia với Quốc
Sư Ðại Ðăng và đi tu ở chùa Tư Phúc trên núi Côn Sơn (Hải Dương).
Các ông vua Phật tử khai sáng đời Trần như Thái Tông và Thánh Tông đã
mở mang Nho giáo, lập Quốc Học Viện, tạc tượng Chu Công, Khổng, Mạnh
và 72 tiên hiền để thờ (1253), mở các khoa thi để kén chọn nhân tài
trong giới nho sĩ ( 1232, 1247 ....).
Năm 1282 NGUYỄN THUYÊN làm bài Văn Tế Cá Sấu bằng văn Nôm, được coi là
khởi điểm của văn học chữ Nôm, và được vua Trần Nhân Tông cho đổi họ
là Hàn Thuyên, vì so sánh với Hàn Dũ bên Trung Quốc.
Chữ Nôm là loại chữ biến cải từ chữ Hán, ban đầu được sáng tạo từ các
chùa để dùng ghi tên họ của các người dân quê trong văn sớ, dần dần
được phong phú hóa nhờ nhiều nhà sư giỏi Hán văn và nặng tình dân tộc
trong thời bị Trung Quốc đô hộ, nên càng ngày số ngữ vựng càng nhiều,
được Nho gia chấp nhận dùng trong các thể loại văn học kể từ đây. Từ
năm 1025, thời Lý Thái Tổ, lối hát ả đào đã hình thành với những bài
ca dùng điệu lục bát hay song thất lục bát của thơ Nôm (Phạm Văn Sơn,
VSTT tr. 226). Thời nhà Trần, mặc dù Hán văn đã đạt tới trình độ cao
nhưng văn Nôm cũng có những tác phẩm lớn như bài phú Cư Trần Lạc Ðạo
(Trần Nhân Tông), Vịnh Vân Yên Tự ( Huyền Quang). Vua Trần Nhân Tông
(1258- 1308) ra lệnh: chữ Nôm và chữ Hán là hai ngôn ngữ chính thức
dùng trong văn thư hành chánh. Theo Lê Mạnh Thát (TTTNT tr. 281) chỉ
riêng trong 2 tác phẩm Nôm của Trần Nhân Tông là Cư Trần Lạc Ðạo và
Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca số ngữ vựng Nôm đã có gần 2 ngàn từ.
Văn Nôm cực thịnh từ thế kỷ 17 tới đời vua Minh Mạng (1820- 1840), với
nhiều tác phẩm dài như bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc của Phan Huy Ích,
Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ðoạn Trường Tân Thanh và Văn
Tế Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh củaNguyễn Du, Hoa Tiên của Nguyễn Huy
Tự, Ngọc Kiều Lê và Truyện Tây Sương của Lý Văn Phức, Trinh Thử của
Nguyễn Hàm Nghi, Bích Câu Kỳ Ngộ của Vũ Quốc Trân, Quan AÂm Thị Kính
của Nguyễn Cấp, Phan Trần của vô danh, Ai Tư Vãn của Ngọc Hân .
Năm 1299 TRẦN NHAÂN TÔNG (1258- 1308) lên núi Yên Tử xuất gia, lấy
hiệu là Trúc Lâm Ðại Ðầu Ðà, được coi là Sơ Tổ phái Thiền Trúc Lâm.
Phong trào học Phật kể từ đây được phát khởi mạnh và đại chúng hóa.
Chùa Vân Yên trên núi Yên Tử trở thành một trung tâm Phật giáo đời
Trần, đào tạo được nhiều vị quốc sư như Viên Chứng, Ðại Ðăng, Tông
Cảnh, Bảo Phác, Phù Vân, Vô Trước, Quốc Nhất. Hàng năm chùa Vân Yên tổ
chức an cư kiết hạ ba tháng, tăng sĩ trong nước về tham dự rất đông.
Trần Nhân Tông chủ trương: việc duy trì Phật pháp là nằm ở quốc vương
đại thần, như lời bạt của Trần Khắc Chung trong cuốn Trần Triều Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Hai người tạo ảnh hưởng quan trọng đối với
ông là Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tung, thầy ông) và vua Trần
Thánh Tông ( Vô Nhị Thượng Nhân, cha ông). Trong bài pháp giảng vào
tháng giêng 1306, Trần Nhân Tông ca ngợi hai người là "ơn mưa pháp đã
thấm tới cho cháu con được tắm gội"( Lê Mạnh Thát, TTTNT tr. 241).
Phái Thiền Trúc Lâm chủ trương lấy sự học hỏi kinh điển làm trọng,
tổng hợp Thiền và Giáo, tổng hợp Phật nho và Lão. (Trần Nhân Tông:
giáo lý của đức Phật ta phải nhờ Tiên Thánh mà truyền lại cho đời).
Ðạo Phật Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, chủ trương nhập thế,
đạo phụng sự cho đời sống. Sách Phật Giáo Pháp Sự Ðạo Tràng Công Văn
Cách Thức (VNPGSL 1, tr. 412) được ấn hành năm 1299, quy định các sớ,
tấu, điệp và các bản văn dùng trong các nghi thức như thọ giới, cầu
an, cầu siêu ... Các sớ điệp ghi tên họ những người xin cầu an, cầu
siêu, thọ giới bằng chữ Nôm. Tác phẩm quan trọng của Trần Nhân Tông,
Cư Trần Lạc Ðạo, là một trong vài tác phẩm chữ Nôm xưa nhất còn truyền
lại.
Trần Nhân Tông lên ngôi vua năm 1279, tới năm 1293 (Quý Tị) nhường
ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Dưới triều
đại của ông, quân dân ta đánh đuổi được hai cuộc xâm lăng của quân
Mông Cổ (1285- 1288). Năm 1285 và 1288, ông phong tặng gia hiệu cho
các anh hùng liệt nữ, anh linh lịch sử của đất nước. Sau các cuộc
chiến tranh Lào Việt chấm dứt vào năm 1295, Trần Nhân Tông đã thực tập
xuất gia ở chùa Võ Lâm, Ninh Bình. Năm 1301 ông đi quan sát tình hình
Phật giáo tại Chiêm Thành, tại đây hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua
Chiêm là Chế Mân. Năm 1304 ông đi dạo khắp nước, khuyên dân chúng giữ
5 giới, tu mười điều lành (thập thiện) và phá bỏ đền thờ những vị thần
không có phẩm hạnh (gọi là dâm từ).
Các ông vua thiền sư đời Trần như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông
thường được gọi là Bụt Vàng, Vua Bụt, Ðiều Ngự Vương. Ðiều Ngự Giác
Hoàng Trần Nhân Tông được thờ ở chùa Thiên Trúc (chùa Ðồng Vĩ vì mọi
kiến trúc đều bằng đồng) ở Ðông Triều, tỉnh Hải Dương.
Năm 1308 mồng một Tết, Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông trao y bát và tâm
kệ cho PHÁP LOA (Ðồng Kiên Cương, 1284- 1330). Ông cũng được trao 100
hộp đựng kinh sử ngoại điển và 20 hộp đựng Ðại Tạng Kinh viết bằng
máu, được dặn dò "mở rộng việc học bên trong và bên ngoài". Pháp Loa,
một người dân giả trẻ tuổi chưa đỗ đạt làm quan, xuất gia cũng chưa
lâu, trở thành tổ thứ 2 của thiền phái Trúc Lâm. Xứng đáng với sự tin
cậy của Ðiều Ngự Trúc Lâm, ông là một nhà tổ chức giáo hội tài ba,
sanh năm 1284 tại Hải Dương, xuất gia năm 1304, tịch năm 1330. Thời
Pháp Loa, số người xuất gia và số chùa tăng lên rất mau chóng, sổ tăng
tịch được lập để thống nhất tăng sĩ và tự viện thành Giáo hội, mà
Pháp Loa là người đầu tiên được cấp độ điệp (thẻ căn cước của tăng sĩ)
năm 1308 sau khi nhận chức trú trì chùa Bảo AÂn. Năm 1311, tại chùa
Vĩnh Nghiêm, ông lập kế hoạch kiểm tra các tự viện ( vì làng nào cũng
có ít nhất là một chùa) và quy định mọi chức vụ của tăng sĩ trong giáo
hội. Năm 1312 ông từ chối không nhận thuyền bè và phu kiệu do vua Trần
Anh Tông cúng dường. Ông hạn chế việc tổ chức Ðại Giới Ðàn ba năm một
lần để giới hạn số người xuất gia. Tính đến năm 1329, số tăng sĩ xuất
gia qua các Ðại Giới Ðàn do Pháp Loa tổ chức được cấp sổ tăng tịch
trên 15 ngàn người. Chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, một trong 7 ngôi
chùa lớn của phái Trúc Lâm được Pháp Loa chọn làm văn phòng trung ương
của giáo hội.
Pháp Loa chú giải nhiều kinh điển như Pháp Hoa, Lăng Già, Kim Cương,
Bát Nhã Tâm Kinh, Hoa Nghiêm và soạn các sách về nghi thức sớ điệp
dùng trong các lễ Phật Giáo (Pháp Sự Khoa Văn), nghi thức cúng đàn
chẩn tế (Ðộ Môn Trợ Thành Tập). Qua những khóa giảng kinh Hoa Nghiêm
nhiều lần, có lần số người tham dự trên một ngàn, ông tạo nên phong
trào học kinh Hoa Nghiêm trong thiền giới Việt Nam thời đó. Lê Mạnh
Thát (TTTNT, tr. 325) cho rằng tư tưởng Hoa Nghiêm trở thành lý thuyết
phổ quát cho những người lãnh đạo quốc gia Ðại Việt nhìn về đất nước
cũng như xã hội mình. Tăng già thời Pháp Loa học kinh điển theo cách
phân tích, chú giải và bình luận, vấn đáp và đàm thuyết.
Pháp Loa cũng soạn sách Hộ Quốc Nhân Vương Nghi Quý theo lệnh của vua
Trần Anh Tông để làm cẩm nang trị quốc theo phẩm hạnh một vị quốc
vương bồ tát (như vua A Dục).
Mật Tông đã ảnh hưởng đáng kể tới Pháp Loa, ông làm lễ Quán Ðảnh (một
nghi thức truyền giới của Mật Tông), tổ chức trai đàn chẩn tế với
những ấn quyết và thần chú, thời khóa tụng niệm buổi chiều thường có
nghi thức thí thực cô hồn ngắn ( gọi là Mông Sơn Thí Thực Văn). Nghi
thức tụng niệm buổi sáng của giáo hội Trúc Lâm chủ yếu là thần chú (
gồm 11 thần chú, không kể thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh). Trong thời
Pháp Loa, tăng sĩ Tây Tạng Du-Chi-Bà-Lam qua Ðại Việt lần thứ hai năm
1311 và tịch tại đây. Con gái ông được vua Trần Anh Tông tuyển vào
cung. Năm 1318, tăng sĩ Ấn Ðộ Ban-Ðể-Ô-Sa-Thất phụng chiếu vua Trần
Minh Tông dịch Bạch Tán Cái Thần Chú.
Năm 1317 Văn Huệ Vương TRẦN QUANG TRIỀU (1286- 1325) con cả của Trần
Quốc Tảng và là cháu nội Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn cúng dường 40
vạn quan tiền trùng tu chùa Quỳnh Lâm. Ông là một nhà thơ lớn, tập Cúc
Ðường Di Tập của ông được Phan Huy Chú ca ngợi là "thanh thoát khá
khen". Ông xuất gia năm 1322 với thiền sư Pháp Loa sau khi vợ ông là
công chúa Thượng Trân mất. Tháng chạp 1324, ông lại cúng dường tổng
cộng hơn ngàn mẫu ruộng ở Gia Lâm và hai nơi khác cùng hơn ngàn nông
nô làm của Tam bảo cho chùa Quỳnh Lâm. Ông còn nhờ thiền sư Pháp Loa
duyệt lại và thêm lời chú thích sách Tứ Phần Luật rồi cúng dường in 5
ngàn quyển cho tăng chúng học tập. Chùa Quỳnh Lâm qua sự cúng dường
của ông trở thành một kiến trúc quy mô, với những cột to tới một người
ôm. Thiền sư Bảo Sát trú trì chùa này, và trông coi việc ấn tống Ðại
Tạng Kinh tại đây vào năm 1319. Chùa Quỳnh Lâm là nơi lưu trữ hồ sơ
của tất cả các tăng sĩ thuộc giáo hội Trúc Lâm đời Trần. Báo AÂn, Siêu
Loại và Quỳnh Lâm là 3 cơ sở lớn nhất của giáo hội Trúc Lâm thời Pháp
Loa. Ðời Trần Dụ Tông, Trương Hán Siêu (mất năm 1314) là người nổi
tiếng bài xích Phật Giáo một cách cực đoan, được cử làm Giám Tự chùa
Quỳnh Lâm. Có lẽ nhờ vậy, về cuối đời, ông đã phần nào thấm nhuần được
ý nghĩa giải thoát của Phật pháp.
Chùa Quỳnh Lâm do thiền sư Ðịnh Không ( 730- 808) lập lúc nước ta
dưới thời đô hộ của nhà Ðường. Thiền sư Không Lộ (Nguyễn Minh Không,
tịch vào năm 1141 đời Lý Anh Tông), dựng tượng Phật A Di Ðà là một
trong 4 tác phẩm nghệ thuật lớn đời Lý gọi là Tứ Ðại Khí. Ba tác phẩm
khác do ông xây dựng là: tháp chùa Báo Thiên, đỉnh chuông chùa Phổ
Minh và chuông chùa Phổ Lại. Khi quân Minh xâm chiếm nước ta (1407-
1427), chúng phá hủy chùa Quỳnh Lâm. Chúa Trịnh Giang sau này cấp tiền
và mộ phu tu sửa chùa hai lần vào các năm (1728- 1732) và (1735- 1746)
tạo những trang trí thật đẹp. Ðời Thiệu Trị (1840- 1847) chùa lại bị
đốt phá nhiều bộ phận chính.
Thời chiến tranh Việt Pháp, Việt Minh chiếm chùa làm chỗ đóng quân,
treo cờ đỏ sao vàng lên. Phi cơ Pháp thấy, bỏ bom, chùa bị cháy hơn
một tháng mới hết, chỉ còn lại nền chùa. Sau năm 1954, gạch của chùa
được xung công để xây hợp tác xã nuôi heo ngay trước cửa chùa cũ. Năm
1985, khi chính quyền Cộng Sản bắt đầu chính sách cởi trói, dân chúng
địa phương mới góp tiền xây được ba gian nhà gạch sơ sài trên nền chùa
cũ để thờ Phật. Chùa Quỳnh Lâm được Bộ Văn Hóa nhà nước Cộng Sản xếp
vào loại di tích lịch sử cần được bảo tồn !
Năm 1319 Ðại Tạng Kinh do Pháp Loa ủy cho sư huynh của ông là BẢO SÁT
chủ xướng gồm năm ngàn quyển được ấn hành hai lần : năm 1319 và năm
1329. Bản Ðại Tạng Kinh này do vua Trần Nhân Tông gởi thơ xin và được
vua Nguyên Thành Tổ cấp cho năm 1295. Việc thực hiện Ðại Tạng Kinh đã
được khởi công khắc in từ đầu năm 1296, bị gián đoạn năm 1308, khi
Trúc Lâm Ðầu Ðà Trần Nhân Tông tịch. Năm 1311, vua Trần Anh Tông ra
lệnh cho Pháp Loa tiếp tục công việc này. Pháp Loa ủy thác cho thiền
sư Bảo Sát chủ trương việc khắc các bản gỗ để in. Các tác phẩm thiền
học của Trần Nhân Tông như Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu
Lục, Ðại Hương Hải Ấn Thi tập, Thạch Thất Mị Ngữ và Tăng Già Toái Sự,
các tác phẩm củavua Trần Thái Tông như Khóa Hư Lục, Thiền Tông Chỉ
Nam, Kim Cương Tam Muội Kinh, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, các tác phẩm
của Tuệ Trung như Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục được đưa vào bộ Ðại Tạng
Kinh này trong bản in lần thứ hai năm 1329. Lần in đầu vào tháng chạp
1319, các tăng sĩ và cư sĩ cùng hiến máu để cúng dường cho bản đầu
tiên.
Bảo Sát là đệ tử được Sơ Tổ Trúc Lâm yêu quý nhất nhưng không được
giao phó việc lãnh đạo giáo hội có lẽ vì Trúc Lâm thấy Pháp Loa mới
có khả năng tổ chức và lãnh đạo cao.
Năm 1407, khi Hồ Quý Ly đầu hàng tướng Trương Phụ của nhà Minh, nhà
Minh cho chở về Kim Lăng, kinh đô Trung Quốc, tất cả các sách vở và
mọi thứ có chữ tại nước Ðại Việt, trong đó có bản khắc gỗ bộ Ðại Tạng
Kinh nói trên. Trương Phụ đã tịch thu gần hết gia tài văn học của Ðại
Việt.
Năm 1322 vua TRẦN MINH TÔNG sai Pháp Loa ( tổ thứ hai của phái thiền
Trúc Lâm) viết Tham Thiền Chỉ Yếu. Năm 1330, ông lại sai Huyền Quang
(tổ thứ 3 Trúc Lâm) viết Phổ Huệ Ngữ Lục vaø Hành Trạng. Theo Lê Mạnh
Thát ( Nghiên Cứu Về TYTA, tr.87) có thể ông đã sai thiền sư Kim Sơn
viết Thiền Uyển Tập Anh, bộ lịch sử Phật giáo Thiền Tông VN, năm
1337.
Cũng trong năm này giáo hội Trúc Lâm cho in 5 ngàn bản Tứ Phần Luật và
các cao tăng được triệu về để giảng dạy giới luật cho tăng sĩ.
Những bản in này có thể phẩm chất không tốt vì mãi tới 1460, sau hai
lần đi sứ qua Trung Quốc năm 1443 và 1459, Lương Nhữ Hộc (1420- 1501)
cố học được nghề in khắc và truyền dạy cho dân làng Liễu Tràng ( đời
vua Lê Thái Tông). Ông được coi là tổ nghề in.
Năm 1330 HUYỀN QUANG trở thành tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, sau
khi Pháp Loa tịch. Huyền Quang (Lý Ðạo Tái 1254- 1334) thông thạo thư
tịch, giỏi trích dẫn kinh điển lại ứng đối mau lẹ. Trong 20 năm làm
quan, ông được giao phó trách nhiệm tiếp sứ nhà Nguyên Trung Quốc.
Ðược vua hứa gả công chúa cho, ông một mực từ chối. Năm 1305 ông xin
từ quan, xuất gia, theo học với thiền sư Bảo Phác. Ngay sau đó, ông
được Ðiều Ngự Trúc Lâm chọn làm phụ tá. Ông theo sát Trúc Lâm trong
hai năm, được giao phó việc soạn các sách giáo khoa căn bản cho giáo
hội.
- Chư Phẩm Kinh: tuyển tập các phẩm kinh thiết yếu và thực dụng.
- Công Văn Tập: tuyển tập các bài văn, sớ, điệp dùng trong
nghi lễ Phật giáo.
- Thích Khoa Giáo: giáo khoa về Phật pháp căn bản.
Ðiều Ngự Trúc Lâm xem xong, rất hài lòng sai khắc in ngay không cần
sửa chữa. Sau đó, ông làm trú trì chùa Vân Yên (Hoa Yên, ở núi Yên
Tử). Số người theo học ông tại trường Tăng Học Vân Yên lên tới ngàn
người. Tại đây, ông đã làm bài phú chữ Nôm nổi tiếng Vịnh Hoa Yên Tự
(HT Ðức Nghiệp trong Ðạo Phật VN coi đây là 1 bản kinh VN). Năm 1309,
sau khi Ðiều Ngự Trúc Lâm tịch, ông theo lời dặn dò, theo sát Pháp Loa
trong vài năm làm phụ tá rồi trở lại chùa Vân Yên lo huấn luyện tăng
sinh. Ông cho khắc in nhiều kinh điển và dựng đài Cửu Phẩm Liên Hoa,
là một tháp có thể xoay được theo lối Mật Tông ở chùa Ninh Phúc, Bắc
Ninh. Tháp có 9 tầng, 8 mặt, mỗi mặt của tầng dưới cùng có chạm nổi
hình ảnh về sự tích đức Phật. Ông ít thuyết pháp cho đại chúng, ít
giao thiệp với những người trong triều mà chỉ lo giảng dạy cho tăng
chúng tại các trường Tăng Học. Có lẽ vụ án vua Trần Minh Tông nghe lời
Mạc Ðĩnh Chi sai cung nữ Thị Bích thử thách ông đã làm ông lánh xa
triều đình. Cô cung nữ xinh đẹp lại thông kinh sử này không lay động
được ông về nhan sắc và sự lanh lợi, đã bịa chuyện lợi dụng lòng từ
tâm của ông xin được nhiều vật quý vua ban cho ông để dối gạt là đem
bán lấy tiền chuộc cha. Sau đó cung nữ Thị Bích lại dối gạt vua là
Huyền Quang lưu cô lại một đêm và tặng những vật trên. Nhà vua nghi
hoặc, đành mở đại hội Vô Già, trưng bày các đồ vật cung nữ Thị Bích
xin được đó để thử thách Huyền Quang. Ông dùng năng lực tu chứng Mật
Tông để giải nỗi oan khiên này ngay tại lễ đàn này làm cho đại chúng
kinh hoàng và vua phải quỳ lạy tạ lỗi.
Ông không xây nhiều chùa (có lẽ vì số chùa lúc đó đã quá nhiều) mà chỉ
lo mở mang các trung tâm hoằng pháp lớn của phái Trúc Lâm như các chùa
Vân Yên, Ninh Phúc, Thanh Mai và Côn Sơn thành những đạo tràng tu học.
Nỗ lực chính của ông nhằm hoàn thiện phẩm chất cho Tăng Già để có khả
năng đảm đương nổi các cơ sở Giáo Hội đã phát triển nhanh dưới thời
Pháp Loa. Những năm cuối đời, ông trú trì tại chùa Côn Sơn ( huyện Chí
Linh, Hải Dương).
Một số nhà biên khảo Phật Giáo đã sai lầm mà cho rằng sau khi Huyền
Quang tịch vào năm 1334, dòng thiền Trúc Lâm suy yếu trầm trọng không
còn sinh hoạt. HT Thanh Từ được coi là người hiện nay khôi phục dòng
thiền Trúc Lâm, cũng có quan niệm sai lầm này. Thực ra đời Trần đã suy
yếu từ đời Trần Dụ Tông (1341- 1369). Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư,
ông vua này chiêu tập nhà giầu trong nước vào cung đánh bạc cho vui,
mỗi tiếng bạc đặt 300 quan tiền; lại hoang dâm quá độ. Thượng Hoàng
Trần Minh Tông mặc dù tới năm 1358 mới băng, dường như cũng không ngăn
cản tệ hại này. Thậm chí ông còn chấp thuận việc giết người còn tân
để lấy mật chữa bệnh cho vua Dụ Tông (lên ngôi năm 9 tuổi, sau khi vua
Trần Hiến Tông băng mà không có con). Theo lời khuyên của thầy thuốc
Trần Canh, ông còn cho phép con gái ông là công chúa Thiên Ninh, dù đã
có chồng, loạn luân với em ruột là vua Dụ Tông để chữa bệnh bất lực
cho ông vua 15 tuổi này. Triều đình như vậy, vào lúc trung thần tài
giỏi như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn đã chết, còn Chu Văn An
dâng sớ xin chém đầu bảy nịnh thần không được xét cũng xin từ quan.
Trong nước nhân dân đói khổ. Bên ngoài, Chiêm Thành dưới sự lãnh đạo
của Chế Bồng Nga hàng năm sang đánh phá từ năm 1368. Năm 1372, Hồ Quý
Ly bước lên địa vị quyền uy nhất triều đình Trần Duệ Tông (1372-
1377). Là người thông minh và có tham vọng làm vua, tất nhiên ông có
những biện pháp canh chừng Giáo Hội Trúc Lâm là một thế lực hậu thuẫn
của nhà Trần. Khi nhà sư Phạm Sư Ôn của thiền phái Trúc Lâm khởi loạn
(1389), mặc dù đang chống trả sự tấn công mãnh liệt của quân Chiêm
Thành, họ Hồ vẫn ra lệnh cho Trần Khắc Chân phải đem một nửa quân tiêu
diệt Phạm Sư Ôn. Quân Chiêm Thành tan rã sau khi Chế Bồng Nga chết vì
bị phục kích (1390), Phạm Sư Ôn bị dẹp tan, Hồ Quý Ly hẳn nhiên rảnh
tay tiêu diệt các hậu thuẫn của nhà Trần. Các nhà sư giáo hội Trúc Lâm
có lẽ đã phải mai danh ẩn tích, thậm chí thay đổi tên họ trốn vào các
vùng đất phía Nam. Tiếp theo là thời đô hộ (1407- 1427), nhà Minh chủ
trương đồng hóa toàn diện nước ta, thay thế nền Phật Giáo Việt Nam
bằng Phật Giáo Trung Quốc, thiền phái Trúc Lâm lại phải tiếp tục lẩn
tránh nếu không muốn bị hoàn toàn đồng hóa.
Lê Mạnh Thát (TTTNT, tr. 335) cho rằng thiền sư Kim Sơn mới là tổ thứ
3 của phái Trúc Lâm, vì đó là mỹ hiệu Thượng Hoàng Trần Minh Tông (
làm vua 1314- 1329) gọi ông trước khi băng hà vào năm 1358. Tuy nhiên
cũng chính vua Trần Minh Tông đã ban hiệu cho Huyền Quang (vào năm
1334 ngay sau khi ông tịch) là Trúc Lâm Ðệ Tam Ðại Tự Pháp Huyền Quang
Tôn Giả và cúng dường 10 lạng bạc để xây tháp thờ ông phía sau chùa
Côn Sơn.
Năm 1337 Thiền Uyển Tập Anh ra đời, theo Trần văn Giáp và sau này là
Lê Mạnh Thát. Về tác giả: Lê Mạnh Thát cho là thiền sư Kim Sơn viết
theo lệnh của vua Trần Minh Tông, Nguyễn Lang (Nhất Hạnh) cho rằng đây
là công trình tập thể trong đó bốn người quan trọng nhất là: Thông
Biện (tịch năm 1134), Thường Chiếu (tịch năm 1203), Thần Nghi (tịch
năm 1216) và Ẩn Không là tác giả sau cùng.
Thiền Uyển Tập Anh ghi chép tiểu sử các thiền sư tại nước ta từ thế kỷ
6 tới đầu thế kỷ 13, thuộc ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn
Thông và Thảo Ðường. Sự ghi chép nhiều chỗ rất sơ sài, nhiều vị danh
tăng cùng thời vì không nằm trong ba thiền phái trên nên không được
nhắc tới. Tuy nhiên, đây là tác phẩm lịch sử Phật Giáo Việt Nam cổ
nhất còn truyền lại tới nay, nó trở nên quan trọng vì cung cấp nhiều
tên người, tên đất, về lối sống và tín ngưỡng ở nước ta trong 7 thế
kỷ. Tác phẩm này được Lê Mạnh Thát ( TUTA) dịch và chú giải kỹ lưỡng.
Năm 1350 (đời vua Trần Dụ Tông) sư TUỆ TĨNH thọ đại giới tại chùa Vân
Yên, núi Yên Tử với quốc sư Lãm Sơn. Tuệ Tĩnh (1330- 1399) được suy
tôn là ông tổ thuốc Nam.
Ông sanh năm 1330 tại Hải Dương, cha mẹ mất sớm, làm con nuôi sư trú
trì chùa Hải Triều ở làng Giao Thủy (Nam Ðịnh) từ nhỏ. Sau khi làng
Giao Thủy bị dịch tả, sư Tuệ Tĩnh chuyên tâm nghiên cứu dược tính từng
cây thuốc Nam, đồng thời nghiên cứu theo các bệnh chứng để tìm nguyên
nhân gây bệnh và chọn phương thuốc trị liệu. Ông chủ trương người Nam
dùng thuốc Nam để trị bệnh, không lệ thuộc vào thuốc Bắc nhập cảng từ
Trung Quốc. Thầy thuốc hay không phải chỉ biết công dụng của cây
thuốc, đoán trúng bệnh mà còn phải linh hoạt gia giảm từng phương
thuốc cho từng loại bệnh. Công trình nghiên cứu của ông được đúc kết
thành bộ sách Nam Dược Thần Hiệu. Ông còn diễn tả dược tính của vị
thuốc Nam bằng thơ Ðường và một bài phú chữ Nôm về cách dùng 630 vị
thuốc Nam.
Năm 1374, sư thi đậu Tiến Sĩ, được cử làm trú trì chùa Hải Triều (chùa
Hộ Xá). Tại đây sư mở trường đào tạo lương y cho cả tăng lẫn tục. Sư
biên soạn Hồng Nghĩa Giác Tự Y Thư làm sách cẩm nang trị liệu cho mỗi
chùa. Một phần sách này viết bằng thơ Nôm lục bát. Danh tiếng của sư
vang tận Trung Quốc nên năm 1384 ( Giáp Tí) vua nhà Minh đòi đích danh
nhà Trần phải triều cống sư. Vì sự nhu nhược của các vua cuối đời
Trần, sư Tuệ Tĩnh (cùng nhiều danh tài các ngành khác) phải lên đường
qua Kim Lăng, kinh đô nhà Minh. Sư chữa bệnh cho hoàng hậu và các
hoàng thân quốc thích nhà Minh cho tới khi tịch vào năm 1399 tại Kim
Lăng. Tại đền Xưa, đền Bia, chùa Giám ở Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương còn
di tích của ông. Hàng năm vào ngày 15 tháng 2 âm lịch, chùa Giám mở
hội tế lễ ông. Sách Nam Dược Thần Hiệu được Lê Mạnh Thát dịch và giới
thiệu trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam ( lần lượt được
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam xuất bản từng tập từ năm 2001). Sư
Tuệ Tĩnh còn dịch tác phẩm thiền Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông ra
chữ Nôm, dưới tên Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục.
Nền y tế công cộng tại nước ta ít nhất đã có từ đầu thế kỷ 14 và tiếp
tục phát triển dưới thời Hồ Quý Ly. Theo văn bia của vua Trần Minh
Tông (1314- 1329) khắc tại chùa Non Nước, Ninh Bình, chùa này đã là
nơi trồng cây thuốc và mở y viện chữa bệnh cho dân. Dưới thời vua Trần
Hiến Tông (1329- 1341), thuốc Hồng Sương Ngọc Hoàn trị bá bệnh được
cấp phát cho dân chúng. Năm 1403, nhà Hồ cho xây Quảng Tế Thự ,một
loại bệnh viện trung ương, danh y châm cứu Nguyễn Ðại Năng được giao
cai quản cơ sở này với chức vụ Quảng Tế Tự Thừa. Ông soạn sách Châm
Cứu Tiếp Hiệu Diễn Ca ghi cách chữa 130 bệnh dùng 140 huyệt châm cứu,
trong đó có 11 huyệt do người nước Nam tìm ra.
Các nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp và sau này Nguyễn Lang, Lê Mạnh Thát
cho rằng sư Tuệ Tĩnh sống vào thế kỷ 17. Lê Mạnh Thát (TTTNT tr. 347)
ghi Chân An Tuệ Tĩnh tịch vào năm 1711. Chúng tôi dựa vào tài liệu của
Tuệ Tĩnh Ðường ( một hệ thống phòng mạch thuốc Nam hiện nay tại VN) vì
sự kiện các nhân tài nước Nam bị đem cống hiến Trung Quốc xảy ra vào
cuối đời nhà Trần.
Năm 1389 nhà sư Phạm Sư Ôn, pháp hiệu Thiên Nhiên, thuộc phái thiền
Trúc Lâm huy động được một số tăng sĩ lãnh đạo hơn vạn người nổi dậy
chống lại triều đình Trần Thuận Tông (1388- 1398) ở Quốc Oai, Sơn Tây.
Lúc đó, quân Chiêm đang tấn công nước ta, chiếm từ Thanh Hóa trở vào.
Triều đình hầu như nằm trong tay Hồ Quý Ly, nhân dân đói khổ, giặc giã
nổi lên khắp nơi, quân Chiêm Thành dưới sự lãnh đạo của Chế Bồng Nga
liên tiếp tấn công. Năm trước, 1388, các tôn thất nhà Trần âm mưu loại
trừ Hồ Quý Ly bị phát giác và bị Quý Ly giết hại khá nhiều.
Lúc đầu thanh thế sư Phạm Sư Ôn rất mạnh. Ông chiếm được kinh đô trong
3 ngày, xưng là Hoàng Ðế, lập triều đình rồi lui về Quốc Oai. Tả Thánh
Dực Tướng Quân Hoàng Phụng Thế tuân lệnh Hồ Quý Ly, tách một phần quân
đang chống giữ quân Chiêm khai lòng sông tiến lên đánh úp, bắt được
Phạm Sư Ôn và các cận thần đem giết. Cuộc khởi nghĩa tan rã (VSTB).
Các tác giả Phật Giáo như Lê Mạnh Thát, Nhất Hạnh, Nguyễn Ðức Sơn đều
cho rằng cuộc khởi nghĩa của sư Phạm Sư Ôn là phản ứng của giới tăng
sĩ Phật Giáo đối với một chính quyền trở thành tồi tệ gây nguy hại cho
nhân dân và đất nước.
Năm 1407- 1428 nước ta bị Trung Quốc đô hộ sau khi nhà Minh tiêu diệt
triều đại nhà Hồ. Hồ Quý Ly truất Trần Thiếu Ðế Án, lên làm vua năm
1400. Cuối năm, nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, lên làm Thái
Thượng Hoàng. Năm 1407 cha con Hồ Quý Ly cùng nhiều quan lại thân cận
(trong đó có Nguyễn Phi Khanh, cha của Nguyễn Trãi) bị quân Minh bắt,
giải về Kim Lăng, kinh đô nhà Minh.
Sau khi diệt được nhà Hồ, nhà Minh sai Trương Phụ tiêu diệt toàn bộ
văn hóa Việt Nam, đem về Trung Quốc tất cả văn bia, sách vở và bất cứ
thứ gì có ghi lại chữ. Ðồng thời họ phổ biến rộng rãi các sách Tư Thư,
Ngũ Kinh, Tinh Lý để đồng hóa dân ta. Sợ Trương Phụ còn để sót lại
những di sản văn hóa Ðại Việt, năm 1418 vua Minh sai hai Nho gia là Hạ
Thanh và Hạ Thi sang nước ta để tịch thu cho bằng hết tất cả các tác
phẩm của Ðại Việt. Nhà Minh còn lập Tăng Cương Ty và Ðạo Kỳ Ty để lo
việc giáo dục Phật Giáo và Lão Giáo theo mẫu mực Trung Quốc.
Trong thời đô hộ này, sư PHẠM NGỌC tại chùa Ðồ Sơn (An Lão, Kiến An)
khởi nghĩa, đánh quân Minh nhiều trận ở vùng trung du và đồng bằng Băc
Bộ, gây thiệt hại đáng kể cho địch. Sư Phạm Ngọc thành lập chính quyền
kháng chiến, xưng là La Bình Vương. Sau ông bị quân Minh bắt, giải
sang Trung Quốc hành hình. Trước đó sư AN QUỐC cũng lãnh đạo một cuộc
kháng chiến chống quân Minh nhưng cuộc khởi nghĩa bị thất bại ngay sau
đó.
Cuộc khởi nghĩa của Giản Ðịnh Ðế (con thứ của vua Trần Nghệ Tông) năm
1407- 1409, nối tiếp bởi Trần Quý Khoách năm 1409- 1413 được gọi là
nhà Hậu Trần, mỗi lần thất bại là một lần nhân dân bị quân Minh và
những tay sai khủng bố dã man, mặc dù chúng luôn luôn nêu cao chiêu
bài phù Trần diệt Hồ để ve vãn tôn thất nhà Trần. Tới cuối năm Ðinh
Dậu (1417) Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn quy tụ được nhiều người tài
giỏi nhưng cũng phải mất 10 năm kháng chiến mới đánh đuổi được quân
Minh ra khỏi đất nước năm 1428, lập nhà Hậu Lê.
Năm 1429 , triều Lê Thái Tổ (1428- 1433) ngày 20 tháng 10 tất cả tăng
sĩ Phật Giáo và đạo sĩ Lão Giáo phải trình diện để khảo thí. Ai thi
đậu được tiếp tục hành đạo, ai thi hỏng bị bắt phải hoàn tục. Cuộc thi
là khảo hạch từ chương của Nho giáo, đòi hỏi thí sinh phải thông thạo
Hán văn.
Năm 1434- 1449 các đời vua Lê Thái Tông (1434- 1442) và Lê Nhân Tông
(1443- 1459), thường xảy ra hạn hán. Mùa hạ năm 1434, vua Lê Thái Tông
sai quan rước Phật chùa Pháp vân về chùa Báo Thiên ở kinh đô để cầu
mưa. Năm 1448, vua Lê Nhân Tông xuống chiếu bắt các quan phải ăn chay
và giữ mình cho sạch để tới chùa Báo Thiên ở cung Cảnh Linh làm lễ cầu
mưa, lại sai quan rước Phật từ chùa Pháp Vân về. Năm 1449, vua lại tổ
chức cầu mưa ở cung Cảnh Linh.
Năm 1440 thiền sư VIÊN THÁI (1400- 1460) dịch Phật Thuyết Ðại Báo Phụ
Mẫu Trọng AÂn Kinh ra chữ Nôm. Theo Lê Mạnh Thát (TUTA, tr. 345), ông
cũng là người dịch tác phẩm Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục
(của thiền sư Kim Sơn) ra thơ Nôm.
Năm 1442 Nguyễn Trãi bị án tru di tam tộc , vì vua Lê Thái Tông chết
trong đêm ngự giá tại trang trại trồng vải ( Lệ Chi Viên) của ông ở
Côn Sơn, có Thị Lộ là thiếp yêu quý của Nguyễn Trãi hầu cận. Nguyễn
Trãi (1380- 1442) là một đại công thần, một nho gia uyên bác và cương
trực đứng đầu văn quan nên bị đa số các tướng lãnh của Lê Lợi vốn chỉ
là võ dõng ganh ghét. Lại nữa Thị Lộ là người được vua Thái Tông tin
yêu, từng bàn luận với nhà vua nhiều đại sự nên càng làm lớn thêm sự
ganh ghét của các võ quan. Nguyễn Trãi được coi là đại anh hùng dân
tộc nên vụ án này bị các sử gia coi là vô cùng oan ức và bất công ngay
cả so với các vụ án hàm oan trong sử sách Trung Quốc.
Sau này, vua Lê Thánh Tông (1460- 1497) giải oan cho ông, hủy bỏ án
đó. Vua Thánh Tông khi mới sinh ra, mẹ con ông đã được Thị Lộ che chở
và Nguyễn Trãi giúp đỡ mới khỏi bị hại bởi những ganh ghét trong nội
cung.
Nguyễn Trãi là tác giả Bình Ngô Ðại Cáo, một tác phẩm chính trị bất
hủ, và Gia Huấn Ca, một tác phẩm sâu sắc giáo dục thanh thiếu niên.
Ông từng học đạo với thiền sư Ðạo Khiêm (1370- 1445, trú trì chùa Tư
Phúc ở Côn Sơn) hơn 10 năm trước khi về sống ẩn dật tại Côn Sơn.
Năm 1460 Á Quận Hầu Ðinh Liệt liên kết với nhiều quan văn võ trong
triều âm mưu đảo chánh, giết bọn tâm phúc của Lạng Sơn Vương Nghi Dân,
lật đổ Nghi Dân, giáng xuống tước Hầu và lập Bình Nguyên Vương Tư
Thành lên ngôi, lấy hiệu là Lê Thánh Tông ( 1460- 1497).
Nghi Dân là con cả của vua Lê Thái Tông, giết Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu
và tự lập làm vua năm 1459. Trong 8 tháng cầm quyền, nhiều quan lại bị
ông ra lệnh giết một cách oan uổng.
Cuộc đảo chánh kết liễu, để ngăn không cho tin tức này tiết lộ ra
ngoài, vua Lê Thánh Tông ra chiếu chỉ cấm tăng sĩ và đạo sĩ không được
liên lạc với nội cung vì các bà hoàng và phi tần là những Phật tử
ngoan đạo. Bốn năm sau, ông lại xuống chiếu cấm dựng thêm chùa mới.
Vì thiên kiến của vua Lê Thánh Tông (là một vị anh quân nhà Lê đưa xã
hội vào quy củ ổn định) đối với Phật giáo, các tác phẩm của dòng Thiền
Trúc Lâm không được giới trí thức ngó ngàng tới. Thậm chí trạng nguyên
Lương Thế Vinh còn bị quan lại triều đình chê cười vì "sáng tác kinh
Phật". Ðể phản ứng lại, Phật giáo dân gian ở nước ta hình thành thể
loại văn học kể hạnh, còn gọi là hát kệ về công hạnh của các thiền sư
đời trước. Nhờ vậy văn Nôm được phát triển trong dân gian vào thời kỳ
này , dù bị Nho gia bài bác "nôm na là cha mách qué!".
Thời vua Lê Thánh Tông, Nho học phát triển rất mạnh. Số tiến sĩ bằng
1/5 tổng số tiến sĩ trong các khóa thi từ thời vua Lý đến triều Thành
Thái (2353 vị), trong đó có 9 trong tổng số 30 trạng nguyên. Ðạo luật
Hồng Ðức được ban vào thời này là một điểm son trong lịch sử luật pháp
VN vì tính cấp tiến và dân chủ của nó. Sau nhiều cuộc Nam chinh, nhà
vua chấm dứt được họa chiến tranh với Chiêm Thành, Lão Qua và Bồn Man
(các nước ở phía Tây và Nam).
Năm 1463 LƯƠNG THẾ VINH ( sanh năm 1440) đỗ trạng nguyên đời Lê
Thánh Tông. Ông làm quan Thừa Chỉ Hàn Lâm Thị Thư, được vua giao việc
thảo những văn thư ngoại giao với nhà Minh. Triều Minh thường khen
ngợi những văn thư ngoại giao này. ông là một trong 28 nhà thơ của hội
Tao Ðàn do vua Lê Thánh Tông lập năm 1495. Ông còn được ca ngợi vê ø
tài toán học, nên thường được gọi là Trạng Lường. Theo Nhất Hạnh
(VNPGSL 2), người ta cho rằng phép đo ruộng thành mẫu, sào, thước ( 24
mét vuông) và tấc (1/10 thước) do ông đaàu7841?t ra. Thực ra, phép đo
này cũng như cách tính xây dựng nhà cửa, thành lũy được chỉ dẫn trong
sách Lập Thành Toán Pháp của Vũ Hữu (1437- 1530) nhà toán học cũng là
một danh thần nổi tiếng thanh liêm dưới triều Lê Thánh Tông, đã từng
làm Thượng Thư bộ Hộ, về hưu năm 70 tuổi mà tới năm 90 tuổi (1527) vẫn
được vua sai mang cờ tiết đi phong vương cho Mạc Ðăng Dung. Toán pháp
nước ta trước đó đã được Hồ Quý Ly đặc biệt lưu tâm. Năm 1397, đồng
thời với việc phát hành tiền giấy, ông ban hành các đồ đo lường (cân,
thước, đấu, thưng) để làm chuẩn trong việc buôn bán. Năm 1404 ông quy
định các người đỗ thi Hương phải qua kỳ thi làm toán pháp mới được
tiếp tục thi Hội.
Dù là một nhà nho lỗi lạc, Lương Thế Vinh vẫn bị các bạn đồng nghiệp
chê cười mãi, còn không được ghi tên trong văn miếu Khổng Tử để thờ
vì bị kết tội là nhà Nho mà "sáng tác kinh Phật". Kinh Phật đó là bài
Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, còn gọi là Phật Kinh Thập Giới. Ðây là
áng văn Nôm cổ gồm đoạn mở đầu và 10 đoạn nói về 10 giới cô hồn: Thiền
tăng, đạo sĩ, quan liêu, nho sĩ, thiên văn địa lý, lương y, tướng
quân, hoa nương, thương cổ và đãng tử. Mỗi đoạn có một bài tán và kết
thúc bằng bài kệ 8 câu. Nhất Hạnh (VNPGSL 2) cho rằng không phải do
Lương Thế Vinh viết vì bài kệ của đoạn về Thiền tăng có giọng đùa bỡn,
không thể nào do một người có nhiều cảm tình với Phật giáo như Lương
Thế Vinh. Theo Lê Mạnh Thát, Thập Giới Cô Hồn Văn là một tác phẩm của
vua Lê Thánh Tông (1442- 1497), sẽ được ông dịch và dẫn giải trong bộ
Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam.
Lương Thế Vinh tánh bình dị, hay khôi hài, là tác giả những sách:
1- Ðại Thành Toán Pháp và Khải Minh Toán Học: về toán học .
2- Hỷ Phường Phổ Lục: về lịch sử hát chèo
3- Thiền Môn Khoa Giáo ( còn gọi là Thích Ðiển Giáo Khoa): giáo
khoa về Phật học
4- Bài tựa sách Nam Tông Tự Pháp Ðồ. Nam Tông Tự Pháp Ðồ do thiền
sư Thường Chiếu (tịch năm 1203) viết về lịch sử truyền thừa đạo Phật ở
nước ta.
Năm 1521 thiền sư DIỆU VIÊN PHÁP TÍNH (1470- 1550) hô hào học tập quốc
âm ( chữ Nôm), viết Chỉ Nam Ngọc AÂm Giải Nghĩa năm 1521 được coi như
một tự điển viết bằng thơ lục bát gồm 20 ngàn từ Hán và Nôm. Theo văn
bia chùa Ninh Phúc dựng năm 1647: phần từ ngữ Hán chia thành 30 loại
từ thiên văn, địa lý, âm nhạc, hội họa, kiến trúc ... tới dược thảo,
tang lễ ... Bà cũng dịch Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh của Thiền sư
Kim Sơn đời Trần ra quốc âm ( chữ Nôm). Trước khi xuất gia bà là
hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trúc, con của chúa Trịnh Tráng, chánh cung
của vua Lê Thần Tông, mẹ của vua Lê Hy Tông. Dân chúng gọi bà là Bà
Chúa Kim Cương.
Năm 1527- 1592 triều đại nhà Mạc. Mạc Ðăng Dung giết vua Lê Cung
Hoàng, bà Thái Hậu và một số cận thần rồi lên ngôi năm 1527. Sử sách
cũng gọi là Thời Nam Bắc Triều vì từ năm 1532, Nguyễn Kim phò vua Lê
Trang Tông chiếm giữ Thanh Hóa, Nghệ An và vùng trong. Kể từ đó hai
bên khi thì Bắc Triều (nhà Mạc) Nam chinh, khi thì Nam Triều (Trịnh
Kiểm, sau đó là Trịnh Tùng) Bắc tiến. Năm 1592, Trịnh Tùng bắt được
vua Mạc Mậu Hợp đem chém, nhưng con cháu nhà Mạc vẫn còn hùng cứ từ
miền trung du và duyên hải phía Bắc tới Cao Bằng cho tới năm 1667 mới
tuyệt hẳn.
Trong 155 văn bia được dựng trong 65 năm triều đại nhà Mạc còn lại tới
nay, có 110 văn bia dựng tại các chùa và 1 bài minh khắc trên chuông
chùa Tư Phúc, Thái Bình. Ðiều này cho thấy sinh hoạt Phật Giáo dưới
triều đại nhà Mạc cần được nghiên cứu nghiêm chỉnh.
Năm 1558 cuối năm Mậu Ngọ, đời Lê Anh Tông, nhờ sự vận động của chị
mình là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) Nguyễn Hoàng được chúa Trịnh Kiểm cho
phép đem theo bà con và binh sĩ vào trấn thủ Thuận Hóa. Trong những
năm đầu Nguyễn Hoàng luôn luôn chứng tỏ sự thần phục vua Lê và chúa
Trịnh. Trong thời gian 1592- 1599, ông đem quân ra ở luôn tại Bắc Hà,
giúp vua Lê và chúa Trịnh Tùng đánh nhà Mạc, lập nhiều chiến công. Tới
năm 1600, ông mới kéo quân về thẳng Thuận Hóa bằng đường thủy, mở dòng
chúa Nguyễn ở Ðàng Trong. Hậu duệ của ông là Nguyễn Ánh sau này lập ra
triều Nguyễn (1802- 1945). Cho tới khi mất, Nguyễn Hoàng vẫn cố duy
trì mối quan hệ có vẻ thân thiện với chúa Trịnh Tùng, thậm chí năm
1600 ông còn gả con gái cho Trịnh Tráng (con Trịnh Tùng, sau này nối
ngôi chúa Trịnh), để có thể yên ổn củng cố thực lực ở Ðàng Trong. Năm
1601, ông cho dựng chùa Thiên Mụ bên tả ngạn sông Hương ở Huế. Các
chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn sau này coi chùa Thiên Mụ là Ðệ Nhất
Quốc Tự .
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh chỉ bắt đầu từ năm 1627 khi chúa Trịnh
Tráng đem 200 ngàn quân tấn công chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Trong
khoảng thời gian 45 năm, 1627- 1672, hai bên đại chiến 7 lần vào các
năm 1627, 1630, 1635, 1648, 1655, 1661, 1672. Thời này chiến tranh
liên miên khắp đất nước, vì ở Ðàng Ngoài mãi tới năm 1667, tướng Trịnh
là Ðinh Văn Tả đánh chiếm Cao Bằng, Mạc Kính Hoàn phải chạy qua Tầu,
bị nhà Thanh bắt giải giao cho chúa Trịnh, chiến tranh với nhà Mạc mới
thực sự chấm dứt ở Ðàng Ngoài.
Năm 1628- 1715 thiền sư MINH CHAÂU HƯƠNG HẢI. Ông làm quan ở Ðàng
Trong từ năm 18 tuổi, năm 30 tuổi xin từ quan xuất gia. Năm 1682 cùng
50 đệ tử vượt thuyền ra Ðàng Ngoài vì bị chúa Nguyễn Phúc Tần nghi
ngờ. Ðược chúa Trịnh Căn giúp đỡ, trong 30 năm trụ trì chùa Nguyệt
Ðường ở Phố Hiến (1685- 1715) ông dịch và giải các kinh Pháp Hoa,Kim
Cương, Tâm Kinh, Pháp Bảo Ðàn Kinh, Phật Tổ Tam Kinh (Bát Ðại Nhân
Giác, Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo), A Di Ðà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô
Lượng Thọ, soạn Giải Sa Di Giới Luật và các nghi thức Nghi Thức Cúng
Phật Dược Sư, Cúng Cửu Phẩm. Ông là người đầu tiên dịch và chú giải
Bát Nhã Tâm Kinh bằng chữ Nôm. Với hầu như toàn bộ tác phẩm đều viết
bằng chữ Nôm, ông góp phần quan trọng vào việc làm cho nền văn học chữ
Nôm phong phú và rực rỡ. Dù thuộc phái thiền Lâm Tế ( dòng Trí Bảng),
ông vẫn chủ trương pháp tu phối hợp Thiền Tịnh và thiên về lối tiệm tu
của phái thiền Thần Tú. Người bốn phương tìm về cầu đạo với ông rất
đông. Vua Lê Dụ Tông sau lần mời ông vào nội điện lập đàn cầu tự và
thuyết pháp, thường gặp ông để vấn đạo. Ðệ tử đắc pháp với ông mang
pháp tự chữ Chân ( như thiền sư Chân Lý Hiển Mật) lên tới 70 người.
Ông để lại 30 tác tác phẩm Phật học. Tác phẩm quan trọng của ông Sự Lý
Dung Thông gồm 162 câu theo thể thơ lục bát trình bày đường hướng của
ông về lý thuyết và thực tiễn của đời sống người tu thiền Việt Nam,
một lối sống trượng phu trung hiếu, đạo và đời quyện chặt vào nhau. Lê
Mạnh Thát đã dịch và giới thiệu tác phẩm này trong Toàn tập MCHH tr.
388- 405 (nhà xuất bản TP/HCM, năm 2000).
Căn bản nhận thức của phương pháp hành thiền ông chủ trương: Phật và
chúng sinh cùng thể tướng, mê và ngộ cùng thể tướng, tâm và cảnh chung
thể tướng. Vì vậy, không thể cầu an tâm bằng cách chạy trốn sự vật;
giới luật cao nhất là sự vô tâm; giây phút có được cái thấy sáng suốt
không mắc kẹt nhị nguyên thì thành Phật.
Theo Lê Mạnh Thát (MCHH, tr. 17): Vụ cấm đạo năm 1714 tại Ðàng Ngoài
có lẽ phát xuất từ cuộc đối đáp giữa thiền sư Minh Châu Hương Hải và
3 vị tu sĩ Thiên Chúa Giáo người Hòa Lan do quan hiệp trấn Sơn Nam
triệu tập tại chùa Nguyệt Ðường. Trưởng quan hỏi các linh mục một câu,
không linh mục nào trả lời được. Trưởng quan hỏi Hương Hải một câu,
ông trả lời trôi một mạch. Trưởng quan tuyên bố: Ðạo (đạo Chúa) không
bằng Thích (đạo Phật), Hoa Lang (các giáo sĩ Hòa Lan) ngoa dối lời dụ
dỗ để siêu lòng người, đó là tà đạo, chẳng biết nghĩa lý. Ông liền
trình lên chúa Trịnh. Chúa cho kiểm tra lại, 8 tháng sau mới ra lệnh
trục xuất các giáo sĩ về nước.
1647- 1726 Thiền sư CHAÂN NGUYÊN TUỆ ÐĂNG, người có công phục hưng
thiền phái Trúc Lâm, cứu vãn một số tác phẩm quan trọng của thiền phái
này bằng cách sưu tầm, hiệu đính, khắc bản và lưu hành. Ông quê tại
Hải Dương, sau khi đọc hành trạng của Huyền Quang ( tổ Trúc Lâm thứ
ba) trong sách Tam Tổ Thực Lục mà phát nguyện xuất gia năm 19 tuổi với
thiền sư Chân Trú tại chùa Hoa Yên, một trong những tổ đình của phái
Trúc Lâm. Ít lâu sau sư phụ tịch, ông tham học với thiền sư Minh Lương
(phái thiền Lâm Tế, Trung Quốc) ở chùa Vĩnh Phúc. Thiền sư Minh Lương
đã truyền thừa cho ông như sau: Dòng Thiền Lâm Tế trao cho ông, ông
nên kế thừa làm thạnh ở đời. Nhưng sau đó, ông nhận truyền thừa y bát
của phái Trúc Lâm, làm trú trì hai chùa lớn của phái này là Long Ðộng
và Quỳnh Lâm. Vua Lê Dụ Tông phong ông làm Tăng Thống năm 1722.
Mặc dù là một thiền sư thọ giáo cả hai phái thiền Trúc Lâm và Lâm Tế,
ông đã viết ít nhất là 3 tác phẩm về Tịnh Ðộ trong số 14 tác phẩm còn
để lại: Long Thư Tịnh Ðộ Văn, Long Thư Tịnh Ðộ Luật Bạt Hậu Tự và Tịnh
Ðộ Yếu Nghĩa. Hai tác phẩm về luật và nghi thức: Tôn Sư Pháp Sách Ðăng
Ðàn Thọ Giới và Nghênh Sư Duyệt Ðịnh Khoa. Các tác phẩm chữ Nôm của
ông gồm: Thiền Tịch Phú, Nam Hải Quan AÂm Bản Hạnh, Ðạt Na Thái Tử
Hạnh, Thiền Tông Bản Hạnh. Thiền Tông Bản Hạnh gồm 798 câu thơ lục bát
nói về đường lối tu hành của các vị vua đời Trần, làm rõ yếu chỉ của
dòng Thiền Trúc Lâm. Thiền Tịch Phú viết về chùa Long Ðộng là một đỉnh
cao của nghệ thuật phú chữ Nôm, có rất nhiều từ ngữ thuần túy Việt
Nam.
Tư tưởng thiền của Chân Nguyên: tự tính giác ngộ có tính trong sáng,
tròn đầy, hiện hữu một cách bình đẳng nơi mọi loài, mọi vật. Phát hiện
được tự tính đó là giác ngộ thành đạo. Sử dụng ngôn thuyết chỉ là
phương tiện bất đắc dĩ để đối trị vọng tưởng của chúng sanh, vì đọc
kinh thì rất lâu mới hiểu được đạo, mà "nói ra thì mắc kẹt". Công án,
hay những mẩu đối đáp kỳ lạ giữa các tổ và môn đệ, đích thực là ngôn
ngữ Thiền, là phương tiện hữu hiệu để đập vỡ thói quen và thành kiến,
đưa con người ra khỏi bế tắc tâm linh. Công án được Chân Nguyên ưa
thích nhất : Trước khi trời dất chưa sinh, mẹ cha chưa có, bản lai
diện mục của mình là cái gì ? là của tổ Bách Trượng (Trung Quốc) trao
cho Hương Nghiêm. Thiền sư Chân Nguyên cho rằng chìa khóa của sự đạt
đạo là nuôi sáng ý thức mình về sự hiện hữu của cái tự tính trong sáng
tròn đầy nói trên, được như vậy thì mọi hành động của ta tự nhiên đi
vào giác ngộ.
Chân Nguyên là một đại tăng được đương thời kính trọng. Ngô Thời Sỹ,
từng ra lệnh cấm con cháu không được theo Phật và Lão, vẫn kính cẩn
nhắc tới "Chân Nguyên Thượng Nhân" trong Việt Sử Tiêu Án. Ông có nhiều
đệ tử xuất sắc tiếp tục thành công việc phục hồi các tác phẩm của
thiền phái Trúc Lâm đời Trần.
Trước khi tịch, Chân Nguyên trao y bát Trúc Lâm cho thiền sư Như Hiện.
Như Hiện đã được chúa Trịnh Giang tận tình giúp đỡ trùng tu lại hai
ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm là Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm năm 1730,
với gần 10 ngàn thợ làm trong 1 năm trời.
Năm 1695 thiền sư THẠCH LIÊM Thích Ðại Sán (1633- 1704) hướng dẫn
đoàn tùy tùng khoảng 100 người (hơn phân nửa là tăng chúng) tới Ðàng
Trong theo lời mời của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu. Ðoàn hoằng pháp này
cư ngụ tại chùa Thiền Lâm được tu sửa quy mô và cấp tốc trong 3 ngày.
Công tác quan trọng nhất của đoàn là tổ chức đại giới đàn Thiền Lâm từ
ngày 1 tới 12 tháng 4. 1695 (Ất hợi). Trên 3 ngàn giới tử tham dự,
trong đó khoảng 1400 thọ giới tì kheo và sa di từ khắp nơi trong nước,
nhiều hoàng thân quốc thích cũng xin thọ Bồ tát giới. Thiền sư Liễu
Quán đã từ Phú Yên tới đây thọ giới. Thiền sư Thạch Liêm còn chủ trì
một đại giới đàn khác tại chùa Di Ðà, Hội An vào tháng 7 cùng năm. Tuy
nhiên, rất nhiều cao tăng uy tín ở Ðàng Trong không tham dự các đại
giới đàn của ông có lẽ vì ông viết bố cáo về các đại giới đàn cho dán
ở các chùa lời lẽ thiếu khiêm nhường, đánh giá đa số tăng sĩ ở Ðàng
Trong là trai tráng thất học cạo đầu trốn lính. Ông còn đề nghị với
Hữu Thừa Tướng Tống Phúc Tài phải "cuốc hết các cỏ dại này cho lúa tốt
có thể mọc lên". Sau một thời gian nghỉ dưỡng bệnh tại chùa Thiên Mụ
và chờ gió mùa, tháng 6 năm 1696 đoàn của thiền sư Thạch Liêm xuống
thuyền về Quảng Ðông, Trung Quốc. Chuyến đi hoằng pháp này được ông
ghi lại tại chỗ trong tập Hải Ngoại Ký Sự được Viện Ðại Học Huế dịch
và xuất bản năm 1963.
Thạch Liêm là người đa tài, giỏi về nhiều môn từ thi ca, hội họa tới
thủ công, đã để lại nhiều tác phẩm. Tư tưởng của ông: Thiền Tịnh song
tu, Nho Phật nhất trí, tổng hợp Lâm Tế và Tào Ðộng. Nhất Hạnh (VNPGSL
1,tr.187) nhận xét: tư tưởng thiền học của Thạch Liêm không có gì đặc
sắc, kinh nghiệm tu chứng cũng không vững chãi bằng so với các thiền
sư Việt Nam cùng thời với ông như Minh Châu Hương Hải (1628- 1715),
Chân Nguyên (1647 - 1726). Nguyễn Văn Xuân (Phong Trào Duy Tân, Sài
Gòn, Lá Bối 1969) cho rằng Thạch Liêm tới Ðàng Trong chính ra không
phải để truyền giáo mà là để đón nhận số vàng chúa Nguyễn Phúc Chu
cúng dường rất rộng rãi về xây dựng chùa bên Tàu. Quốc chúa Nguyễn
Phúc Chu và bà mẹ của ông là đệ tử rất sùng kính Thạch Liêm. Việc ông
gọi chúa Nguyễn Phúc Chu là quốc vương và bà mẹ của chúa là quốc mẫu
bị Trần Kinh Hòa (Cheng Chin Ho, giáo sư Sử Học của Ðài Loan được Viện
Ðại Học Huế mời qua giảng dạy và dịch những châu bản triều Nguyễn)
nặng lời phê bình (tự phụ, đắc ý tỏ ra mặt, sinh sống xa xỉ, ương gàn
tự thị, dua nịnh quan trường, lời lẽ kiêu căng, có người xem y như yêu
tăng ...) vì chúa Nguyễn chưa xin thụ phong, chưa được nhà Thanh sắc
phong nên chưa thể gọi là vua!!!
1691- 1725 triều đại chúa Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa 1675- 1725). Phật
giáo được chánh quyền hộ trì mạnh mẽ từ sau 1695. Năm 1695, chúa mời
sư THẠCH LIÊM Thích Ðại Sán, thuộc dòng Thiền Tào Ðộng, tới Ðàng Trong
theo đề nghị của quốc sư Hưng Liên, mở hai đại giới đàn trong năm.
Chúa rất khâm phục đạo đức và kiến thức của Thạch Liêm, nên theo lời
đề nghị của ông, Chúa bãi bỏ hình phạt dùng voi xử tư û tội, xét tha
những tù nhân bị oan ức, chuẩn cấp cho kẻ nghèo, bỏ bớt những luật lệ
quá nghiêm khắc. Có lẽ cũng do bản điều trần bố đề nghị của sư Thạch
Liêm, Chúa không còn thanh lọc tăng già bằng cách bắt bớ hay thi cử mà
chú trọng tới việc nâng cao uy tín các cao tăng ở các tỉnh bằng cách
ban biển ngạch sắc tứ và câu đối cho rất nhiều chùa. Các sắc tứ Chúa
ban cho các chùa ký tên Thiên Túng Ðạo Nhân, là đạo hiệu của Chúa
(VNPGSL 1, tr. 190- 193). Chúa tự nhận là "nối dòng Tào Ðộng chánh
tông, đời thứ 30, pháp danh Hưng Long" (nghĩa là đệ tử của Thạch
Liêm). Ông thường so sánh mình với cư sĩ Duy Ma Cật, một trong 10 đại
đệ tử của Phật Thích Ca. Từ năm 1710, Chúa cho đúc đại hồng chung chùa
Thiên Mụ, trùng tu các chùa Thiên Mụ, Kinh Thiên, lập chùa Giác Hoa,
mua cả ngàn sách kinh luật luận cho các chùa.
Năm 1708 sau 6 năm tham cứu công án "muôn pháp về một, một về chỗ
nào?" tổ LIỄU QUÁN trình bày công phu đốn ngộ của mình với thầy là
thiền sư Tử Dung tại chùa Ấn Tôn ở núi Long Sơn, Thuận Hóa. Thiền sư
Liễu Quán (1670- 1742) được coi là người lãnh đạo công cuộc phục hưng
Phật giáo ở Ðàng Trong vào đầu thế kỷ 18. Ông xuất gia năm 12 tuổi tại
chùa Hội Tôn, Phú Yên với thiền sư Tế Viên. Ông học Hán tự vàkinh luật
dễ dàng, được thầy thương yêu. Bảy năm sau, thầy mất. Tang lễ thầy
xong, ông để chùa lại cho các sư huynh trông coi, lên đường vào Thuận
Hóa cầu học với thiền sư Giác Phong năm 1690. Một năm sau, nghe tin
cha bị bệnh, ông xin trở về chăm lo. Trong 4 năm trời, ông lên rừng
đốn củi đổi gạo nuôi cha. Bốn năm sau, cha từ trần. Tang lễ xong, ông
lại lên đường học đạo. Lúc đó sư Thạch Liêm tổ chức đại giới đàn tại
chùa Thiền Lâm, ông tới xin thọ giới sa di. Hai năm sau (1697) ông thọ
giới tỳ kheo tại giới đàn của thiền sư Từ Lâm. Năm 1699, ông lại lên
đường cầu học khắp các tổ đình. Năm 1702, ông gặp thiền sư Tử Dung,
nhận công án "muôn pháp về một, một về chỗ nào?".
Sau khi ngộ được công án trên, thiền sư Liễu Quán hành đạo tại nhiều
đạo tràng từ Huế tới Phú Yên, như chùa Thiền Tông, chùa Viên Thông ở
Thuận Hóa, chùa Hội Tông, Cổ Lâm, Bảo Tịnh ở Phú Yên, hóa độ từ vua
quan tới thứ dân.
Chùa Viên Thông do thiền sư Liễu Quán dựng ở chân núi Ngự Bình. Chúa
Nguyễn Phúc Khoát rất sùng kính hạnh của ông, nhiều lần triệu thỉnh
nhưng ông một mực từ chối. Vì vậy chúa thường tới chùa Viên Thông để
thăm ông và hỏi đạo. Núi Ngự Bình do đấy được gọi là núi Ngự. Ông được
thỉnh làm chủ tọa 4 giới đàn lớn ở kinh đô năm 1733- 1735 có nhiều cao
tăng và quan lại tham dự. Năm 1740 ông chủ tọa giới đàn Long Hoa. Năm
1742 vài tháng trước khi tịch, ông còn được thỉnh làm Hòa Thượng Ðường
Ðầu giới đàn chùa Viên Thông. Ðệ tử thọ giới với ông xuất gia và tại
gia gần 4 ngàn người.
Ông thuộc đời thứ 35 dòng Lâm Tế, đã làm cho thiền phái này mang màu
sắc dân tộc ở Ðàng Trong, trút bỏ dần màu sắc Trung Quốc (Quảng Ðông)
trong lễ nhạc. Không những thế, ông còn là thiền sư đầu tiên ở Ðàng
Trong đưa ra bài kệ truyền phái (Thật Tế Ðại Ðạo,Tánh Hải Thanh
Trừng,Tâm Nguyên Quảng Nhuận) cho thiền phái của ông. Bốn đại đệ tử
của ông là các thiền sư Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế Nhân và Từ Chiếu đã tạo
được 4 đạo tràng lớn và hàng chục tổ đình.
Ðinh Quang Mỹ ( Thiền Trúc Lâm, sđd) cho rằng trong thiền sử nước ta,
nơi thiền sư Liễu Quán mới thấy có dấu hiệu thực hành công án.
Phong trào phục hưng Phật giáo ở nước ta vào thế kỷ 20 chủ yếu phát
xuất từ các cơ sở của phái Liễu Quán.
Năm 1709 đại sư CHAÂN DUNG TÔNG DIỄN tịch. Ông sanh năm 1640, nổi danh
về gương hiếu hạnh được đại chúng ca ngợi qua danh hiệu Hòa Thượng Cua
vì đã âm thầm hóa độ và giải nghiệp sát hại cua cho bà mẹ. Ðiển tích
Hòa Thượng Cua hóa độ cho mẹ ý nghĩa sâu sắc hơn điển tích Mục Kiền
Liên cứu mẹ khỏi địa ngục.
Ông được thiền sư Thủy Nguyệt (1636- 1704, đã cầu học dòng Thiền Tào
Ðộng ở núi Phụng Hoàng, Trung Quốc) truyền tâm ấn. Thủy Nguyệt từng
khen ngợi khi cho ông pháp hiệu Thông Giác: Ngươi là con cháu xứng
đáng của tông Tào Ðộng.
Ông đã cứu Phật giáo khỏi pháp nạn vào đời vua Lê Hy Tông (1676-
1705). Nhà vua nghe lời các nho thần, ra lệnh cho các sư phải bỏ chùa
vào rừng núi tu cho thanh tịnh, không được ở nơi thành thị. Ðại sư
Tông Diễn nghe tin này quá đau lòng vì các nhà sư là người chủ trì
nghi thức quan hôn tang tế, thầy dạy học chữ Hán, thầy thuốc và người
nuôi dạy trẻ mồ côi cho dân làng. Ông liền đến kinh đô, nghĩ kế xin
dâng vua viên ngọc quý để được yết kiến vua. Vua không cho ông vào
cung, ra lệnh nếu có ngọc, vua sẽ sai quan ra nhận. Sau ba tháng chờ
đợi không được vua vời, ông viết một tờ biểu trình bày giáo lý đạo
Phật đẹp đẽ như viên ngọc quý soi sáng mười phương, xóa tan mây mờ vô
minh. Ông để tờ biểu vào một hộp rất đẹp dán kín lại, rồi trình với
quan coi thành: nếu vua không cho sư gặp, xin cử một quan văn thanh
liêm trung trực, trai giới ba ngày ra nhận ngọc quý. Vua ưng thuận.
Trao hộp cho viên quan, ông căn dặn không được mở ra mà phải trình đến
tay vua. Tại triều, vua sai mở hộp, chỉ thấy tờ biểu, vua sai đọc lên.
Nghe được lời lẽ trong sáng, ý tứ thâm sâu, vua chợt tỉnh ngộ nhận ra
quyết định sai lầm của mình. Vua cho vời ông vào triều, tham vấn đạo
lý. Nhân đó vua Lê Hy Tông thâu hồi lệnh đã ban, cho phép các sư được
trở về chùa cũ tiếp tục hoằng pháp độ sanh. Ðể chứng tỏ sự thành tâm
sám hối, vua sai tạc tượng hình Phật Thích Ca đứng trên lưng nhà vua
đang quỳ mọp xuống. Tượng này hiện còn để ở chùa Hòe Nhai, bên chánh
điện. Trong cuốn Thiền Tông Bản Hạnh, thiền sư Chân Nguyên ca ngợi sự
sáng suốt và tích cực sám hối này cửa vua, gọi Lê Hy Tông là Hoàng
Giác Lê Gia (ông vua giác ngộ nhà Lê).
Khi về trụ trì ở chùa Ðông Sơn (Hải Dương), ông ra sức hoằng hóa tông
Tào Ðộng. Học giả bốn phương nghe tiếng ông, tới tìm học rất đông.
Phái Tào Ðộng nhờ sự truyền bá của ông, trở thành thịnh hành ở Ðàng
Ngoài vào cuối thế kỷ 17 qua thế kỷ 18. Ở Ðàng Trong, tông Tào Ðộng
được biết đến nhờ nỗ lực của thiền sư Thạch Liêm với sự giúp đỡ nhiệt
thành của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1695 (xin xem phần trên).
Năm 1780 NGUYỄN GIA THIỀU (1741- 1798) dựng chùa Thiên Tích. Mẹ ông là
con gái chúa Trịnh Cương. Năm 1782, ông được chúa Trịnh phong tước Ôn
Như Hầu. Ông là người văn võ song toàn. Bức tranh Tống Sơn Ðồ của ông
được nhiều người khen ngợi. Các bản nhạc Sở Từ Ðiệu và Trung Sơn AÂm
do ông soạn được lưu hành rộng rãi. Ông còn là kiến trúc sư dựng chùa
Thiên Tích và trang trí nội thất cho phủ chúa Trịnh. Trong thời gian
làm Tổng Binh Hưng Hóa, vì bất mãn với chúa Trịnh, ông hay say sưa. Có
lẽ ông nghiên cứu đạo Phật trong thời kỳ này. Năm 1789, Nguyễn Huệ
diệt xong chúa Trịnh, kêu gọi nhân sĩ Bắc Hà ra làm việc trở lại, ông
giả bệnh và giả điên để từ khước lời mời. Có lẽ ông viết Cung Oán Ngâm
Khúc trong giai đoạn này. Trong khúc ngâm 356 câu thơ Nôm theo thể
song thất lục bát đó, ông dùng triết lý đạo Phật để giải thích những
khổ đau của cuộc đời qua thân phận người cung nữ, một cách tiêu cực
nên không tìm được biện chứng giải thoát tích cực của đạo Phật. Theo
Nguyễn Hưng Quốc (Vào Cõi Thơ Xưa, tạp chí Thế Kỷ 21 số 15, tháng
7.1990), ngôn ngữ thơ ông nhiều hình ảnh, cực kỳ chải chuốt điêu
luyện, mỗi chữ mỗi câu là một cân nhắc đắn đo. Cung Oán Ngâm Khúc là
một trong những đỉnh cao của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa qua ảnh hưởng
của Phật Giáo trong văn học VN từ giữa thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19.
Năm 1786- 1801 Một số chùa trong vùng Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam bị tàn
phá vì đây là nơi giao chiến giữa quân chúa Trịnh và chúa Nguyễn, giữa
quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Lực lượng bảo vệ Ngũ Hành Sơn của Nguyễn
Ánh do Nguyễn Công Thái, một cựu tướng Tây Sơn về hàng Nguyễn Ánh.
Chiếm được Quảng Nam, quân Tây Sơn lại trưng dụng nhiều chùa làm doanh
trại. Trước đó, một số chùa ở Huế như chùa Báo Quốc bị quân Tây Sơn
chiếm năm 1776 biến thành nơi trú quân. Chùa Thiền Lâm ở xã An Cựu,
Huế, do thiền sư Thạch Liêm xây dựng cũng bị thái sư nhà Tây Sơn (Bùi
Ðắc Tuyên) chiếm để ở. Năm 1786, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt
họ Trịnh, một số chùa ở miền Bắc như chùa Bà Ðá (Linh Quang Tự) bị
thiêu hủy.
Sau khi lên ngôi vua (1802), vua Gia Long khuyến khích hoàng tộc tu
sửa lại các chùa này. Hoàng hậu Hiếu Khương sửa chùa Bảo Quốc, công
chúa Ngọc Nghiên sửa chùa Tuệ Lâm, Thừa Thiên Cao Hoàng hậu sửa chùa
Thiền Lâm, công chúa Ngọc Duệ sửa chùa Thiên Thai ... Năm 1815, vua
Gia Long sắc tu bổ lại chùa Thiên Mụ. Năm 1826 vua Minh Mạng cho tu
sửa chùa Thánh Duyên ở cửa biển Tư Hiền, Thừa Thiên, bị phá hủy trong
chiến tranh với quân Tây Sơn.
Năm 1795 Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm độc đáo của
Thiền Tông Việt Nam được khắc in rất đẹp. Tác giả là HẢI LƯỢNG Thiền
Sư (Ngô Thời Nhiệm 1746- 1803), Hải AÂu ( Vũ Trinh 1726- 1823) và Hải
Hòa ( Nguyễn Ðăng Sở). Cả ba đều là những tên tuổi lớn trong văn giới,
những trí thức lớn thời đại xuất thân từ các danh gia vọng tộc. Ngô
Thời Nhiệm đã từng là Binh Bộ Thượng Thư thời vua Quang Trung, một tay
thảo tất cả văn kiện ngoại giao dưới triều Tây Sơn được triều đình nhà
Thanh nể vì. Có thể là Ngô Thời Nhiệm đã thai nghén tác phẩm này trong
giai đoạn 1782- 1786, khi ông đi trốn sự trả thù của chúa Trịnh Tông
(sau khi cướp ngôi chúa của Trịnh Cán).
Trong phần mở đầu, Ngô Thời Nhiệm trình bày tiểu sử ba vị tổ thiền
phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, rồi viết về
ông và tự gọi là Trúc Lâm Ðệ Tứ Tôn ( nghĩa là tổ thứ tư). Phần chính
của tác phẩm này là 24 chương về 24 Thanh, luận bàn về 24 vấn đề liên
hệ đến giáo lý Nho và Phật. Mỗi Thanh bắt đầu bằng một bài dẫn, sau đó
là phần trình bày sự kiện có khi được bàn luận ngang dọc giữa thầy
trò, sống động như một vở kịch nhưng không cực đoan. Cuối cùng là lời
bình giải của thiền sư Hải Lượng (Ngô Thời Nhiệm).
Theo Ðinh Quang Mỹ (Thiền Trúc Lâm ), Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh
dùng bút pháp chỉ thẳng của Thiền Tông, văn phong của Nam Hoa Kinh tạo
lối hành văn nửa hư nửa thực, vận dụng biện chứng âm dương của Kinh
Dịch giải thích các tư tưởng trừu tượng của Ðại Thừa và diễn rộng tư
tưởng kinh Lăng Nghiêm để tả các hoạt động cực kỳ tế nhị của chân tâm.
Theo Nhất Hạnh (Nguyễn Lang, VNPGSL 2, tr. 229), Trúc Lâm Tông Chỉ
Nguyên Thanh không phải là công trình đem đạo Phật về với đạo Nho mà
trong đó Nho và Phật không còn phân biệt nữa. Với Hải Lượng, tuệ giác
nằm trong lòng sự sống nên cuộc sống là quan trọng chứ không phải hình
thái ý thức hệ.
Ngô Thời Nhiệm theo học Phật từ hồi còn trẻ, có thể là với thiền sư
Tính Quảng. Lúc làm quan ở trấn Kinh Bắc năm 1775, ông đã dâng Phật
hiệu cho cha ông (Ngô Thời Sĩ, người ra lệnh cho con cái chỉ được theo
Nho, cấm không được theo Phật hay Lão) là Nhị Thanh Trường Thọ Quán Tự
Tại Phúc Lượng Ðại Hải Chân Như Vô Tận Ý Bồ Tát. Vào khoảng 1798- 1799
nhận thấy tương lai nhà Tây Sơn không còn, ông về ẩn dật, lập thiền
viện Trúc Lâm ở phường Bích câu. Uy tín của ông đã lôi cuốn được nhiều
trí thức lớn vào thiền phái Trúc Lâm. Trước đó, Trúc Lâm Tông Chỉ
Nguyên Thanh đã ghi có 26 người tham dự cuộc "thiền đàm" này. Chính
tại thiền viện Trúc Lâm, ông đã viết Tam Tổ Hành Trạng về tiểu sử của
Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Lê Mạnh Thát (TTTNT, TR.334-
335) cho rằng chính do ảnh hưởng của Hải Lượng Thiền Sư Ngô Thời Nhiệm
mà Huyền Quang được coi là tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm. Theo
ông, chính thiền sư Kim Sơn mới là tổ thứ ba của Trúc Lâm, qua sự xác
nhận của vua Trần Minh Tông trước khi băng hà vào năm 1358. Năm 1803,
Ngô Thời Nhiệm được lệnh triều đình mới ra trình diện Tổng Trấn Bắc
Thành và bị vua Gia Long sai đánh đòn tại Văn Miếu. Ông từ trần vì
trận đòn nặng tay này.
Sự quy tụ đông đảo trí thức lớn đương thời tại thiền đường Trúc Lâm
của Hải Lượng Thiền Sư (vào lúc đường công danh của ông không còn sáng
sủa) cho thấy thiền phái Trúc Lâm vẫn tiếp tục trường tồn, chứ không
phải bị tàn lụi sau khi tổ Huyền Quang tịch (năm 1334) như một số quan
niệm sai lầm hiện nay. Từ thế kỷ 15 , sau khi Lê Lợi dành lại độc lập
cho đất nước, lập nhà Hạâu Lê, các công thần như Trần Nguyên Ðán và
cháu ngoại ông là Nguyễn Trãi hẳn đã vận động để Phật Giáo trở thành
một trong các đề tài thi bắt buộc ở thi Ðình, mà đa số câu hỏi liên hệ
tới dòng thiền Trúc Lâm. Trước Hải Lượng Thiền Sư, Chân Nguyên Tuệ
Ðăng Thiền Sư (1647- 1726) nỗ lực phục hồi dòng thiền Trúc Lâm bằng
cách cho khắc in các tác phẩm của các tổ Trúc Lâm và dặn dò đệ tử tiếp
tục công trình này, lại còn viết Thiền Tông Bản Hạnh về đường lối tu
tập của các vị vua đầu nhà Trần. Sau Hải Lượng, thiền sư An Thiền
Phúc Ðiền (1790- 1860) viết và cho in Ðại Nam Thiền Uyển Kế Ðăng Lược
Lục vào năm 1858 ghi danh sách 23 vị tổ sư thuộc truyền thống Yên Tử,
khởi đầu từ Hiện Quang Tổ Sư (tịch năm 1221) và chấm dứt ở Vô Phiền
Ðại Sư. Phần kế tiếp, trong tác phẩm Ngự Chế Thiền Ðiển Thống Yếu Kế
Ðăng Lục, thiền sư Như Sơn ghi 6 đời truyền thừa của Chân Nguyên (được
coi là nối tiếp truyền thống Trúc Lâm) từ 1700 tới 1850: Như Trừng,
Tính Tuyên, Hải Quýnh, Tịch Truyền, Chiếu Khoan và Phổ Tịnh.
Năm 1826 vua MINH MẠNG (1820- 1840) ban sắc dụ khởi đầu việc bổ nhiệm
và sắc phong các tăng sĩ. Sắc dụ này bổ nhiệm hai vị sư ở Huế làm trú
trì các chùa ở Thủy Sơn (thuộc Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam) và 4 nhà sư
tháp tùng. Mỗi vị được cấp một chứng thư độ điệp chính thức. Sắc dụ và
độ điệp ghi tục danh, không ghi pháp danh. Năm 1830 ,vua triệu tập cao
tăng các tỉnh về kinh, giao cho Bộ Lễ xem xét để cấp giới đao và độ
điệp. Có tất cả 53 vị được cấp. Theo chế độ bổ nhiệm này, tăng sĩ được
phân loại :Tăng Cang là các bậc đại sư cao cấp, Trụ Trì là vị lãnh đạo
tăng chúng trong chùa, Ðại Sư là vị thầy giáo thọ trong chùa, Tăng
Chúng là các tăng sĩ còn lại trong chùa. Khi vị trú trì phát triển
chùa như chùa Tam Thai, số tăng sĩ tăng thêm gồm: 1 trú trì, 2 đại sư,
7 tăng chúng. Vì chùa Tam Thai lớn nhất nên vị trú trì được sắc phong
Tăng Cang và trở thành vị lãnh đạo các chùa tại hòn Thủy Sơn. Trong
Ngũ Hành Sơn, Thủy Sơn được coi là ngọn núi của chùa chiền. Ðại sư Từ
Trí (tục danh Nguyễn Viết Lư) là người đầu tiên được sắc phong Tăng
Cang dưới triều Minh Mạng. Chức Tăng Cang được ban từ thời Gia Long.
Năm 1815 vua Gia Long triệu thỉnh thiền sư Mật Hoàng từ chùa Thập Tháp
(Bình Ðịnh) về kinh, ban cấp chứng chỉ Tăng Cang và giao cho trú trì
tổ đình Quốc AÂn (do tổ Nguyên Thiều khai sơn).
Thời vua Minh Mạng, các tăng sĩ được triều đình trợ cấp hàng tháng như
sau: Tăng Cang 1 vuông gạo ( 40 lít) và 3 quan tiền, Trụ Trì 1 vuông
gạo và 2 quan tiền, Tăng Chúng 2 vuông gạo và 1 quan tiền. Tăng Cang
được triều đình cấp mũ Hiệp Chưởng để đội khi vào triều. Loại mũ này
sau đó được dùng trong những pháp hội trai đàn. Ngày nay, trong những
lễ lớn, các Trưởng Lão Hòa Thượng cũng đội mũ này. HT Thanh Ninh Tâm
Tịnh, tổ khai sơn chùa Tây Thiên (Huế) cũng chế ra Áo Nhật Bình làm lễ
phục cho chư tăng.
Vua Minh Mạng muốn thống nhất việc tu hành Phật giáo nên ra lệnh các
sư sãi Việt gốc Miên phải mặc áo cổ vuông và ăn chay như các sư Ðại
Thừa nhưng bị người Việt gốc Miên tại miền Nam phản đối quyết liệt,
nhà vua phục thiện đành bãi bỏ lệnh này. Ðể giữ giới không sát sanh,
sư sãi Việt gốc Miên không ăn chay, chỉ cần không tự tay giết con vật
là đủ. Họ đắùp y để hở vai phải nên áo không có cổ.
Năm 1847 thời vua Thiệu Trị (1841- 1847) tổng đốc NGUYỄN ÐĂNG GIAI
(mất năm 1854) giúp tổng đốc Hà Nội Ðặng Văn Hòa trùng tu chùa Một Cột
và tô lại tượng. Ông cũng xây dựng chùa Liên Trì. Ðại Nam Chính Biên
Liệt Truyện sau khi ca ngợi công trạng của ông trong những lãnh vực
khác, đã phê phán các hoạt động Phật sự của ông như sau: tiếc vì
chuộng đạo Thích, dựng chùa thờ Phật, luôn mê hoặc người.
Năm 1849 ÐOÀN VĂN HUYÊN (1807- 1856) khai lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ
Hương tại chùa Long Kiến ở núi Báu (Bửu Sơn), Long Xuyên. Ông sanh tại
Sa Ðec, làm nghề nông thường đọc sách Phật từ lúc còn trẻ. Năm 1849
nông dân mất mùa lại bị bệnh thời khí hoành hành ở miền Nam, ông lái
xuồng đi nhiều nơi chữa bệnh cho nhiều người bằng nước lạnh và phù chú
vừa khuyên bệnh nhân tu niệm. Do đó nhiều người theo ông, coi ông như
vị Phật sống. Chính ông cũng tự nhận là Phật Thầy. Bấy giờ thời vua Tự
Ðức, tổng đốc An Giang nghi ông muốn nổi loạn, bắt ông tại vùng Long
Kiến đưa về Châu Ðốc xét xử về tội "gian đạo sĩ ". Nhưng ông được tha
tội, chỉ bị bắt buộc phải tu tại chùa Long Kiến. Tại đây có lẽ ông quy
y với vị trú trì là HT Tiên Giác Hải Tịnh, được mang pháp danh Pháp
Tạng, đạo hiệu Giác Linh, đời 38 phái Lâm Tế dòng Bổn Nguyên (như ghi
trong mộ bia của ông bên hông Tây An Cổ Tự). Có tài liệu cho rằng ông
còn cầu pháp với HT trú trì chùa Long Thạnh, Bà Hom. Trong năm 1849
tại chùa Long Kiến, ông lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ðệ tử của ông
sau này xưng tụng ông là Phật Thầy Tây An và gọi chùa Long Kiến là Tây
An Cổ Tự. Sau khi giáo chủ Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Hòa Hảo, Tây An
Cổ Tự trở thành chùa lớn thứ hai của đạo Hòa Hảo. Năm 1975, Cộng Sản
dành quyền quản lý, giao cho 2 cán bộ trông coi. Họ cấu kết với các
cán bộ địa phương đem bán đi nhiều cổ vật quý giá được coi là bảo vật
của chùa.
Bửu Sơn Kỳ Hương được coi là hình thức địa phương hóa Phật giáo trong
môi trường nông dân chất phác, ít học của đồng bằng Nam Bộ. Ðoàn Văn
Huyên chủ trương một pháp môn dễ hiểu, dễ áp dụng: Tùy trình độ và
hoàn cảnh mà hóa độ – Hành sử tứ ân là ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước,
ơn Tam Bảo và ơn đồng bào nhân loại - Thiền Tịnh song tu, vừa tu Thiền
vừa trì niệm danh hiệu A Di Ðà để được vãng sanh – Phước Huệ song tu.
Ông để lại cuốn Sấm Giảng bằng chữ Nôm, được Lê Mạnh Thái dịch ra quốc
nhữ và sẽ cho xuất bản trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo.
Tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương có những người trở thành anh hùng dân tộc
kháng chiến chống thực dân Pháp như Trương Công Ðịnh (1820- 1864,
chiếm tỉnh Gò Công năm 1862), Nguyễn Trung Trực (1837- 1868, đốt tàu
chiến Esperance của Pháp trên sông Nhật Tảo năm 1861), Trần Văn Thành
(?- 1873) khởi nghĩa tại Láng Linh năm 1867.
Ðệ tử của Phật Thầy Tây An cho rằng sau khi tịch, ông qua 4 lần chuyển
kiếp thị hiện nơi Ðức Phật Trùm ở núi Tà Lơn, đức Bổn Sư núi Tượng, Sư
Vãi Bán Khoai ở Cao Miên và Ðức Huỳnh Giáo Chủ ở làng Hòa Hảo. Ðức
Phật Trùm xuất hiện năm 1868, sử dụng lòng phái màu đỏ có dấu Bửu Sơn
Kỳ Hương. Ông là người gốc Miên, truyền đạo sang cả đất Miên, bị thực
dân Pháp bắt đi đầy một thời gian. Ðược thả về, ông tịch tại núi Tà
Lơn năm 1875.
Ðức Bổn Sư núi Tượng là Ngô Lợi (1831- 1890), lập đạo Tứ AÂn Hiếu
Nghĩa năm 1872 tại xã An Lộc, An Giang, khai triển nguyên lý Hành Sử
Tứ AÂn và sử dụng lòng phái có dấâu Bửu Sơn Kỳ Hương. Pháp tu của Tứ
AÂn Hiếu Nghĩa tổng hợp: trì niệm theo Thiền Tịnh – Xử sự theo Nho
giáo – Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo – Ấn quyết, thần chú theo
Mật giáo. Trong 12 năm (1876- 1888) thực dân Pháp với tay sai đắc lực
là Tổng đốc Trần Bá Lộc đã đàn áp vô cùng dã man đạo này cả thảy 7 lần
(đốt chùa, đốt nhà, bắt bớ tra tấn tín đồ...). Sau khi Ngô Lợi tịch,
không có ai đủ khả năng nối pháp nên pháp môn này bị phân hóa trầm
trọng.
Sư Vãi Bán Khoai được coi là một nhà sư dáng gầy, ăn mặc kiểu đàn bà,
chèo thuyền bán khoai vừa đọc giảng " Sấm Giảng Người Ðời ", một bài
kệ lục bát dài vừa có tính cách khuyến tu, vừa là sấm ký. Ông xuất
hiện năm 1902, một thời gian ngắùn sau thì mất dạng.
Năm 1859 Hòa Thượng AN THIỀN PHÚC ÐIỀN (1790- 1860) chùa Liên Tông (Hà
Ðông) chỉ đạo các đệ tử ông tại chùa Bồ Sơn (Bắc Ninh) thực hiện bản
khắc gỗ 5 tác phẩm Thiền Tông đời Trần gọi là Truyền Ðăng Ngũ Quyển
Tân Tư gồm: Thiền Uyển Tập Anh, Thánh Ðăng Lục, Tam Tổ Thực Lục, Thiền
Ðiển Thống Yếu Kế Ðăng Lục và một số tài liệu khác ông gọi là "ngoại
khoa tạp lục". Ông viết bài tựa cho tác phẩm này. Những bản khắc gỗ
này được bảo quản gần 100 năm thì bị một số người lấy làm củi nấu cơm
trong thời chiến tranh 1946- 1954!
Bộä sách quan trọng của ông Ðạo Giáo Nguyên Lưu (3 quyển), còn có tên
là Tam Giáo Thông Khảo., có lẽ được in năm 1845 vì bài tựa do Nguyễn
Ðại Phương viết vào năm này. Quyển thứ nhất nói về đạo Phật qua các đề
mục về: việc du học của thiền sư Tính Tuyền Trạm Công, các bản kinh
khắc ở nước ta, khởi thủy Thiền học nước ta, các tháp Phật ở nước ta,
Thiền phái Vô Ngôn Thông, các danh tăng ở triều đình, các danh tăng
đời Lê, các danh tăng đời Lý, các danh tăng đời Trần, Thiền phái Tỳ Ni
Ða Lưu Chi, Thiền phái Thảo Ðường, những truyền thuyết kỳ bí liên quan
đến các thiền sư nước ta qua các triều đại, danh từ Phật học và các
thần thoại Phật Giáo Trung Hoa và Việt Nam. Quyển hai và ba nói về
Khổng và Lão Giáo. Bộ sách này sẽ được Lê Mạnh Thát dịch và giới thiệu
trong tương lai trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo.
Ông là người khai sơn chùa Thiên Quang (núi Ðại Hùng, Hà Nội). Nhất
Hạnh (VNPG SL 2, tr. 252 và 255) cho rằng An Thiền Phúc Ðiền là hai
người (An Thiền và Phúc Ðiền).
Năm 1861- 1865 tháng 2. 1861, quân Pháp do đô đốc Charner chỉ huy đánh
chiếm đồn Kỳ Hòa ở Gia Ðịnh. Sau đó quân Pháp trưng dụng 4 ngôi chùa
nổi tiếng của Gia Ðịnh là chùa Khải Tường, Cây Mai, Kiểng Phước và đền
Hiếu Trung lập phòng tuyến gọi là " Lignes des Pagodes" (phòng tuyến
các chùa). Tượng Phật bị lôi ra ngoài, sư tăng bị đuổi khỏi chùa. Chùa
Khải Tường từng được sắc phong là "Quốc AÂn Khải Tường", xây năm 1843,
sau này bị Pháp biến luôn thành trường học. Chùa Kiểng Phước tới năm
1866 chỉ còn vài thanh gỗ mục. Chùa Cây Mai bị biến thành lô cốt rồi
thành nhà giam. Ðền Hiếu Trung còn lại vài bức tường nằm trong doanh
trại lính Pháp. Quân Pháp cũng cho triệt hạ nhiều chùa khác: chùa Pháp
Võ và Kim Tiên ở Chợ Quán (1863), chùa Phước Hưng ở Chợ Lớn (1864),
chùa Kim Chương, Phật Lớn gần thành Ô Ma, chùa Phước Hải ở khu bệnh
viện Chợ Rẫy sau này, Chùa Gia Ðiền ở Chợ Quán (1865).
Tháng 6. 1867 Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, lập chính quyền bảo hộ
trên toàn Nam Bộ. Cụ Phan Thanh Giản tuẫn tiết bằng thuốc độc ngày 7
tháng 8. 1867.
Pháp bắt các tăng sĩ đi lính và đóng thuế thân, các chùa muốn tổ chức
trường hương (an cư kiết hạ) phải xin phép trước. Hậu quả của pháp nạn
này tại miền Nam có thể thấy qua bản phúc trình chép tay "Monographie
de la province de Gia Dinh" của J.Ch. Balencie năm 1899: Gia Ðịnh lúc
đó có 305 chùa, trong đó có 43 chùa Hoa. Tu sĩ có 82 tăng, 49 ni. Phật
tử 211,194. Nghĩa là trên phân nửa chùa không có tăng ni coi sóc. Phúc
trình năm 1902 của cùng tác giả cho biết tình hình Phật giáo tại Gia
Ðịnh 3 năm sau: 412 chùa, 132 tăng, 55 ni, 212,194 Phật tử (PGNB,
tr.31).
Năm 1866 Ðoàn Hữu Trưng, con rể Tùng Thiện Vương, cùng hai em vận động
đám dân công xây lăng Tự Ðức ở làng An Truyền, Huế nổi loạn để tôn
Ðinh Ðạo (con của Hồng Bảo là người anh bị truất của vua Tự Ðức) lên
làm vua. Họ sử dụng chày đâm vôi của các thợ xây lăng dùng làm võ khí
nên gọi là Giặc Chày Vôi. Ðoàn Hữu Trưng là người tài hoa, soạn bài vè
lục bát Trung Nghĩa ca dài 498 câu trong thời gian bị giam kể lại diễn
tiến cuộc nổi loạn này. Ông vận đọâng được các chùa Long Quang, Pháp
Vân làm chỗ cất dấu chày vôi. Nhiều học tăng các chùa cũng tham dự
cuộc khởi nghĩa này. Quân khởi nghĩa lên tới ngàn người tuyên bố bãi
bỏ việc xây lăng, truất phế đương kim hoàng đế, lập Ðinh Ðạo làm vua.
Ðêm 8 tháng 9 (năm Bính Dần) họ đã tiến vào được nội cung, suýt giết
được vua Tự Ðức thì Ðoàn Hữu Trưng cho dừng lại để rước Ðinh Ðạo vào
nội cung nên bị quân triều đình phản công, dẹp tan. Các người lãnh đạo
bị bắt và bị xử tử, tăng ni bị bắt hoàn tục gần hết. Kinh đô lúc đó
chỉ còn 24 ngôi chùa với 24 vị trú trì mà thôi.
Sự trả thù của vua Tự Ðức tạo nên một pháp nạn nặng nề tại miền Trung.
Hoàng phi Lệ Thiên, chánh cung của vua Tự Ðức là đệ tử của thiền sư
Liễu Triệt, đã khẩn khoản xin vua tha tội chết cho nhiều tăng ni.
Tự Ðức (1847- 1883) thực ra không phải là ông vua kỳ thị Phật Giáo.
Năm 1849 vua ra lệnh các chùa công như Thiên Mụ, Giác Hoàng, Thánh
Duyên, Tam Thai ... mỗi chùa phải được chủ trì bởi một Tăng Cang (có
lãnh lương bổng của triều đình) để lo việc tu học của tăng chúng. Năm
1853 ông lại ban cấp ruộng đất cho các chùa Thiên Mụ, Diệu Ðế, Thánh
Duyên, Linh Hựu, Long Quang, Tam Thai, Ứng Chân và Khải Tường. Thời Tự
Ðức, trong những lễ Phật lớn, tăng ni các nơi vân tập về chùa Báo Quốc
ở Huế nghe các vị cao tăng thuyết pháp từ một đài cao được dựng để tôn
vinh các ngài.
Năm 1884 Pháp đánh Bắc Kỳ từ tháng 11.1983. Ngày 6.6.1884 Việt Pháp
ký hòa ước Patenôtre: lãnh thổ VN chia làm 3 phần, Nam Kỳ là thuộc địa
của Pháp, Trung Kỳ (từ Bình Thuận tới Thanh Hóa) và Bắc Kỳ chịu quyền
bảo hộ của Pháp nhưng dưới hai chế độ cai trị khác nhau. Khâm sứ Trung
Kỳ hội các quan triều Nguyễn tại tòa Khâm làm lễ thủ tiêu (nấu chảy)
ấn của nhà Thanh phong vương cho vua Gia Long ( bằng bạc mạ vàng nặng
khoảng 6 kg), tượng trưng cho sự chấm dứt uy quyền của nhà Thanh đối
với triều đình nhà Nguyễn.
Pháp chiếm đóng và triệt hạ nhiều chùa tại Hà Nội. Tất cả những chùa
quanh hồ Hoàn Kiếm đều bị quân đội Pháp hoặc cơ quan phụ thuộc chiếm
giữ. Năm 1889, Pháp phá hủy chùa Quan Thượng. Tháp Báo Thiên chùa Sùng
Khánh xây từ đời vua Lê Thánh Tông ( cao 12 tầng, tốn tồng ngàn cân
đồng để đúc đại hồng chung) bị tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Ðộ (1813-
1888) hiến cho Giám Mục Puginier phá đi để xây nhà thờ lớn Hà Nội.
Năm 1885 Tôn Thất Thuyết tung ra bài hịch Cần Vương, nhân danh vua Hàm
Nghi, dùng lời lẽ lâm ly bi thiết kêu gọi toàn dân hãy đồng tâm nêu
cao tinh thần kháng chiến giải phóng đất nước. Nhiều chùa từ Bình Ðịnh
Phú Yên trở ra tới Thanh Nghệ Tĩnh được coi là những căn cứ của phong
trào Cần Vương. Quân Pháp từ Vinh và Ðồng Hới kéo ra bắn giết và đốt
phá các chùa rồi tập trung người theo đạo Chúa về gần đồn binh để
chiêu mộ đi lính cho Pháp. Các lãnh tụ phong trào Cần Vương ra lệnh
đốt phá các nhà thờ để trả thù, tạo cơ hội cho các linh mục tuyên
truyền con chiên bổn đạo quay lại chống lực lượng kháng chiến Cần
Vương.
Năm 1893 (năm Thành Thái thứ năm), các Thái Giám trong triều lo khi
chết không người cúng tế, nên tu sửa chùa Từ Hiếu ở Huế thành đồ sộ
nguy nga để làm nơi gởi nắm xương tàn. Họ đóng góp của cải để dành,
mua ruộng đất cúng chùa và xin Vua cùng vương phi ban cấp tiền bạc,
vật liệu tu bổ chùa. Ðạo dụ năm 1836 được khắc vào bia trước trường
Quốc Tử Giám của vua Minh Mạng cấm Thái Giám hưởng tước quan trường và
dự vào việc nước đã chận đứng sự lạm quyền và giới hạn bổng lộc của
các Thái Giám. Thời vua Thành Thái, số Thái Giám chỉ còn 15 người.
Từ Hiếu là tên chùa do vua Tự Ðức ban cho năm 1849 để ca ngợi hiếu
hạnh của thiền sư Nhất Ðịnh (Tánh Thiên, 1784- 1847). Ông xuất gia năm
18 tuổi, thọ đại giới với thiền sư Mật Hoằng tại chùa Quốc AÂn năm
1814. Năm 1816, ông làm trú trì chùa Báo Quốc (Huế). Năm 1835, bộ Lễ
cung thỉnh ông làm trú trì chùa Linh Hựu. Nhân dịp này, vua Minh Mạng
khen ông "giới luật nghiệm tịnh, thiền cơ thâm đạt". Năm 1839, ông
được sắc phong làm tăng cang chùa Giác Hoàng. Năm 1843, được tin mẹ
già đau nặng không người coi sóc, ông xin từ bỏ chức trú trì hai chùa
lớn, từ khước mọi sự cúng dường, lên núi Dương Xuân lập Am An Dưỡng
bằng tranh, cuốc đất trồng rau bắp phụng dưỡng mẹ già. Thầy thuốc
chuẩn bệnh cho mẹ, bảo phải ăn cá tươi. Ông tự mình xuống chợ Bến Ngự
mua cá về và tự làm cho mẹ ăn. Dân chúng dị nghị, báo cho quan. Sau
khi điều tra hư thực, các quan trong triều càng thêm khâm phục sự hy
sinh vô ngại vì hiếu hạnh của ông. Họ thường tới vấn đạo ông và xin
ông cho phép dựng chùa thay cho Am bằng tranh, nhưng ông không chịu.
Mãi tới năm 1848, sau khi ông tịch, đệ tử của ông là thiền sư Hải
Thiệu (tịch năm 1899) mới chịu khởi công xây chùa. Vị trú trì cuối
cùng của chùa Từ Hiếu trên danh nghĩa là HT Trừng Quang (tức sư ông
Nhất Hạnh, người không được phép trở lại VN từ năm 1966). Hiện nay
chùa Từ Hiếu là đạo tràng tu học trang nghiêm, liên tục của gần 100
tăng sĩ do TT Thái Hòa coi sóc, mặc dù không được chính quyền công
nhận.
Năm 1898 cuộc khởi nghĩa chống pháp do VÕ TRỨù lãnh đạo ở Phú Yên năm
1898 được gọi là Giặc Thầy Chùa. Võ Trứ là đệ tử trụ cột của sơn tăng
Thầy Ðá Bạc ở hang Ðá Bạc, Bình Ðịnh. Lực lượng chủ yếu của cuộc khởi
nghĩa này là tăng sĩ và Phật tử. Chí sĩ Trần Cao Vân được coi là cố
vấn, có tham dự cuộc họp chuẩn bị khởi nghĩa vào rằm tháng bảy năm
trước (1897). Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, tất cả các chùa trong
hai tỉnh Phú Yên và Bình Ðịnh đều bị lục soát, khám đường nào cũng có
các nhà sư bị bắt nhốt.
Tại miền Bắc, sư VƯƠNG QUỐC CHÍNH lãnh đạo Hội Thượng Chí quy tụ được
hàng ngàn tăng sĩ và hàng vạn Phật tư,û luôn cả một số tín đồ đạo Chúa
từ Nghệ An tới Bắc Ninh. Khi cuộc tấn công của phong trào này vào Hà
Nội đêm 5 tháng 12. 1898 bị thất bại, quân Pháp tấn công kịch liệt
nghĩa quân các tỉnh Hà Ðông, Sơn Tây. Cuộc khởi nghĩa bị quân Pháp
đánh bại, từ Bắc Ninh vào tới Nghệ An tăng sĩ và Phật tử bị bắt , tù
đầy và xử tử không kể xiết (VNPGSL, tập 3).
3. (Tiếp theo)
Năm 1908 Sắc dụ của vua Duy Tân (1907- 1916) giảm bớt số tăng sĩ còn
hai vị mỗi chùa. Tăng Cang có thể kiêm trú trì hai chùa, các Ðại Sư và
Tăng Chúng phân tán đi các chùa thiếu sư. Sự trợ cấp của triều đình
cho tăng sĩ được đổi thành tiền: Tăng Cang 1 đồng 66, Trụ Trì 1 đồng
58, Tăng Chúng 1 đồng 26. Với sự trợ cấp ít ỏi này, chùa phải trông
cậy vào sự cúng dường của bá tánh và tự túc canh tác.
Trong thời này, các buổi lễ lớn tổ chức định kỳ và chính thức tại chùa
miền Trung như đại giới đàn thường phải có giấy phép của quan Tỉnh cấp
và phải niêm yết cho đại chúng biết từ 3, 4 tháng trước ở nhiều nơi
trong vùng.
Năm 1911 HT Thiện Quảng (1862- 1911) từ Thái Lan theo cụ Phan Bội Châu
về nước lần thứ hai để tổ chức kháng chiến chống Pháp bị quân Pháp
phục kích bắn chết ở biên giới Việt Miên (Tây Ninh).
Ông từ Bến Tre, năm 1898 dùng ghe tìm đường hành hương cầu pháp nơi xứ
Phật. Sau ba ngày lênh đênh trên biển, ghe ông bị sóng to gió lớn
đánh dạt vào Thái Lan. Ông chọn một hang núi tu khổ hạnh, chỉ ăn rau.
Ðược biết đến dưới danh hiệu Ông Thầy Rau , ông rất được quốc vương
và dân Thái Lan kính trọng về đạo hạnh và sở học. Với sự giúp đỡ của
quốc vương Thái Lan, ông dùng đường bộ từ Thái Lan qua Miến Ðiện, Tây
Tạng vào Ấn Ðộ chiêm bái trong 5 tháng. Trên đường trở về theo lời hứa
với quốc vương Thái Lan, ông nhân cơ hội chiêm bái các Phật tích ở
Trung Quốc. Ông về tối Thái Lan năm 1902. Chí sĩ Phan Bội Châu tới
Thái Lan, nghe tiếng ông tìm gặp đàm đạo. Hai bên đồng tâm hiệp ý,
tương kính nhau. Ông về Việt Nam lần đầu để vận động tài chánh gây quỹ
cho phong trào của Phan Bội Châu.
Năm 1923 tổ chức Lục Hòa Liên xã ra đời, nhằm mục đích tạo điều kiện
cho các vị ưu tư về sự suy đồi của Phật Giáo Việt Nam có cơ hội gặp gỡ
nhau để bàn bạc việc chấn hưng Phật Giáo qua 3 nỗ lực: chỉnh đốn tăng
già, kiến lập Phật học đường, diễn dịch và xuất bản kinh sách Việt
ngữ. Các vị tổ sư tiền bối của phong trào này là HT Huệ Quang, Khánh
Hòa và Khánh Anh. Trụ sở đặt tại chùa Long Hòa của HT Huệ Quang. Nhất
Hạnh (VNPGSL 3) cho rằng Hội Lục Hòa Liên Xã là viên đá đầu tiên của
phong trào chấn hưng Phật Giáo tại Nam Kỳ.
Năm 1923- 1924, tờ Ðông Pháp Thời Báo đăng nhiều bài báo chủ yếu kêu
gọi cải tổ Phật Giáo. Ðạo Cao Ðài ra đời cuối năm 1925 thúc đẩy thêm
việc chấn hưng Phật Giáo.
Năm 1929 ngày 13 tháng 8, HT Khánh Anh cho xuất bản tạp chí Pháp AÂm
bằng chữ quốc ngữ. Nội dung kêu gọi tăng ni đoàn kết lại và nên học
chữ quốc ngữ để dịch kinh sách từ chữ Hán, giải quyết nạn thất học cho
tăng già và mở Viện Nghiên Cứu Phật Học. Tạp chí này ra được một số
duy nhất thì bị thực dân Pháp cấm. Trước đó trong các năm 1923- 1924,
tờ Ðông Pháp Thời Báo đã đang những bài chủ yếu đề nghị cải tổ Phật
Giáo.
Năm 1930, nhà sư trẻ Thiện Chiếu ( chùa Chúc Thành, Xóm Gà Gia Ðịnh)
xuất bản tập san Phật Hóa Tân Thanh Niên nhắm vào giới trí thức thanh
niên, đưa ra lời kêu gọi hoàn toàn mới mẻ: tăng ni không nên sống bám
vào sự cúng dường của tín đồ mà phải tạo dựng cơ sở tự túc, chư tăng
phải có ít nhất trình độ trung cấp Phật học. Tập san này ra tới số 2
thì sư Thiện Chiếu bị Pháp bắt.
Năm 1931, cư sĩ Phạm Ngọc Vinh sáng lập tạp chí Từ Bi AÂm. Ngày 21
tháng 9 cùng năm, ông cúng dường cho Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học Hội.
Ngày 1.1. 1932 Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học Hội ra mắt tạp chí Từ Bi AÂm
trong cả nước dưới hình thức bán nguyệt san, HT Khánh Hòa làm chủ
nhiệm, sư cụ Bích Liên làm chủ bút, thiền sư Liên Tôn làm phó chủ bút,
cư sĩ Trần Nguyên Chấn (bố vợ cư sĩ Phạm Ngọc Vinh) làm quản lý, với
sự trợ bút của nhiều cao tăng trong nước. Trụ sở tại chùa Linh Sơn
(Quận 1, Sài Gòn). Năm 1933 (số 45) HT Khánh Hòa từ chức, thiền sư
Chánh Tâm (chùa Thiên Phước, Trà Ôn Vĩnh Long) được mời làm chủ nhiệm.
Năm 1937, Từ Bi AÂm trở thành nguyệt san. Trong 10 năm trời, tạp chí
Từ Bi AÂm đã góp phần quan trọng trong việc phổ thông hóa Phật pháp
bằng quốc ngữ.
Tháng 12 năm 1933 tạp chí Viên AÂm, cơ quan chính thức của Hội An Nam
Phật Học, ra mắt tại Huế, do cư sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám (1896- 1969)
trông coi. Ông là nhà báo đa tài lại khiêm nhường, viết truyện ngắn,
truyện dài, chuyện hài hước, giảng giải về Phật pháp, luận giải kinh
điển, lãnh vực nào cũng xuất sắc. Kể từ số 48 (tháng 5, 1942) ông giao
việc phụ trách tờ báo cho giới trẻ. Từ đó, hầu hết bài vở của tạp chí
Viên AÂm đều do các đoàn viên Ðoàn Phật Học Ðức Dục viết bằng lối văn
mới, gọn dễ hiểu, và hướng về tuổi trẻ.
Năm 1935 Hội Phật Giáo Bắc Kỳ xuất bản tuần báo Ðuốc Tuệ, TT Trí Hải
trông coi, trụ sở tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Báo Ðuốc Tuệ có nhà in
riêng. Sau này đổi tên thành Diệu AÂm rồi Phương Tiện (do TT Tố Liên
trông coi). Ngoài ra TT Trí Hải còn chủ trương nhật báo Tân Tiến.
16 tháng 7. 1935, tờ báo bán chạy nhất Lục Tỉnh Tân Văn bắt đầu ra
phụ trang Phật Học hàng tuần, bán 6 xu mỗi tờ. Tháng 10. 1935, hội
Lưỡng Xuyên Phật Học ra mắt tạp chí Duy Tâm, HT Huệ Quang làm chủ
nhiệm, bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe làm quản lý. Tòa soạn tại chùa Long
Phước, Trà Vinh. Ðây là tờ báo có uy tín trong cả nước, nên khi ông
Trần Nguyên Chấn lên tiếng khích bác tạp chí này trên tờ Từ Bi AÂm, sư
trú trì chùa Bảo Long (Tà Keo ở Nam Kỳ) gởi thư đăng trên tạp chí
Tiếng Chuông Sớm ở Hà Nội khuyên ông Chấn nên chấm dứt hành động đó.
Năm 1937, hội Tịnh Ðộ Cư Sĩ xuất bản tạp chí Pháp AÂm, chủ nhiệm Lê
Văn Hậu (từng cộng tác với tạp chí Duy Tân), chủ bút Trần Huỳnh. Tạp
chí này ra được 16 số, có đăng một số bài của Phạm Ðình Vinh cổ võ
việc chấn hưng Phật giáo theo đường lối thiên tả. Ngày 15 tháng 1.
1937, Ðà Thành Phật Học Hội ở Ðà Nẵng ra mắt tạp chí Tam Bảo Chí
Ðầu năm 1938, Kiêm Tế Phật Học Hội ra mắt tạp chí Tiến Hóa, chủ nhiệm
là cư sĩ Ðỗ Kiết Triệu, chủ bút là Phan Thanh Hà. Trụ sở tại chùa Tam
Bảo, Rạch Giá. Tờ báo chủ trương phổ biến Phật pháp và "bất cứ học
thuyết nào có đủ phương pháp làm chúng sanh khỏi khổ được vui". ùKiêm
Tế Phật Học Hội do sư Trí Thiền và Thiện Chiếu thành lập. Sư Thiện
Chiếu viết nhiều bài trên tạp chí Pháp AÂm (từ số 7) và Tiến Hóa dưới
các bút hiệu. Tạp chí Duy Tâm và Tiến Hóa có ảnh hưởng trong cả nước,
tạo nên những tranh luận sôi nổi về một số chủ đề Phật pháp.
Tháng 8 năm 1945, báo chí Phật Giáo trên toàn quốc nhất loạt đình bản
để các tăng sĩ và cư sĩ đi làm việc nước.
Năm 1946, đoàn Phật Học Ðức Dục với sự hỗ trợ của sư Mật Thể xuất bản
tạp chí Giải Thoát với tiêu đề: Cơ quan nghiên cứu và áp dụng đạo Phật
vào đời sống mới. Ðồng thời, tại Hà Nội, các TT Trí Hải, Tố Liên và
Thái Hòa cũng cho xuất bản tạp chí Tinh Tiến cũng với mục đích dung
hợp phong trào cách mạng và phong trào Phật Giáo. Giải Thoát ra được 9
số, Tinh Tiến ra được 10 số thì đình bản vì chiến tranh ác liệt.
Năm 1950, TT Thiện Minh xuất bản tạp chí Hướng Thiện tại Ðà Lạt. Tạp
chí này đình bản năm 1951.
Năm 1951, tổ chức Phật Giáo Thiện Hữu của nhóm Phật tử trí thức Việt
Pháp tài trợ việc xuất bản tạp chí Liên Hoa, do cư sĩ Huỳnh văn Trọng
làm chủ nhiệm, thiền sư Nhất hạnh làm chủ bút. Một biên tập viên là
bác sĩ André Migot đã gây chấn động trong giới Công Giáo với chủ
trương nên chấm dứt sự truyền bá đạo Thiên Chúa trong xã hội Á Ðông mà
nên để cho họ theo tôn giáo truyền thống của họ là Phật Giáo (qua tác
phẩm Phật Giáo Với Văn Minh AÂu Tây). Cư sĩ Pierre Marti (pháp danh
Long Tử) là quản lý của tạp chí cho tới năm 1954, đã từng diễn giảng
Phật pháp bằng tiếng Việt tại nhiều chùa ở cao nguyên Trung Phần.
Cũng năm 1951, Hội Phật Học Nam Việt ra mắt nguyệt san Từ Quang, do cư
sĩ Mai Thọ Truyền trực tiếp trông coi. Ðược chư tăng ở Phật Học Ðường
Nam Việt nâng đỡ và cộng tác biên tập, tạp chí này đóng góp lớn lao
vào việc phổ biến Phật học tại miền Nam. Tới số 242 thì cư sĩ Mai Thọ
Truyền mất, nhưng tạp chí vẫn tiếp tục ra cho đến tháng 4. 1975.
Năm 1956 ( rằm tháng 8), Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam xuất bản tạp chí
Phật Giáo Việt Nam. HT Huệ Quang làm chủ nhiệm, Nhất Hạnh làm chủ bút.
Trên tạp chí này, nhiều cây bút liên tục viết các bài kêu gọi thống
nhất Phật giáo, thậm chí tấn công những người được coi là cản trở, cục
bộ trong các tập đoàn Phật Giáo. Trên thực tế cho tới lúc đó, chỉ có
Gia Ðình Phật Tử là ngành duy nhất thống nhất về mặt tổ chức, mặc dù
trong Ðại Hội Phật Giáo Toàn Quốc năm 1951 họp tại chùa Từ Ðàm (Huế),
các đại biểu đã đồng ý trên nguyên tắc "xóa bỏ bản vị các tập đoàn để
thành lập Tổng Hội Phật Học Việt Nam". Phật Giáo Việt Nam được sự cộng
tác của nhiều cây bút Phật Giáo tăng sĩ cũng như cư sĩ viết về nhiều
chủ đề quan trọng của Phật Giáo nước ta dưới nhiều hình thức kể cả
nhạc, kịch và kịch thơ. Tạp chí này bị chính quyền đình bản vào giữa
năm 1959, có lẽ vì những bài báo kêu gọi bất bạo động.
Cho tới sau biến cố 1 tháng 11. 1963, báo chí Phật Giáo mới có cơ hội
hoạt động trở lại, với khí thế rầm rộ từ nhật báo tới nguyệt san.
Năm 1934 để nâng cao trình độ tu học, thầy THÍCH TRÍ THỦ cùng một số
bạn đồng môn từng theo học với HT Phước Huệ ( sư tổ chùa Thập Tháp,
Bình Ðịnh) ra Huế, vận động tổ chức trường Phật Học Tây Thiên, mời HT
Giác Nhiên, Phước Huệ, Thánh Duyên, Quốâc AÂn, Tường Vân dạy nội điển,
bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám, các ông Nguyễn Khoa Toàn và Cao Xuân Huy
dạy các môn văn hóa ngoại điển. Việc học ngoại điển của các tăng sĩ
dầu được sơ tổ phái Trúc Lâm (Trần Nhân Tông 1258- 1308) đặc biệt lưu
ý, đã không được thiền môn VN lưu tâm vào những thế kỷ sau. Trường
Phật Học Tây Thiên tổ chức học trình 10 năm: 3 năm sơ đẳng, 3 năm
trung đẳng, 2 năm cao đẳng, 2 năm siêu đẳng. Lớp Sơ đẳng do tổ Thập
Tháp chủ giảng, phần nội điển gồm: Luật Sa Di, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh
Ðịa Tạng, Kinh Thủy Sám.
Thầy Trí Thủ (1909- 1984) là con một, học kinh từ năm 14 tuổi tại chùa
Hải Ðức, Huế. Năm 17 tuổi xuất gia tại chùa Trà Am (Huế ) với HT Viên
Thành, được ban pháp danh Tâm Như. Năm 20 tuổi thọ cụ túc tại đại giới
đàn chùa Từ Vân, Ðà Nẵng. Vì trúng tuyển đứng đầu trong số hơn 300
giới tử, ông được bổn sư ban cho pháp hiệu Thích Trí Thủ. Năm 23 tuổi
ông tới chùa Thập Tháp (Bình Ðịnh) tìm học với HT Phước Huệ.
Năm 1938 sau khi tốt nghiệp trường Phật Học Tây Thiên, ông bắt đầu làm
giảng sư hội Phật Học Huế, dạy sơ cấp Phật học tại chùa Báo Quốc và
trung cấp Phật học tại trường Phật Học Tây Thiên. Năm 1939 ông được
giao phó việc đào tạo và giảng dạy Ni trường đầu tiên cho cả nước được
thành lập tại chùa Từ Ðàm (Huế). Năm 1942, ông được cử làm trú trì
chùa Báo Quốc. Năm 1948 trường Sơn Môn Phật Học chùa Linh Quang được
dời về chùa Báo Quốc, ông được giao phó trách nhiệm Giám Ðốc Phật Học
Ðường Báo Quốc. Từ thập niên 50, nhiều học tăng từ Sài Gòn và Hà Nội
được gởi tới đây tu học. Trong 3 thập niên 50, 60 và 70 Phật Học Ðường
Báo Quốc đào tạo nhiều tăng tài sau này đảm trách các chức vụ trọng
yếu trong giáo hội từ trung ương tới các địa phương, cung cấp giảng
sư cho các Tỉnh Hội Phật Giáo, các cố vấn giáo lý cho các đơn vị Gia
Ðình Phật Tử, giáo sư Phật pháp cho các trường tư thục Bồ Ðề tại miền
Trung.
Năm 1951, sau khi Tổng Hội Phật Giáo VN được thành lập, ông đặt viên
đá đầu tiên xây cất trường tiểu học Bồ Ðề tại Huế, mở đầu cho mạng
lưới giáo dục các trường tư thục Bồ Ðề của giáo hội sau này. Sau đó,
ông đã thành lập những Phật Học Ðường Hải Ðức (Nha Trang, 1956), Phổ
Ðà (Ðà Nẵng), Linh Sơn (Ðà Lạt), Quảng Hương Già Lam (Sài Gòn).
Năm 1964, trong trách vụ Tổng Vụ Trưởng Hoằng Pháp của GHPGVNTN, ông
tổ chức ba Ðại Hội Hoằng Pháp tại Phật Học Viện Hải Ðức (Nha Trang),
chùa Xá Lợi (Sài Gòn), chùa Ấn Quang (Chợ Lớn). Trong năm này, ông làm
Viện trưởng Viện Cao Ðẳng Phật Học tại chùa Pháp Hội, bước cơ bản cho
việc thành lập Viện Ðại Học Vạn Hạnh sau này. Kể từ năm 1968, ông được
tôn cử làm Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo (Ấn Quang) trong Ðại Hội GHPGVNTN
5 và 6. Trong Ðại Hội kỳ 7 của Giáo Hội ( tháng 1. 1977), với tư cách
Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ông kêu gọi thống nhất Phật Giáo trong cả
nước trong tinh thần đạo pháp và dân tộc nhưng không đạt được kết quả
mà còn bị chỉ trích vì một số cấp lãnh đạo Phật Giáo đã cảm thấy sự đè
nén của chính quyền Cộng Sản.
Ông đã dịch nhiều Kinh, Luật và Luận, soạn các Nghi Thức Truyền Giới
Bồ Tát Tại Gia và Thập Thiện, Nghi Thức Phật Ðản, Nghi Thức Buổi Lễ
Khuya, viết Mẹ Hiền Quan AÂm, Pháp Môn Tịnh Ðộ. Cuốn Bát Nhã Tâm Kinh
Chú Giải của ông có một phụ lục gồm các bản tiếng Phạn, Mãn Châu, Tây
Tạng, Vu Ðiền, Mông Cổ, Pali, chữ Hán, chữ Nôm của thiền sư Minh Châu
Hương Hải, tiếng Anh, Pháp và Nhật cho thấy sự thận trọng và công phu
sưu tập của ông.
Ông chủ trương Tăng Già phải tự thấy mình là ngôi thường trú Tam Bảo,
phải được huấn luyện và tự huấn luyện đầy đủ Trí và Ðức. Tại các Phật
Học Viện do ông thành lập, ông cho tăng sinh học song song hai chương
trình văn hóa đạo và đời, nhất là các ngành văn hóa thực dụng. Ðích
thân ông hướng dẫn tăng ni đi thi bằng Tiểu học ngoài đời gây chấn
động dư luận thời đó.
Ông cũng cho một số học tăng vào Sài Gòn học các khoa chế biến, sau đó
mở các xưởng sản xuất vị trai, dấm, làm nấm, xà bông, nhang đèn, in và
phát hành kinh sách.
Phật Ðản năm 1935 tại Huế được tổ chức trong hai ngày 7 và 8 tháng 4 âm lịch.
Chiều ngày 7 tháng 4 AÂL tại chùa Diệu Ðế, Ban Ðồng Ấu gồm 52 em trong
đồng phục áo the xanh quần trắng, đeo giải băng màu vàng chữ nâu Nam
Mô Bổn Sư Thích ca mâu Ni Phật, hát bản nhạc Mừng Phật Ðản (sau này
được phổ thông dưới tên Trầm Hương Ðốt). Ðây là bản nhạc Phật Giáo đầu
tiên ghi theo ký âm pháp Tây Phương của nhạc sĩ Bửu Bác, ở giai đoạn
nền tân nhạc VN còn phôi thai. Sau đó thiền sư Giác Nhiên ( sau này
được gọi là Ôn Thiền Tôn, Ðệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN năm 1973) giảng
về Bát Nhã Tâm Kinh trước máy vi âm. Vua Bảo Ðại đã được mời dự với tư
cách Hội Trưởng Danh Dự Hội An Nam Phật Học. Ðây là lần đầu tiên máy
vi âm (micro) được dùng trong buổi lễ Phật Giáo. Cho tới năm 1943, khi
Phạm Duy hát phụ diễn cho gánh cải lương Ðức Huy ở Hải Phòng cũng chưa
được dùng máy vi âm.
Sáng Phật Ðản ngày 8 tháng 4 AÂL, Ni cô Diệu Hương giảng kinh A Di Ðà,
ni cô Diệu Viên thuyết về Phật Học Ðối Với Phụ Nữ. Ðây cũng là một
điều hoàn toàn mới mẻ vì cho tới Ðại Hội Hoằng Pháp năm 1962 tại Phật
Học Viện Nha Trang, khi Sư Bà Như Thanh đề nghị lập một đoàn hoằng
pháp lưu động do Ni chúng phụ trách, TT Trí Thủ (năm 1964 là Tổng Ủy
Viên Hoằng Pháp của GHPGVNTN) đã đưa ra ý kiến bác bỏ: Ni chúng lo
việc từ thiện xã hội, còn việc hoằng pháp thì để cho bên tăng đảm
trách.
Sự thành công của lễ Phật Ðản này đã tạo nên một số bài báo công kích
đạo Phật trên các báo Tràng An và Ánh Sáng (Huế), cho rằng đạo Phật ru
ngủ quần chúng nên phục hưng Phật Giáo là việc làm không hợp thời. Các
cư sĩ Nguyễn Xuân Thanh và Tâm Minh Lê Ðình Thám đã phản bác lại bằng
những lập luận có sức thuyết phục cao. Nhờ vậy, cho tới năm 1940, Hội
An Nam Phật Học đã tổ chức được tới đơn vị cấp xã (khuôn hội) tại khắp
các tỉnh miền Trung.
Năm 1936 Hội Tịnh Ðộ Cư Sĩ được thành lập, là hậu thân của Hội Lễ Bái
Lục Phương được thành lập từ 1933 theo tinh thần kinh Thi Ca La Việt (
có người gọi là Kinh Lễ Sáu Phương ). Hội viên toàn là cư sĩ, nhưng
mời sư Minh Trí làm Tông Sư Chứng Minh và suy tôn ông là Tông Sư Minh
Trí. Trụ sở của Hội là chùa Tân Hưng Long (Chợ Lớn) khánh thành năm
1936. Tới thập niên 1950, tỉnh nào ở miền Nam cũng có chùa của Hội
Tịnh Ðộ Cư Sĩ. Hầu hết các chùa này đều trồng, biến chế và lập phòng
thuốc Nam phát thuốc cho đồng bào nghèo. Sư Minh Trí trước khi trở
thành Tông Sư của Hội, đã nhiều năm vân du đi tìm những dược thảo chữa
bệnh cho dân chúng. Phần lớn các chùa của Hội có tăng sĩ trụ trì và
hướng dẫn nghi lễ.
Năm 1955, cư sĩ Ðoàn Trung Còn thành lập Hội Tịnh Ðộ Tông Việt Nam,
trụ sở tại chùa Giác Hải ở Phú Lâm. Ông là tác giả bộ Phật Học Từ Ðiển
và chủ trương nhà xuất bản Phật Học Tùng Thơ từ năm 1932. Ông biên
soạn và dịch thuật 39 tác phẩm biên khảo Phật học, phổ biến rộng tới
Bắc và Trung Kỳ. Sau này ông xuất gia, có pháp danh là Thích Hồng Tại.
Hội Tịnh Ðộ Tông đã thu hút được một số khá đông người Việt gốc Hoa.
Năm 1939 ngày 18 tháng 5 Kỷ Mão, giáo chủ HUỲNH PHÚ SỔ (1919- 1947)
sau bốn lần đi núi tìm đạo (gọi là đăng sơn), đã khai sáng đạo Hòa
Hảo tại xã Hòa Hảo, quận Tân Châu, Châu Ðốc. Ông cũng có tài chữa
nhiều bệnh bằng các phương thuốc vô cùng dản dị (như nước lạnh, vài
thứ bông, vài thứ lá .v..v..) và luôn luôn thuyết pháp khuyên làm
lành, lánh dữ, kính tin Phật Trời. Ông là người có tài thuyết pháp
thao thao bất tuyệt, giọng nói thanh tao, lời lẽ khi cao siêu như sấm
ký, lúc lại dản dị mà thực tiễn. Ông khiêm tốn, bình dân, đối xử bình
đẳng với mọi người nên dân quê gọi ông là "Ông tướng bình dân", đệ tử
gọi ông là Ðức Thầy. Nhà cầm quyền Pháp nghi ngờ hoạt động của ông,
cấm ông hành đạo tại Châu Ðốc. Ông phải lưu động thường xuyên, nhưng
tới năm 1941 họ cũng bắt ông nhốt tại bệnh viện Chợ Quán rồi tại sở
Công An Sài Gòn. Nhờ quân đội Nhật can thiệp ông mới được trả tự do.
Sau đó ông vận động thành lập Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội để liên
hiệp các tông phái Phật Giáo, kết hợp các tăng ni, Phật tử và những
nhà trí thức có khuynh hướng Phật Giáo. Cuộc vận động này gặp nhiều
khó khăn nên không kết quả. Năm 1945, ông thành lập Việt Nam Ðộc Lập
Vận Ðộng Hội, một tổ chức đấu tranh cho tự do và độc lập. Ngày 14
tháng 8. 1945 ông được đề cử làm Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp,
một liên minh các đảng phái quốc gia để mưu đồ độc lập cho nước nhà.
Ngày 21 tháng 9. 1946, ông thành lập đảng Dân Xã, tổ chức chính trị và
quân sự của Phật giáo Hòa Hảo. Vì uy tín của ông trong hàng ngũ quốc
gia ở Nam Bộ ngày càng tăng, Việt Minh đã âm mưu sát hại ông vào ngày
25 tháng 2. 1947. Tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ( khoảng 2 triệu người vào
năm 1945, đại đa số ở Nam Bộ) tin tưởng rằng ông sẽ trở lại thế gian,
cũng như trước đây họ đã cho rằng ông là lần chuyển kiếp thứ tư
củaPhật Thầy Tây An. Tây An Cổ Tự nơi Phật Thầy Tây An hoằng đạo được
coi là chùa lớn thứ hai của Phật Giáo Hòa Hảo, sau chùa An Hòa Tự ở xã
Hòa Hảo, Tân Châu, Châu Ðốc.
Ðạo Hòa Hảo, còn gọi là Phật Giáo Hòa Hảo, lấy pháp môn Tịnh Ðộ làm
căn bản, đề cao hiếu nghĩa tứ ân, chỉ cúng Phật bằng nước lạnh, hoa và
nhang, nghi thức tụng niệm ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ ( gồm bài nguyện
trước bàn thờ ông bà, bài nguyện trước bàn thờ Phật và năm câu
nguyện), không thờ hình tượng, không đốt vàng mã, không tổ chức trai
đàn phướn xá, ăn chay tháng 4 ngày, không có thành phần xuất gia chỉ
có hàng tại gia cư sĩ học Phật tu Nhân. Chi nhánh đạo tổ chức từ cấp
thấp nhất là Ban Trị Sự ở làng. Người nào muốn quy y theo đạo phải có
hai người bổn đạo bảo lãnh và tiến cử đến Ban Trị Sự làng.
Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ để lại bộ Sấm Giảng gồm 6 quyển:
1- Sấm Giảng Khuyên Người Ðời Tu Niệm (1939)
2- Kệ Dân Của Người Khùng (1939)
3- Sấm Giảng (1939)
4- Giác Mê Tâm Kệ (1939)
5- Khuyến Thiện (1942)
6- Những Ðiều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền (1945)
Năm 1940 tháng 10, cư sĩ Lê Văn Giảng xin xuất gia với HT Phó Tăng
Thống Cambodia, được ban pháp danh HỘ TÔNG (Vansarakhita). Cuối năm,
ông được cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu và một số Phật tử Nam Tông thỉnh về
Việt Nam lập chùa Bửu Quang ở Thủ Ðức. Ðây là ngôi chùa Phật Giáo
Nguyên Thủy đầu tiên của người Việt tại miền Nam.
Sư Hộ Tông (1893- 1981) sanh tại Châu Ðốc, học tại Hà Nội và làm việc
( thú y sĩ) tại Cambodia. Năm 1927, ông bắt đầu tìm hiểu về các pháp
tu hành khi làm việc tại Soay Rieng, gần biên giới Việt Nam. Trước
tiên ông tu theo Tịnh Ðộ và Mật Tông nhưng không thỏa mãn. Sau này,
nhờ nghe HT Phó Tăng Thống Cambodia giảng về Bát Chánh Ðạo tại chùa
Unalom ở Soai Rieng, ông thấy thích thú. Vị này cũng là giám đốc
trường Cao Ðẳng Pali tại Nam Vang, đã giới thiệu cho ông một quyển
sách bằng tiếng Pháp về Bát Chánh Ðạo tại thư viện của chùa. Ðọc xong,
ông tiếp tục tới chùa Unalom học tập kinh điển Pali và tập pháp thiền
Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati). Sau vài năm, ông đạt được kết quả
tốt. Năm 1934, đổi về làm việc tại tỉnh Prey Vey, ông giúp thành lập
một trung tâm thiền định tại chùa Ruong Damrey, đồng thời giảng dạy
Phật pháp và hướng dẫn hành thiền. Ðể khuyến khích người Việt xuất gia
theo Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada, ông bỏ ra 2 năm dịch cuốn Luật
Xuất Gia , sau đó lại soạn Kinh Nhật Hành Cho Người Tại Gia. Năm 1936,
ông trở lại Nam Vang, vận động một nhóm cư sĩ, tu bổ ngôi chùa Bắc
tông tên Sùng Phước, biến thành nơi giảng dạy về Phật Giáo Nguyên Thủy
cho người Việt trên đất Miên.
Ông làm trú trì chùa Bửu Quang, Thủ Ðức, cho tới năm 1944 lại qua Miên
thực hành hạnh đầu đà ( sống đời độc cư hành thiền trong rừng). Năm
năm sau (1949) ông trở lại VN thì chùa Bửu Quang đã bị quân Pháp phá
hủy từ 1947. Ông cùng một số cư sĩ mua một lô đất trống tại Quận 3 Sài
Gòn, lập chùa Kỳ Viên năm 1950. Nơi đây sau đó trở thành trung tâm
chính cho các hoạt động hoằng pháp của Phật Giáo Nguyên Thủy. Năm sau,
1951 ông tu sửa chùa Bửu Quang.
Năm 1954, ông cùng sư Bửu Chơn dự Ðại Hội Kết Tập Kinh Ðiển lần 4 tại
Rangoon, thủ đô Miến Ðiện. Ông đọc diễn văn trong ngày bế mạc đại hội.
Năm 1957 Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam được thành lập, trụ sở
tại chùa Kỳ Viên, ông được suy tôn làm Tăng Thống. Năm 1980 ông sang
Pháp nhưng sau đó quyết định trở lại VN. Ông tịch tại chùa Bửu Quang,
Thủ Ðức ngày 25.8.1981.
Ông đã vận động xây cất nhiều chùa Phật Giáo Nguyên Thủy, dịch và viết
nhiều sách hướng dẫn giáo lý, luận và luật tạng của Phật Giáo Nguyên
Thủy bằng lối văn dản dị trong sáng. Ông góp phần quan trọng trong nỗ
lực phát triển Phật Giáo Theravada tại miền Nam. Nỗ lực này được sự
tiếp tay của một số đáng kể những danh tăng Phật Giáo Nguyên Thủy. Cư
sĩ Phạm Kim Khánh cũng góp phần quan trọng qua nỗ lực dịch và xuất bản
nhiều sách về giáo lý PGNT liên tục từ năm 1970. Thống kê năm 1997 tại
Việt Nam có 64 chùa Phật Giáo Nguyên Thủy người Việt; ở miền Trung có
các chùa Tam Bảo (Ðà Nẵng), Huyền Không (Huế) ...
Năm 1940 Bắc Kỳ Phật Giáo Hội qua nỗ lực của các nhà sư Quang Minh,
Thanh Thạnh, Doãn Hài và Thanh Tích phối hợp với Trường Viễn Ðông Bác
Cổ bắt đầu thực hiện bộ Phật Ðiển Tùng San. Tới năm 1943, bộ này đã
thực hiện theo lối in dập lại được 8 tập các tác phẩm Phật Giáo Việt
Nam bằng chữ Nôm và chữ Hán: Chư Kinh Nhật Tụng, Thụ Giới Nghi Phạm,
Thiền Uyển Kế Ðăng Lục, Pháp Hoa Ðề Cương, Bát Nhã Trực Giải, Khóa Hư
Lục, Trần Triều Dật Tồn Ðiển Lục và Lễ Tụng Hành Trì Yếu Tập. Ðây là
những tài liệu tham khảo hiếm hoi về các tác phẩm xưa của Phật Giáo
Việt Nam vào thời đó. Những năm sau, vì chiến tranh công trình này của
Hội Bắc Kỳ Phật Giáo bị đình trệ.
Bắc Kỳ Phật Giáo Hội cũng thực hiện bộ Hải Triều AÂm Văn Khố , giới
thiệu các tác phẩm tân thư dễ hiểu của Phật Giáo Trung Hoa cận đại
thuộc các tác giả như Ðại Sư Thái Hư, Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi,
Châu Tự Ca, AÂu Dương Kiến Vô ... giúp cho việc học Phật của giới cư
sĩ cựu học và tân học dễ dàng hơn.
Bắc Kỳ Phật Giáo Hội thành lập năm 1934 và phát triển rất nhanh nhờ có
nhiều thượng lưu và trí thức học giả miền Bắc tích cực tham dự từ đầu.
HT Thanh Hanh được suy tôn làm Thiền Gia Pháp Chủ. Hội đã thành lập
ngay Ban Khảo Cứu Phật Học do Trần Trọng Kim làm trưởng ban với 17 học
giả thông thạo Nho và Pháp tham dự. Báo Ðuốc Tuệ là cơ quan chính thức
của Hội. Hai cư sĩ tích cực nhất là Ðồ Nam Nguyễn Trọng Thuật và Thiều
Chửu Nguyễn Hữu Kha. Hội cũng mở trường Tăng Học Trung Cấp ( bốn năm
Sơ Cấp, ba năm Trung Cấp) tại chùa Quán Sứ và chùa Bồ Ðề. Năm 1936,
Hội mở trường Tăng Học Cao Cấp (ba năm) tại chùa Bằng Sở (Hà Ðông) do
thiền sư Trung Thứ làm Ðốc Giáo.
Năm 1943 ngày 14 tháng 3, gia đình Phật Hóa Phổ có bản điều lệ và Ban
Ðiều Hành lần đầu với thành phần:
- Phụ trách tổng quát: Phan Hữu Bình
- Phụ trách hoạt động thanh niên: Tráng Thông
- Phụ trách thông tin đối ngoại: Ðinh Văn Vinh
- Phụ trách giáo lý cấp sơ đẳng: Ðinh Văn Nam ( sau này xuất gia là HT
Minh Châu)
- Phụ trách ca vũ nhạc: Lê Bối
- Phụ trách tổ chức các đội hình, cắm trại, đại lễ: Nguyễn Hữu Quán
Gia đình Phật Hóa Phổ là hình thức đầu tiên của tổ chức Gia Ðình Phật
Tử Việt Nam được tổ chức theo từng gia đình, lấy tên gia trưởng làm
tên đơn vị. GÐPHP phổ biến Phật pháp trong giới trẻ, dạy các em xây
dựng lòng tin chân chánh, thực hành đạo đúng đắn, không mê tín dị
đoan. Hạt nhân đầu tiên được thành lập vào năm 1940 là Gia Ðình Phật
Hóa Phổ Tâm Minh do bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám làm Phổ Trưởng. Sinh
hoạt của Gia Ðình Phật Hóa Phổ Tâm Minh nhanh chóng được các gia đình
trí thức khác ở Huế bắt chước. Việc tổ chức theo đơn vị gia đình để
khỏi phải xin giấy phép thành lập hội rất phiền phức trong thời Pháp
thuộc. Một huynh trưởng hướng đạo, Lê Lừng, thấy sinh hoạt này phát
triển đã vẽ huy hiệu của đoàn là hoa sen trắng có 5 cánh trên, 3 cánh
dưới. Sau này trở thành huy hiệu chính thức của Gia Ðình Phật Tử Việt
Nam. Ông cũng là tác giả bản nhạc phổ thông nhất trong Gia Ðình Phật
Tử VN ( Dây Thân Ái). Bài ca chính thức của GÐPTVN là bài Sen Trắng
của Ưng Hội. Ðoàn Thiếu Nữ Phật Tử có bài đoàn ca riêng, Ðoàn Liên
Hương của Hoàng Cang.
Theo Nhất Hạnh (VNPGSL 3, tr. 254), ở ngoài Bắc, các cơ sở Gia Ðình
Phật Hóa Phổ được các cư sĩ Nguyễn Văn Nhã, Lê Văn Lãm, Vũ Thị Ðịnh
thực hiện tại Hà Nội và Hải Phòng. Trong Nam, các cư sĩ Tống Hồ Cầm,
Nguyễn Văn Thục xây dựng các đơn vị Gia Ðình Phật Hóa Phổ trong phạm
vi Hội Phật Học Nam Việt.
Năm 1951, Hội Nghị Toàn Quốc Gia Ðình Phật Hóa Phổ họp tại Huế, đổi
danh hiệu thành Gia Ðình Phật Tử. Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng GÐPT
đầu tiên được tổ chức nhân dịp này với Ban Trại Trưởng gồm 10 người do
thầy Minh Châu làm Cố Vấn và cư sĩ Võ Ðình Cường làm Trại Trưởng. Có
33 trại viên tham dự (29 từ miền Trung, 3 từ miền Bắc và 1 từ miền
Nam). Tới năm 1973, số lượng huynh trưởng và đoàn viên của tổ chức này
tới trên 200 ngàn.
Ðẳng cấp Gia Ðình Phật Tử Việt Nam được tổ chức theo các trình độ tu
chứng qua các cấp từ Tập, Tín, Tấn tới Dũng. Sau năm 1975, các khóa
huấn luyện huynh trưởng vẫn được tiếp tục tổ chức đều hòa tại Mỹ và
AÂu Châu. Gia Ðình Phật Tử là ngành duy nhất của Phật Giáo Việt Nam
hiện đại được ca ngợi về sự thống nhất trong tổ chức từ ngày thành lập
tới nay.
Năm 1943 TT MẬT THỂ (Tâm Nhất, Nguyễn Hữu Kê 1912- 1961) công bố Việt
Nam Phật Giáo Sử Lược, Tân Việt xuất bản tại Hà Nội. Tác phẩm này được
tái bản nhiều lần, là cuốn sử Phật Giáo VN đầu tiên viết bằng chữ quốc
ngữ. Tại hải ngoại, tác phẩm này cũng đã được Phật Học Viện Quốc Tế
tái bản từ năm 1984. Ông xuất gia từ năm 12 tuổi với thiền sư Giác
Tiên tại chùa Trúc Lâm (Huế), năm 1933 được mời làm giảng sư Hội An
Nam Phật Học, năm 1937 được gởi qua tu nghiệp tại Phật Học Viện Tiêu
Sơn ở Trung Quốc. Vì chiến tranh Hoa Nhật, năm 1940 ông phải về nước,
đem theo một số sách Tân Thư Phật Học bằng văn Bạch Thoại. Năm 1941-
1942, ông phiên dịch các tác phẩm Tân Thư nói trên, viết tập văn thơ
và khảo luận Xuân Ðạo Lý và dạy học tại trường Sơn Môn Phật Học. Ông
cũng được mời dạy tại Phật Học Ðường Lưỡng Xuyên ở Trà Vinh năm 1941.
Một năm sau, ông trở ra Huế, đi khắp các tổ đình miền Trung rồi ra Hà
Nội để thu thập tài liệu viết về sử Phật Giáo Việt Nam. Ðiều đặc
biệt là mặc dù xuất gia từ năm 12 tuổi, được mời giảng dạy các trường
Phật học từ 21 tuổi, không hề rời khỏi Tăng Già mà mãi tới năm 32 tuổi
(1944) ông mới thọ đại giới tại chùa Thiền Tôn, Huế.
Ông là người thông minh. Ngoài căn bản Hán Văn rất vững, ông tự học
chữ quốc ngữ, làm những bài thơ mới; tự học chữ Pháp để đọc các bài
biên khảo Phật Giáo bằng Pháp ngữ. Tháng 1. 1943 ông ra ứng cử Ðại
Biểu Quốc Hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đơn vị Thừa Thiên và
được sự ủng hộ của giới Phật tử trẻ tuổi nên đắc cư.û Ðây là lần đầu
tiên một nhà sư trực tiếp hoạt động chính trị nên một số vị lãnh đạo
Sơn Môn và các cư sĩ lớn tuổi không tán thành. Năm 1946, ông được mời
làm Chủ Tịch Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc Thừa Thiên. Mặc dù biết rất rõ
rằng xây dựng phong trào Phật Giáo dân tộc bên cạnh người Cộng sản rất
khó, nhưng ông quan niệm người Phật tử phải có mặt ở đó để bênh vực,
che chở cho những Phật tử phục vụ trong hàng ngũ kháng chiến. Vì vậy
trong buổi họp mặt năm 1947 tại chùa Thế Chí ở Thừa Thiên với một số
Phật tử trẻ đồng chí hướng thảo luận về tương lai Phật Giáo trong tình
huống hiện tại, trước khi rút về chiến khu, ông giao nhiệm vụ cho
những người ở lại cố gắng dựng lại chùa, quy tụ Phật tử lại để sinh
hoạt và phục hồi phong trào Phật Giáo. Ông trao cho họ tất cả tiền quỹ
của tạp chí Giải Thoát và dặn họ dùng tiền này cố gắng xuất bản một tờ
báo tại Huế để tiếp tục công trình của tạp chí Giải Thoát. Những người
ở lại đó sau này trở thành những khuôn mặt nổi bật của Phật Giáo Việt
Nam như HT Minh Châu, Thiên AÂn, Mãn Giác, cư sĩ Cao Hữu Ðính ...
Không thể làm ngơ trước chính sách đàn áp Phật Giáo ngày càng lộ liễu
của Cộng Sản, ông công khai chống đối chế độ và bị quản thúc tại Nghệ
An từ năm 1957. Cộng Sản cô lập ông không cho ông đi đâu, cũng không
cho bất cứ ai tiếp xúc với ông, nhưng ông không chết đói nhờ đồng bào
thỉnh thoảng lén ném vào sân cho ông một túi gạo nhỏ. Trong hoàn cảnh
khó khăn như vậy, ông vẫn viết được tác phẩm Thế Giới Quan Phật Giáo
trước khi viên tịch vào năm 1961. Bản thảo này sau đó được chuyển vào
Nam và được tạp chí Vạn Hạnh xuất bản năm 1967 tại Sài Gòn. Tác phẩm
này nói về sự cần thiết của đạo Phật trong trào lưu chính trị, văn hóa
và kinh tế hiện đại, trong đó ông phê bình sự nông cạn của chủ nghĩa
Duy Vật và khẳng định Phật Giáo không duy vật, chẳng duy tâm.
Sư Mật Thể là người có chí nguyện lớn và sẵn sàng hành động để thực
hiện chí nguyện đó. Ông là hình ảnh tiêu biểu của lý tưởng Bồ Tát
trong Lục Ðộ Tập Kinh. Trong suốt chiều dài lịch sử Phật Giáo Việt
Nam, hình ảnh Phật Giáo dấn thân đó luôn luôn xuất hiện vào mỗi thời
nhân dân khốn khó điêu linh.
Năm 1950 từ 26 tháng 5 tới 7 tháng 6, đại biểu 26 nước họp tại thủ đô
Colombo (Tích Lan) thành lập World Fellowship of Buddhists (Hội Phật
Giáo Liên Hữu Thế Giới, thường gọi tắt là Phật Giáo Thế Giới) công
nhận lá cờ 5 sắc do đại tá Olcott đề nghị là lá cờ Phật Giáo. Phái
đoàn Việt Nam tham dự gồm: Thượng Tọa TỐ LIÊN trưởng đoàn, Phạm Chữ
thông dịch viên Anh ngữ bộ Ngoại Giao, Ðại Ðức Thạch Bích đại diện
Phật Giáo Nguyên Thủy, thành viên. Phái đoàn đã tranh đấu để VN được
quyền cử một đại biểu vào Ðại Hội Ðồng của Hội Phật Giáo Liên Hữu Thế
Giới như một quốc gia riêng biệt, thay vì chỉ có một đại biểu chung
cho Liên Bang Ðông Dương.
Năm 1950 (ngày 6 tháng 8), quốc trưởng Bảo Ðại ký ban hành dụ số 10
quy định muốn lập hội phải xin phép trước, chính quyền có thể bác đơn
mà không cần nêu lý do. Giấy phep lập hội đã cấp có thể bị thu hồi vì
lẽ trị an. Chính quyền có quyền xét hỏi, kiểm soát nội tình các tôn
giáo. Cấp lãnh đạo các tôn giáo phải do một đại hội đồng bầu cử. Chỉ
có các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô cùng các Hoa Kiều Lý Sự
Hội được hưởng quy chế đặc biệt sẽ quy định sau. Giáo hội các tôn giáo
khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo ... chỉ được coi như
hiệp hội. Chánh quyền có thể bất cứ lúc nào cấm dùng danh xưng Phật
Giáo mà bắt gọi là hội Phật Học mới cấp giấy phép lập hội. Chính quyền
Ngô Ðình Diệm tiếp tục duy trì dụ số 10 cho tới ngày cuối của chế độ.
Bảo Ðại từng là Hội Trưởng Danh Dự hội An Nam Phật Học (lập năm 1932
tại Huế), đã từng ngỏ ý muốn học kinh Phật với bà Từ Cung vào năm 1945
( theo hồi ký Quách Tấn).
Năm 1951 (ngày 6 tháng 5) vào lễ Phật Ðản, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
được thành lập theo quyết nghị đại hội có 51 đại biểu tham dự họp tại
chùa Từ Ðàm, Huế. Sáu đoàn thể tham dự Ðại Hội là Giáo Hội Tăng Già
Bắc Việt và Hội Phật Giáo Việt Nam (Bắc), Giáo Hội Tăng Già Trung Việt
và Hội Việt Nam Phật Học (Trung), Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và Hội
Phật Học Nam Việt. Ðứng đầu tập đoàn miền Bắc là thiền sư Mật Ứng,
phát ngôn viên là thiền sư Trí Hải. Lãnh đạo tập đoàn miền Trung là
Hòa Thượng Tịnh Khiết, phát ngôn viên là thiền sư Trí Quang. Lãnh đạo
tập đoàn miền Nam là thiền sư Ðạt Thanh, phát ngôn viên là thiền sư
Thiện Hòa. Nhạc sĩ Lê Cao Phan sáng tác bản nhạc Phật Giáo Việt Nam để
chào mừng sự thống nhất Bắc Nam Trung này. Năm 1964, bản nhạc này trở
thành bản đạo ca chính thức.
HT Trí Quang cho rằng trong việc thành lập Tổng Hội có 3 đoàn thể
"thiếu hoa hỉ ". Trong loạt bài trên tạp chí Phật Giáo Việt Nam năm
1959, tác giả Trọng Ðức cho rằng quần chúng thời đó trách cứ thiền sư
Trí Quang (Hội Việt Nam Phật Học) và cư sĩ Mai Thọ Truyền (Hội Phật
Học Nam Việt) về việc trì trệ sự thống nhất Phật Giáo. Nhất Hạnh
(VNPGSL 3, tr. 339) nhận xét: Trí Quang thông minh nhưng quá nhiều tự
tín nên gặp phải những trở lực từ nội bộ vì có những quyết định quan
trọng mà ông không chịu tham khảo ý kiến tập thể.
Dựa vào dụ số 10 nói trên, chính quyền bắt gọi là Hội Phật Học mới cấp
giấy phép, cấm dùng danh xưng Phật Giáo. Chính quyền của thủ tướng
Nguyễn Văn Tâm ra lệnh triệt hạ bảng hiệu văn phòng, HT Hội Chủ Thích
Tịnh Khiết bị bắt phải nạp khuôn dấu, thành phần Ban Quản Trị Trung
Ương người bị bắt, người phải lánh nạn. Do nỗ lực của TT Thích Trí
Quang, đầu năm 1953, Tổng Hội mới được chính thức cấp giấy phép với
danh nghĩa Tổng Hội Phật Học Việt Nam. Cho tới năm 1956, dưới chính
quyền Ngô Ðình Diệm, ông lại vận động để Tổng Hội mới mang danh là
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn.
Năm 1952 (theo HT Trí Quang), để đề phòng sự tan rã của Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam vì chính quyền Trần Văn Hữu và sau đó Nguyễn Văn Tâm gây
nhiều khó khăn, ba tổ chức tăng già họp đại hội thành lập Giáo Hội
Tăng Già Toàn Quốc tại chùa Quán Sứ, Hà Nội vào cuối tháng 8 đầu tháng
9. HT Tuệ Tạng (Thích Thanh Thuyên) được bầu làm Thượng Thủ, chỉ đạo
Ban Tổng Trị Sự. Ðại hội cũng thông qua Quy Chế Giáo Hội Tăng Già Toàn
Quốc.
HT TUỆ TẠNG (1889- 1959) sinh tại Nam Ðịnh, xuất gia năm 14 tuổi, thọ
giới sa di năm 16 tuổi, sau đó được cử đi trụ trì chùa Cồn ở Nam Ðịnh
trước khi thọ giới tỳ kheo. Năm 1920 ông cùng với sư tổ một số chùa ở
Nam Ðịnh lập hội Tiến Ðức Cảnh Sách để đào tạo tăng ni thành một đoàn
thể có học và hạnh không phân biệt sơn môn. Năm 1934, ông cùng sư tổ
chùa Trung Hậu, chùa Bằng Sở, TT Trí Hải và cư sĩ Thiều Chửu lập Hội
Phật Giáo Việt Nam, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Năm 1941 đến
1945 ông kiêm nhiệm giám đốc và đốc giáo trường Tăng Học Bắc Việt
trong thời kỳ chiến tranh, vừa lo ăn vừa lo dạy cho hơn 50 tăng sinh
khi trường phải di chuyển từ chùa này qua chùa khác trước khi trở lại
chùa Quán Sứ và được cụ Hội Trưởng Hội Tế Sinh Bắc Việt cúng dường một
ngôi chùa, một trường tăng học và 100 mẫu ruộng ở tỉnh Phúc Yên. Ðầu
năm 1945, thời Nhật chiếm đóng, ông nhận trách nhiệm Chánh Hội Trưởng
Hội Phật Giáo Việt Nam, trú trì chùa Quán Sứ. Năm 1946, ông xin từ
chức, trở về chùa Cồn, Nam Ðịnh tu dưỡng. Cho tới năm 1949, thường có
khoảng hơn 60 tăng sinh theo học với ông. Ông tịch ngày 10 tháng 5.
1959 tại Nam Ðịnh. Ông được tăng chúng kính nể là người thuộc luật
tạng và trì luật bậc nhất.
Năm 1952 Phái đoàn Phật Giáo Tích Lan trên đường biển tham dự Ðại Hội
Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (World Fellowship of Buddhists) kỳ II tổ
chức tại Tokyo có đem theo một viên ngọc Xá Lợi tặng Hội Phật Giáo
Nhật Bản. Vì tầu thủy sẽ ghé lại cảng Sài Gòn 24 tiếng, Chủ Tịch Hội
LHPGTG, tiến sĩ Malalasekeka đánh điện thông báo cho HT Tố Liên ( đại
diện Hội LHPGTG tại VN). TT Tố Liên được sự đồng ý của các tập đoàn
trong Tổng Hội Phật Giáo VN đã ủy nhiệm cho Hội Phật Học Nam Việt tổ
chức lễ cung nghinh tại Sài Gòn để Phật tử có cơ hội lần đầu tiên
chiêm bái Xá Lợi Phật. Cư sĩ Mai Thọ Truyền lập tức vận động thành lập
Ủy Ban Liên Phái gồm 11 đoàn thể Phật Giáo để tổ chức lễ cung nghinh
Xá Lợi Phật.
Ngày 13 tháng 9. 1952, một cuộc diễn hành từ cảng Sài Gòn qua nhiều
đại lộ, có xe hoa trưng cờ 5 sắc của Phật Giáo và các đoàn thể Gia
Ðình Phật Tử trong đồng phục và cờ hiệu riêng hộ tống. Một bàn thờ
được tôn trí tại trường đại học Sài Gòn để đặt Xá Lợi cho đồng bào
chiêm bái. Nửa triệu người quỳ xuống hai bên đường khi xe Xá Lợi Phật
đi qua trong cảm tưởng phấn khởi như thấy được Phật.
Báo chí toàn quốc đều có bài tường thuật về cuộc diễn hành này. Cuộc
diễn hành gây kinh ngạc cho chính quyền Việt Pháp về khả năng tổ chức
và tiềm lực lớn lao không ngờ của Phật Giáo Việt Nam. Nhờ vậy, họ giảm
bớt sự khó khăn gây cho Tổng Hội Phật Giáo và Giáo Hội Tăng Già Toàn
Quốc. Phong trào Chấn Hưng và Thống Nhất Phật Giáo cũng do đó được các
Phật tử từ Nam chí Bắc đón nhận nồng hậu.
Năm 1953 sau khi tham dự Hội Nghị Thành Lập Hội Liên Hữu Phật Giáo
Thế Giới (World Fellowship of Buddhists) tại Colombo, thủ đô Tích Lan,
năm 1950, Phật Giáo Việt Nam có cơ hội trao đổi văn hóa Phật Giáo với
các nước trong tổ chức này. Với các học bổng nhận được từ các nước
Nhật Bản, Tích Lan và Ấn Ðộ, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đề cử các Ðại
Ðức trẻ tuổi Tâm Giác, Thanh Kiểm, Quảng Ðộ, Phúc Tuệ ( Bắc), Thiện
AÂn, Trí Không, Minh Châu (Trung), Quảng Minh và Huyền Dung (Nam) đi
du học tại các nước trên. Nhờ chương trình tăng ni du học bắt đầu từ
năm 1953, Phật Giáo Miền Nam có được những nhân tài cần thiết để đáp
ứng nhu cầu phát triển Giáo Hội từ đầu năm 1964. Ðại đức Trí Không
hoàn tục trong thời gian du học trở thành cư sĩ T.Q.T, sau năm 1963
trở thành Bộ Trưởng Xã Hội rồi Nghị Sĩ.
Năm 1953 Thượng tọa THIỆN HOA (Trần Thiện Hoa, 1918- 1973) sau khi
nhận chức Trưởng ban Giáo Dục kiêm Trưởng ban Hoằng Pháp của Giáo Hội
Tăng Già Nam Việt tại chùa Ấn Quang, đã mở lớp dạy giáo lý thứ tư và
thứ năm mỗi tuần tại chùa Ấn Quang (cho tăng sĩ) và chùa Phước Hòa
(trụ sở Hội Phật Học Nam Việt, cho cư sĩ). Những bài giảng đó sau này
được ông hoàn chỉnh lại thành bộ sách nổi tiếng Phật Học Phổ Thông,
được GHTGNV ấn hành lần đầu năm 1958 làm tài liệu cho các Giảng Sư
Ðoàn và các Sứ Giả Như Lai. Bộ sách này còn được tái bản nhiều lần
trong nước và tại hải ngoại.
TT Thiện Hoa theo học với tổ Khánh Anh từ 7 tuổi, nhập chúng tu học
năm 1931 khi HT Khánh Anh khai giảng lớp gia giáo tại chùa Long An,
Vĩnh Bình. Ông thọ giới sa di 1935, cầu học tại nhiều Phật học đường ở
Huế từ 1938- 1945, năm 1946 thọ giới tỳ kheo tại đại giới đàn chùa Kim
Huê, Sa Ðec.
TT Thiện Hoa là một nhà giáo dục Phật giáo đa tài và tháo vát. Trong
thời gian chiến tranh 1946- 1952, ông vừa dạy kinh điển và Phật pháp
cho tăng ni, dạy học cho trẻ em, mở lớp chống nạn mù chữ, chích thuốc
khám bệnh kiêm cả chuẩn mạch bốc thuốc Ðông y miễn phí cho đồng bào.
Trong thời gian từ 1953- 1962, mỗi năm hai khóa Hạ và Ðông, ông huấn
luyện đào tạo cán bộ trú trì và giảng viên Phật học. Các giảng viên
này sau khi học xong 1 khóa 10 bài, được khảo hạch chu đáo rồi được cử
đi giảng ở các chùa Tỉnh hội 10 đêm, sau đó trở về thụ huấn 10 bài
khác. Cách huấn luyện vừa học vừa hành này giúp ích rất nhiều cho
giảng viên và tạo nên phong trào học giáo lý từ Ðô thành tới các tỉnh.
Ông còn tu chỉnh lại và lập nhà xuất bản Hương Ðạo để in các bài giảng
làm cẩm nang cho các giảng viên.
Bộ Phật Học Phổ Thông gồm 10 tập của ông tới nay vẫn được coi là bộ
sách quý vì nó dễ hiểu, giúp người học Phật dễ dàng leo lên các nấc
thang Phật pháp từ các vấn đề căn bản nhân quả, luân hồi, đến lịch sử
Phật giáo, các tông phái, các kinh Lăng Nghiêm, Viên Giác, Duy Thức
Học, các bộ luận Ðại Thừa và sau cùng là kinh Kim Cương và Tâm Kinh.
Các bộ sách quý nổi tiếng khác do ông trước tác là Tám Quyển Sách Quý
( diễn giải 8 chủ đề đạo đức Phật giáo), Duy Thức Học (6 tập), Bản Ðồ
Tu Phật ( về 10 tông phái Phật giáo Trung Hoa) và Phật Học Giáo Khoa
cho các trường Bồ Ðề (từ đệ thất tới đệ nhất). Tổng cộng HT Thiện Hoa
trước tác 80 tác phẩm chia thành 8 loại, từ tiểu thuyết tới dịch và
giảng kinh. Ông chịu ảnh hưởng phương pháp diễn giảng Phật pháp rõ
ràng rành mạch theo lối Tây phương của bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám
(mà ông có dịp dự thính mỗi đêm trong 1 tháng vào năm 1938.
Ông được tôn cử làm Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo (Ấn Quang) 1966- 1973.
Các đệ tử nổi tiếng của ông là HT Thanh Từ, HT Thiền Tâm ...
Năm 1956 ngày 6 và 7 tháng 10, ni chúng thuộc Giáo Hội Tăng Già Nam
Việt tập trung về chùa Huê Lâm (Sài Gòn) họp Ðại Hội Thành Lập Ban
Lãnh Ðạo Ni Bộ Lâm Thời. Ni Bộ cũng thành lập nội quy và tổ chức hành
chánh riêng, trụ sở đặt tại chùa Huê Lâm, Ni Sư Như Thanh được suy tôn
làm Ni Trưởng. Cuối năm 1956, GHTGN Nam Việt giao chùa Dược Sư cho Ni
Bộ, trụ sở Ni Bộ được dời về đây. Năm 1962, chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn)
được khánh thành làm Tổ Ðình Ni Giới, một Phật Học Viện đồng thời được
khia giảng tại đây để đào tạo Ni tài. Năm 1972, Ni Trưởng Như Thanh
được giao phó chức vụ Vụ Trưởng Ni Bộ Bắc Tông trong GHPGVNTN.
Ni Trưởng NHƯ THANH (Nguyễn Thị Thanh, 1911- 1998) xuất gia năm
1932 với HT Pháp Ấn, chùa Phước Tường Thủ Ðức. Khi đó bà đã thông thạo
Hán học, Tây học và Phật học vì thân phụ bà là một nhà nghiên cứu Phật
học uyên thâm. Từ năm 1935 tới 1941, bà đi từ Nam ra Trung cầu học với
các cao tăng về kinh điển, rồi một mình ra Bắc nghiên cứu về Luật
Tạng. Từ năm 1942, bà trở về Nam dành trọn nỗ lực vào việc tổ chức và
hướng dẫn Ni chúng tu học. Năm 1956, bà vận động với cấp lãnh đạo Giáo
Hội Tăng Già Nam Việt đề nghị thống nhất Ni chúng, sau khi được chấp
thuận bà đi các chùa Ni khắp miền Ðông và Tây Nam Bộ kêu gọi đoàn kết.
Từ năm 1961 tới 1998, bà liên tiếp được mời làm Ðàn Chủ và Hòa Thượng
Ðầu Ðàn cho 13 Giới Ðàn Ni. Bà quan niệm: Giới Luật là thọ mạng của
Phật pháp.
Bà là nhà tổ chức Ni chúng tận tụy và tài ba, thành lập nhiều học viện
cho Ni chúng, mở nhiều lớp giáo lý cho đại chúng, lập các cơ sở sản
xuất ,trường trung tiểu học, phòng phát thuốc Ðông tây Y miễn phí, ký
nhi viện, trường huấn nghệ tại các ni viện. Bà còn là một giảng sư ưu
tú của Giáo Hội đã xuất bản từ năm 1956: 5 tập Giáo Lý Căn Bản, 3 tập
Luận, 3 tập Sử Phật Giáo, 3 tập về Luật Tạng, 1 tập Giảng Kinh, 6 tập
dịch về nghiên cứu Phật pháp và một tập thơ. Các tác phẩm quan trọng
nhất của bà là : Bát Nhã Cương Yếu giảng về kinh Ðại Bát Nhã, Hành Bồ
Tát Ðạo luận giải về phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, Duy Thức
Học gồm 4 tập.
Ni trưởng Như Thanh đã giữ lửa cho bó đuốc phục vụ Ni giới mà Ni Sư
Diệu Tính trao truyền lại. Ni sư DIỆU TỊNH (Phạm Ðại Thọ, 1910- 1942),
thọ đại giới năm 1930 tại giới đàn núi Ðiện Bà với thiền sư Giác Hải,
từ năm 1931 đã dịch một số kinh điển ra quốc ngữ , đã viết bài trên Từ
Bi AÂm số 25 kêu gọi nữ giới hợp tác để mở mang ni giới, năm 1934 mở
lớp ni học khi làm trú trì chùa Thiên Bửu và đi giảng kinh khắp Lục
Tỉnh theo lời mời của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Năm 1935 bà khai
sơn chùa Từ Hóa ở Gia Ðịnh, năm sau đổi thành Hải Ấn Ni Tự, ní chúng
quy tụ về tu học khá đông. Năm 1938 bà ra Bắc nghiên cứu luật tạng.
Trên đường về Nam, bà được Nghi Xương Hoàng Thái Hậu mời vào cung và
giảng trong 2 tháng bộ Phạm Võng Lược Sớ. Trở về chùa Hải Ấn, bà lại
viết bài kêu gọi nữ giới đứng dậy tự lập và xiển dương chánh pháp trên
tạp chí Từ Bi AÂm. Năm 1939 bà tổ chức ni học viện tại chùa Giác Linh,
Sa Ðec, ni chúng gần 100 người. Năm 1940 bà lại khai giảng trường ni
tại chùa Linh Phước. Vì những nỗ lực liên tục lo cho các trường ni về
vật chất lẫn tinh thần, sức khỏe bà hao mòn. Bà viên tịch tại chùa Hải
Ấn năm 1942.
Còn có nhiều Ni Sư tiêu biểu khác trong phong trào xây dựng và phát
triển Ni giới trong thời kỳ phục hưng Phật Giáo. Chẳng hạn Ni sư Chí
Kiên Hồng Chí ( Ðặng Thị Mười, sanh năm 1913, xuất gia 1928) kế thừa
Ni Trưởng Như Thanh làm Vụ Trưởng Ni Bộ Bắc Tông từ 1975; Ni Sư Diệu
Ninh ( Vương Thị Kiến, sanh năm 1914, xuất gia 1930 với thiền sư Như
Nhiêu tại chùa Thành Xuân, Châu Ðốc) rất tích cực trong công tác cứu
tế xã hội. Tại miền Bắc, Ni sư Ðàm Soạn, đệ tử của thiền sư Ðông Ðồ
(Sơn Môn Trung Hậu, tỉnh Phúc Yên), là vị ni đầu tiên được mời vào
hoàng cung Huế giảng giải Phật pháp cho hoàng thái hậu và phi tần từ
cuối thập niên 1920. Năm 1928, bà được mời xem đất để xây chùa Ni đầu
tiên ở Huế là chùa Diệu Viên. Sau khi chùa hoàn thành, đệ tử của bà
là Ni sư Hương Ðạo được cử làm trú trì chùa này. Vì vậy mỗi năm Ni sư
Ðàm Soạn vào Huế ba tháng để lo Phật sự. Năm 1952, được Hội Dược Sư
mời vào Nam viếng chùa Dược Sư ở Gia Ðịnh, bà kêu gọi nên phát triển
chùa Dược Sư thành một trường Ni học lớn. Sau khi trường Dược Sư được
thành lập, bà ở lại an cư trong ba tháng. Bà viên tịch năm 1968 tại
Bắc Ninh.
Năm 1957 chính phủ Ngô Ðình Diệm loại Lễ Phật Ðản ra khỏi danh sách
các ngày nghỉ lễ chính thức của quốc gia. Hội Việt Nam Phật Học tại
miền Trung họp Tổng Hội Ðồng lần thứ 25 gồm toàn thể các đạo sư và
đại diện 14 Tỉnh Hội từ ngày 8 tới ngày 11 tháng 3 tại chùa Từ Ðàm,
Huế, (chủ tịch là TT Thích Thiện Minh), lập kiến nghị đặt niềm tin
tưởng vào Tổng Hội Phật Giáo VN và yêu cầu Tổng Hội liên tục và tích
cực can thiệp lên Chính Phủ và Quốc Hội công nhận ngày Phật Ðản là
ngày lễ hợp pháp vĩnh viễn của quốc gia.
Lễ Phật Ðản năm đó được Phật tử khắp nơi tổ chức rầm rộ lớn gấp mười
lần các năm trước từ miền Trung tới miền Nam. Năm 1958, chính quyền
phải công nhận lại ngày Phật Ðản là ngày lễ chính thức của quốc gia.
Năm 1962 Thiền sư Nhất Hạnh viết đoản văn Bông Hồng Cài Áo, trong đó
ông đề nghị nên đưa tục lệ cài một bông hoa trên áo của người Nhật
trong ngày Mother's Day vào nghi thức lễ Vu Lan. Ðoàn Sinh Viên Phật
Tử Sài Gòn chép tay đoản văn này thành hàng trăm bản phổ biến ngay. Lễ
Vu Lan năm này tại chùa Xá Lợi (Sài Gòn), Ðoàn Sinh Viên Phật Tử thực
hiện nghi thức Bông Hồng Cài Áo: những người dự lễ nếu còn mẹ được cài
bông hoa màu hồng trên áo, những người mất mẹ được cài bông hoa màu
trắng. Kể từ đó, lễ Bông Hồng Cài Áo trở thành nghi thức truyền thống
đặc biệt trong lễ Vu Lan của Phật Giáo Việt Nam. Năm 1967, nhạc sĩ
Phạm Thế Mỹ phỏng theo ý văn trong đoản văn trên của Nhất Hạnh, viết
bản nhạc Bông Hồng Cài Áo. Bản nhạc này lập tức được sử dụng trong
nghi thức Bông Hồng Cài Áo của lễ Vu Lan. Tại hải ngoại, nghi thức
Bông Hồng Cài Áo được nhiều bài báo Mỹ ca ngợi về ý nghĩa của nó.
Có thể nói qua việc thực hiện nghi thức Bông Hồng Cài Áo trong lễ Vu
Lan năm 1962 tại chùa Xá Lợi, Ðoàn Sinh Viên Phật Tử đã chứng tỏ được
khả năng tổ chức. Họ sẽ trở thành lực lượng chính làm bùng lớn cuộc
đấu tranh của Phật Giáo từ tháng 5.1963, dẫn tới sự sụp đổ của chế độ
Ngô Ðình Diệm.
Năm 1963 Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 63 khởi đầu là phản ứng của
quần chúng Phật Tử, có sự tham dự và kết hợp đồng bộ của các đoàn thể
Phật Giáo trong cả nước, giới sinh viên học sinh, Giáo sư Ðại Học,
Nhân sĩ trí thức và kết thúc bằng cuộc đảo chính của các tướng lãnh.
Chiều ngày 7 tháng 5, Cảnh Sát Huế đi khắp thành phố thông báo lệnh
cấm treo cờ Phật Giáo và tháo gỡ các cờ này treo tại tư gia và hương
án bên đường. Sau khi có sự chất vấn của tăng già Huế và đồng bào biểu
tình, Thị Trưởng Huế cho loa phóng thanh khắp nơi xác nhận đồng bào
được phép treo cờ Phật Giáo trong lễ Phật Ðản.
Ngày 8 tháng 5, lễ Phật Ðản, đài phát thanh Huế không phát thanh buổi
lễ Phật Ðản vào 8 giờ tối cùng ngày theo lệ thường. Phần gây sôi nổi
trong buổi lễ là lời phát biểu của TT Trí Quang về vấn đề triệt hạ cờ
Phật Giáo. Khi quần chúng được biết có lệnh cấm phát thanh buổi lễ
Phật Ðản, khoảng 6 ngàn đồng bào tập trung biểu tình phản đối tại đài
phát thanh Huế. Trong lúc TT Trí Quang và Tỉnh Trưởng NVÐ đang thương
thảo về việc cho phát thanh buổi lễ trong tối đó thì quân đội dưới
quyền thiếu tá ÐS nổ đạn mã tử và lựu đạn cay tạo nên một cảnh hỗn
loạn, rồi súng trường và xe tăng được sử dụng để giải tán đám biểu
tình. Bác sĩ Erich Wulff, giáo sư người Ðức dạy tại Ðại Học Y Khoa Huế
cho biết có 7 tử thương, trong đó 5 xác trẻ em bị bắn nát đầu trong
nhà xác bệnh viện Huế. Ông đã chuyển được hai tấm hình chụp những xác
này cho vài tờ báo Tây Ðức qua ngả Nam Vang.
Ngày 9 tháng 5, chính quyền loan tin Việt Cộng trà trộn vào đám biểu
tình ném lựu đạn làm 8 người chết, 4 người bị thương. Quân đội tuần
hành trong thành phố, Cảnh Sát túc trực ở các ngã đường, tất cả trong
tư thế sẵn sàng tác chiến.
Ngày 10 tháng 5, các vị lãnh đạo Phật Giáo họp tại chùa Từ Ðàm ( HT
Tịnh Khiết, TT Mật Nguyện thuộc Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, TT Trí
Quang thuộc Hội Phật Giáo VN Trung Phần, TT Mật Hiển đại diện Phật
Giáo Thừa Thiên và TT Thiện Siêu đại diện Tỉnh Hội Phật Giáo Thừa
Thiên) soạn thảo và gởi tới Tổng Thống Diệm bản Tuyên Ngôn 5 điểm về 5
nguyện vọng của Phật Giáo Ðồ yêu cầu chính phủ: thu hồi công điện ra
lệnh triệt hạ cờ Phật giáo, Phật Giáo được hưởng quy chế đặc biệt như
các hội truyền giáo Thiên Chú Giáo, chấm dứt tình trạng khủng bố Phật
tử, cho tăng ni Phật giáo được tự do hành đạo, đền bồi những người bị
chết oan và trừng trị các kẻ chủ mưu. Ngày 15 tháng 5, tại chùa Từ
Ðàm, Bản Phụ Ðính giải thích về 5 nguyện vọng trên được công bố: Phật
Giáo VN không chủ trương lật đổ chánh phủ, PGVN không xem ai là kẻ
thù, không tranh đấu với tư cách một tôn giáo chống một tôn giáo,
tranh đấu theo đường lối bất bạo động cho bình đẳng tôn giáo và công
bằng xã hội; PGVN không chấp nhận bất cứ ai lợi dụng cuộc tranh đấu
này. Cùng ngày, một phái đoàn Phật Giáo tới Dinh Gia Long, yết kiến
Tổng Thống Diệm, trao cho ông bản Tuyên Ngôn Ngạy diểm và trình bày
các giải thích về nguyện vọng của Phật Giáo. Sau 3 giờ trao đổi, Tổng
Thống Diệm đổ lỗi vụ chết người tại Ðài Phát Thanh Huế cho Cộng Sản và
đưa ra vài hứa hẹn mơ hồ. Ngày 16 tháng 5, phái đoàn Phật Giáo họp báo
tại chùa Xá Lợi, công bố Bản Tuyên Ngôn 5 điểm và Bản Phụ Ðính.
Ngày 20 tháng 5, một tài liệu 45 trang liệt kê những vụ đàn áp, bắt
bớ, thủ tiêu Phật tử trong nhiều năm qua được gởi tới chính phủ.
Ngày 21 tháng 5, lễ cầu siêu cho các nạn nhân tại Ðài Phát Thanh Huế
được Hội Chủ Tổng Hội PGVN ra lệnh tổ chức trên toàn quốc. Tại Sài
Gòn, một ngàn tăng ni tập trung tại chùa Ấn Quang rước linh vị các nạn
nhân về chùa Xá Lợi. Trong khi đó 350 tăng ni từ chùa Xá Lợi diễn hành
về Quốc Hội. Tại chùa Từ Ðàm Huế, sau lễ cầu siêu, toàn thể tăng ni
bắt đầu tuyệt thực, có khoảng 2 ngàn Phật tử cùng tham dự.
Ngày 25 tháng 5, HT Tịnh Khiết triệu tập cuộc họp giữa các đại diện
các tổ chức và môn phái Phật Giáo. Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo được
thành lập để chỉ đạo cuộc tranh đấu này, TT Tâm Châu làm Chủ Tịch. Bản
Tuyên Ngôn bày tỏ quyết tâm đoàn kết tranh đấu bất bạo động cho 5
nguyên vọng của Phật Giáo mang chữ ký của 11 đại diện được công bố.
Ngày 31 tháng 5 tăng ni tổ chức tuyệt thực , có quần chúng tham dự.
Ðại diện sinh viên các phân khoa Viện Ðại Học Huế họp tại chùa Từ Ðàm
tung thư ngỏ kêu gọi sinh viên học sinh đoàn kết sau lưng các nhà lãnh
đạo Phật Giáo, đồng thời lập kiến nghị yêu cầu chính phủ giải quyết 5
nguyện vọng chính đáng và tối thiểu của Phật Giáo. Quần chúng biểu
tình và diễn hành ủng hộ 5 nguyện vọng của Phật Giáo ở nhiều nơi. Cư
sĩ Mai Thọ Truyền, Hội Trưởng Hội Phật Học Nam Việt kêu gọi các tỉnh
hội trực thuộc phối hợp với Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tổ chức tranh
đấu tại miền nam. Lực lượng Cảnh Sát và Mật Vụ bao quanh các chùa Xá
Lợi (Sài Gòn), Từ Ðàm, Báo Quốc, Linh Quang (Huế) từ chiều 30 tháng 5.
Ngày 3 tháng 6, Cảnh Sát dùng lựu đạn cay và lựu đạn khói giải tán các
người biểu tình toan tập trung về chùa Từ Ðàm. Từ ngày 4 tháng 6, quân
đội được sử dụng để phong tỏa các chùa thuộc Hội Phật Giáo Việt Nam và
Giáo Hội Tăng Già Trung Việt. tại một số tỉnh miền Nam, các đoàn thể
Phật Giáo bị bắt ép ký tên ủng hộ chánh quyền, các người tình nghi là
lãnh đạo cuộc tranh đấu tại địa phương bị theo dõi, bị bắt, bị tra
tấn.
Ngày 11 tháng 6 HT Quảng Ðức ( Lâm Văn Tức 1897- 1963), Trưởng ban
Nghi Lễ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tự thiêu tại Sài Gòn. Oai nghi của
ông khi lửa cháy xác thân, bức thư để lại mà ông gọi là Lời Nguyện Tâm
Huyết, và nhất là trái tim đã biến thành xá lợi của ông đã làm chấn
động lòng người. Chính phủ phải thành lập Ủy ban Liên Bộ gồm Phó Tổng
Thống Nguyễn Ngọc Thơ và các Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống, Bộ Trưởng Nội
Vụ họp với Phái Ðoàn Phật Giáo do TT Thiện Minh hướng dẫn để giải
quyết ổn thỏa 5 nguyện vọng của Phật Giáo. Sau 3 ngày họp (từ thứ sáu
14 tháng 6 tới trưa chủ nhật 16 tháng 6), một bản Thông Cáo Chung được
công bố.
Chính quyền một mặt trì hoãn việc thực hiện các điều khoản của Bản
Thông Cáo Chung, mặt khác thương lượng với vài tu sĩ Cổ Sơn Môn để
thành lập Tổng Hội Phật Giáo Cổ Sơn Môn đối lập với khối Phật Giáo
tranh đấu. Lực lượng Thanh Niên Cộng Hòa do Cố Vấn Ngô Ðình Nhu làm
thủ lãnh được học tập để sẵn sàng chống lại phong trào Phật Giáo.
Ngày 7 tháng 7, nhà văn Nhất Linh tự tử để phản đối việc chính phủ NÐD
bắt bớ và đưa ông và những nhân sĩ khác ra tòa xử tội đối lập. Ngày 13
tháng 7, khoảng 40 ngàn người dự tang lễ ông. Sinh viên học sinh góp
phần tích cực trong việc tổ chức tang lễ này.
Ngày 16 tháng 8, HT Tiêu Diêu tự thiêu tại chùa Từ Ðàm lúc 4 giờ sáng.
Ðáp lời kêu gọi của lãnh đạo Phật Giáo, toàn thể chợ, trường học, xí
nghiệp, công tư sở tổng đình công. Chính quyền Huế bao vây các chùa,
ban hành lệnh thiết quân luật và giới nghiêm toàn diện. Năm ngàn Phật
Tử túc trực tại chùa Từ Ðàm bảo vệ nhục thân ông vì sợ chính quyền sẽ
cướp đi. Viện trưởng Ðại Học Huế, Linh Mục Cao Văn Luận bị bãi chức vì
phản đối chính phủ. Năm Khoa Trưởng và Giám Ðốc Học Vụ Ðại Học Huế
cùng 30 nhân viên giảng huấn và toàn thể giảng viên Viện Hán Học Huế
ra thông cáo từ chức tập thể. Tại Sài Gòn, Ủy Ban Liên Phái gởi điện
cho Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và các tổ chức Phật Giáo nhiều nước Á
Châu lời kêu gọi can thiệp để chấm dứt sự ngược đãi tôn giáo đã trở
thành dã man.
Ðêm 20 tháng 8, chính quyền sử dụng Lực Lượng Ðặc Biệt tấn công đồng
loạt các chùa tham gia phong trào Phật Giáo trên toàn quốc. Khoảng 250
tăng ni bị bắt trong cuộc tấn công chùa Xá Lợi, nhưng TT Trí Quang đã
trốn qua cơ quan Mỹ USOM ở kế đó và xin tị nạn. Vì các nhà lãnh đạo
Phật Giáo được mật báo từ chiều hôm đó, nên TT Trí Quang có thể thông
báo cho báo chí ngoại quốc về kế hoạch tấn công Phật Giáo này. Mãi tới
sáng ngày 2 tháng 11, ông mới rời khỏi nơi đây trở về chùa Ấn Quang.
Sáng 21 tháng 8, lệnh thiết quân luật được ban hành trên toàn lãnh
thổ, xe phóng thanh và truyền đơn loan báo khắp nơi "chính phủ đã diệt
xong bọn phản động". Trong cuộc họp nội các sáng đó, Tổng Thống Diệm
thông báo về việc đánh chiếm các chùa và bắt giữ "bọn tăng ni làm
loạn". Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu bỏ phòng họp, về cạo đầu và nạp đơn từ
chức. Sau đó ông đi tìm các bạn bè trong giới giáo sư đại học, vận
động thành lập Phong Trào Trí Thức Chống Ðộc Tài. Chiều 21, sinh viên
Trung Tâm Kỹ Thuật bãi khóa. Chiều 22, bác sĩ Phạm Biểu Tâm, Khoa
Trưởng Y Khoa Sài Gòn, nạp đơn từ chức và bị bắt ngay. Nghe tin đó,
toàn thể sinh viên Y Khoa lập tức lên đường một mặt vận động giáo sư
của Viện Ðại Học Sài Gòn từ chức tập thể, mặt khác vận động toàn thể
sinh viên thành lập được Ủy Ban Chỉ Ðạo Sinh Viên Liên Khoa gồm 18
sinh viên đại diện tất cả các khoa. Ngay trong ngày 23, Ủy Ban quyết
nghị bản Tuyên Ngôn gồm 4 điểm yêu cầu chính quyền tôn trọng và bảo vệ
tự do tín ngưỡng, chấm dứt khủng bố Phật Giáo, trả tự do cho những
người bị bắt bớ, giải tỏa các chùa, ban bố tự do ngôn luận. Ủy Ban
được đổi tên thành Ủy Ban Chỉ Ðạo Sinh Viên Và Học Sinh. Bản Tuyên
Ngôn này được công bố sáng ngày 24 trước sự hiện diện của trên 3 ngàn
sinh viên học sinh đón tiếp giáo sư Vũ Văn Mẫu tại trường Luật Khoa
Sài Gòn. Mặc dù ngay trong cuộc biểu tình ngày 25 tháng 8 của sinh
viên,học sinh trước chợ Bến Thành, Cảnh Sát Chiến Ðấu đã bắn vào đám
biểu tình (nữ sinh Quách Thị Trang bị trúng đạn tử thương), học sinh
các trường Kỹ Thuật Cao Thắng, Mỹ Thuật Gia Ðịnh, Chu Văn An, Trưng
Vương, Gia Long liên tục là tiên phong trong phong trào bãi khóa và
tranh đấu. Số học sinh Sài Gòn bị chính quyền bắt tới gần 2 ngàn
người. Phong trào này lan nhanh tới học sinh các tỉnh.
Ðầu tháng 9, chính phủ cử một phái đoàn Dân Biểu do bà Ngô Ðình Nhu
hướng dẫn đi nhiều nước (kể cả Nam Tư) để "giải độc dư luận thế
giới"là chính quyền Ngô Ðình Diệm không khủng bố, không bắt bớ, không
giam cầm, không tra tấn Phật Giáo Ðồ, không kỳ thị đàn áp Phật Giáo.
Tới ngày 1 tháng 11, phái đoàn này vẫn còn ở ngoại quốc.
Ngày 7 tháng 10, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc họp thảo luận về tình
hình Việt Nam và quyết định đề cử một phái đoàn qua điều tra về tình
trạng đàn áp Phật Giáo. Sư ông Nhất Hạnh lúc đó đang ở New York đã chỉ
dẫn cho phái đoàn các phương pháp thu thập được chính xác các sự
kiện. Phái đoàn này tới Sài Gòn rạng sáng 24 tháng 10.
Ngày 1 tháng 11, quân đội đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm. Ngay
từ tháng 7, nhiều nhóm quân đội đã có ý tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng
Thống Diệm.
Ngày 31 tháng 12, các hội đoàn Phật giáo họp tại chùa Xá Lợi thành
lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và soạn thảo bản Hiến
Chương. Các đoàn thể và người đại diện gồm: Ủy Ban liên Phái Phật
Giáo, TT Tâm Châu – Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt, TT Tâm Giác - Thiền
Tịnh Ðạo Tràng, TT Minh Trực – Giáo Hội Nguyện Thủy Việt Nam, TT Pháp
Tri – Giáo Hội Theravada, Lục cả Lâm Em – Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt
tại miền Nam, TT Thanh Thái – Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, TT Huyền
Quang – Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, TT Thiện Hoa – Hội Phật Học Nam
Việt, cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền – Hội Phật Giáo Nguyên Thủy, cư
sĩ Nguyễn Văn Hiếu – Hội Phật Giáo Trung Phần, TT Trí Quang – Hội Việt
Nam Phật Giáo, cư sĩ Vũ Bảo Vinh – Ðại diện Phật tử Theravada, cư sĩ
Sơn Thái Nguyên. HT Thích Tịnh Khiết được suy tôn là Thượng Thủ Hội
Chủ.
Ngày 12 tháng 1. 1964, TT Tâm Châu được bầu làm Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo.
Năm 1966 ngày 21 tháng 10 TT Tâm Châu với tư cách Viện Trưởng Viện Hóa
Ðạo triệu tập Ðại Hội Ðại Hội GHPGVNTN tại Việt Nam Quốc Tự (Sài Gòn).
Chiều ngày 22, Ðại Hội mới duyệt xong chương trình nghị sự. Ba giờ
sáng ngày 23, một số tăng sĩ chức sắc trong GHPGVNTN dưới sự vận động
của TT Trí Quang họp tại chùa Ấn Quang (Sài Gòn) họp thành lập Hội
Ðồng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN, đề cử TT Thiện Hoa làm Viện Trưởng Viện
Hóa Ðạo. Vì Ðại Hội tại Việt Nam Quốc Tự vẫn tiếp tục và thông qua
bản Hiến Chương Giáo Hội mới nên có tới hai Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất dưới ảnh hưởng của TT Trí Quang (Ấn Quang, dùng bản
Hiến Chương 1964) và TT Tâm Châu ( Việt Nam Quốc Tự, dùng bản Hiến
Chương 1966). Những dấu hiệu trầm trọng của sự phân hóa đã bắt đầu
xuất hiện từ tháng 5, tuy chỉ liên hệ tới vài cá nhân lãnh đạo Phật
giáo. Sự phân hóa này trở thành tệ hại hơn khi có những cuộc bạo động
giữa hai phe diễn ra nhắm vào việc nắm quyền sử dụng Việt Nam Quốc Tự.
Sự phân hóa này lan tới các tăng ni sinh du học tại Nhật và các nước
khác. Ða số nghiêng về phe Ấn Quang. Gần 20 năm sau, qua các bản tiểu
sử tự thuật, cả hai vai chủ động trong sự phân hóa này vẫn còn những
lời lẽ không được nhẹ nhàng khi nói về phe bên kia (xin xem các bản tự
thuật này nơi trang nhà Internet www.quangduc.com, phần Nhân Vật Phật
Giáo Việt Nam).
Năm 1971 ngày Phật Ðản (8 tháng 4 âm lịch) thiền sư THÍCH THANH TỪ
(Trần Thanh Từ) khai giảng khóa 1 đào tạo thiền sinh theo đường lối tu
hành mới, tại tu viện Chơn Không, Núi Lớn Vũng Tàu. 10 tăng sinh theo
học. Các tăng sinh được dạy Kinh, Luận Sử theo tinh thần Thiền Giáo
đồng hành, được học các pháp tọa thiền bắt đầu từ đếm hơi thở (sổ
tức). Ðường lối tu của HT Thanh Từ được ông trình bày chủ yếu trong
hai tác phẩm: Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20 ( viết cuối năm 1991)
và Ba Vấn Ðề Trọng Ðại Trong Ðời Tu Của Tôi ( viết đầu năm 1997)
Ông xuất gia năm 1949 (25 tuổi), đệ tử của HT Thiện Hoa. Năm 1961 tập
sự tu Thiền, ẩn tu tại rừng Phương Bối Am, Lâm Ðồng, ngộ đạo trong
thời gian nhập thất tại Vũng Tàu cuối tháng 7.1968 qua tham cứu công
án "không bằng, không trắc", ngay sau đó sáng lý Thiền khi đọc "Thiền
Nguyên Chư Thiên Tập Ðô Tự " của Khuê Phong Tông Mật. Ông đã từng là
giảng sư trong Giảng sư đoàn lưu động tại miền Nam 1953- 1960, Giảng
sư Viện Ðại Học Vạn Hạnh, trường Cao Ðaàu7843?ng Phật Học Huệ Nghiêm
và Phật Học Viện Dược Sư 1964- 1966.
Ðường lối tu Thiền của HT Thanh Từ tổng hợp pháp tu An tâm của Huệ Khả
(tổ Thiền Tông Trung Hoa thứ 2), pháp tu Sáu căn không dính mắc sáu
trần của Huệ Năng (tổ thứ 6 Thiền tông Trung Hoa) và pháp tu Hằng sống
thật với Thiền của Trúc Lâm sơ tổ Trần Nhân Tông. Phương pháp tu gồm 4
chủ đề :1- Biết vọng không theo, 2- Ðối cảnh không tâm, 3- Không kẹt
hai bên, 4- Hằng sống với cái thật không theo cái giả.
Sau giai đoạn khó khăn 1975- 1986 Phật giáo VN phải chịu dưới chế độ
Cộng Sản, hệ thống thiền viện của HT Thanh Từ bắt đầu phát triển từ
1987. Tới nay, hệ thống này đã có 10 thiền viện, trong đó có 2 thiền
viện ở Mỹ ( Ðại Ðăng ở California và Ngọc Chiếu ở Texas). Trụ sở trung
ương là Thiền viện Trúc Lâm, Ðà Lạt. Sinh hoạt của các thiền viện trên
tuân theo Bách Trượng Thanh Quy: sáng lao động, chiều học kinh luận
sử, đầu hôm tụng kinh Bát Nhã, tọa thiền, khuya tọa thiền. Ngoài ra
một số đệ tử của HT Thanh Từ cũng đang làm trú trì tại một số chùa tại
Mỹ nhưng không trực thuộc hệ thống thiền viện trên.
Tại hải ngoại, khoảng 50 tựa sách và rất nhiều băng giảng của HT Thanh
Từ được in và phổ biến rộng rãi qua hệ thống được công bố là phát miễn
phí của cư sĩ Minh Trung Lê Văn Hai và nhiều đệ tử của thầy tại Mỹ.
Hầu hết các trang nhà Internet Việt ngữ tại hải ngoại đều đưa lên mạng
lưới nhiều bài pháp của ông.
Ðường lối tu của HT Thanh Từ có người phê bình là rập khuôn theo Thiền
Trung Hoa, không mang bản sắc dân tộc của Thiền VN, và TT Ðại Lãn cho
rằng lối tu của thầy là lối tu sai lạc nguy hiểm (xin xem các bài của
TT Ðại Lãn trên trang nhà Internet www. daophatngaynay.com). Các đệ tử
tại Mỹ và Canada in và phổ biến sách của ông theo kiểu tràn ngập nên
có vẻ lãng phí và đã giới hạn phần nào hiệu năng hoằng pháp của các
sách.
Năm 1978 Thượng Tọa THIỆN MINH (Trí Nghiễm, 1921- 1978) bị bắt ngày 13
tháng 4 về tội danh "tổ chức chống phá cách mạng", bị công an tra tấn
chết tại số 258 Nguyễn Trãi, Quận 1 Thành phố HCM ngày 17 tháng 10 năm
1978. Ðể che dấu nội vụ, Công An đem thi hài ông ra trại cải tạo Hàm
Tân, Bình Tuy lập hồ sơ khai tử chết vì bệnh. Công An không cho HT Trí
Thủ lãnh xác ông làm lễ mai táng theo nghi thức Phật Giáo.
Trong cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963, ông là Trưởng phái đoàn
Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo họp với Ủy Ban Liên Bộ của chính phủ để
giải quyết năm nguyện vọng của Phật Giáo Ðồ VN về bình đẳng tôn giáo.
Sau đó, ông làm Tổng Vụ Trưởng Thanh Niên rồi Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo
GHPGVN Thống Nhất. HT Mãn Giác ca ngợi ông là một trong những vị lãnh
đạo tài ba nhất của Phật Giáo VN. Sư ông Nhất Hạnh (VNPGSL 3, tr. 252)
ca ngợi tài tổ chức và hành chánh của ông. Là người thông minh và ứng
xử mau lẹ, ông thường được chư tăng đề cử làm chủ tọa trong những buổi
đại hội có nhiều khó khăn. Năm 1949, sau khi Hội An Nam Phật Học tái
hoạt động ở miền Trung, ông được chỉ định xây dựng lại các cơ sở Tỉnh
Hội ở Cao Nguyên và Nam Trung Phần và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
này. Năm 1958- 1962 ông được tôn cử làm Tổng Trị Sự Hội Phật Giáo Việt
Nam
Năm 1983 Sư Ông NHẤT HẠNH (sinh năm 1926, xuất gia năm 16 tuổi) mở
khóa tu mùa hè đầu tiên với 117 thiền sinh tham dự tại Làng Hồng. Làng
Hồng, sau đổi tên thành làng Mai vì trồng nhiều cây mận, được thành
lập vào cuối năm 1982 ở gần tỉnh Bordeax nước Pháp. Gồm 3 nông trại
cách xa nhau, làng Mai bắt đầu với Xóm Hạ cuối tháng 9 năm 82. Hiện
nay làng Mai gồm 7 xóm: Xóm Thượng, Trung, Ðoài (một nông trại) – Xóm
Hạ (một nông trại) – Xóm Mới, Mới Ðầu Thôn, Mới Lưng Ðồi (một nông
trại). Mỗi xóm được thiết trí gần gũi với khung cảnh VN, có một ngôi
chùa thờ Phật Thích Ca và Khương Tăng Hội (được Sư Ông Nhất Hạnh coi
là sơ tổ Thiền Tông Việt Nam). Chi phí điều hành Làng Mai phần lớn
được đài thọ bởi tiền tác quyền các sách của sư ông Nhất Hạnh và lệ
phí thu từ các người tham dự các khóa tu. Có lẽ vì vậy mỗi năm ông đều
ra mắt ít nhất một tác phẩm Anh (thường do Parralax Press xuất bản) và
Việt Ngữ (do Lá Bối xuất bản). Sư cô Chân Không là đệ tử phụ tá đắc
lực của ông và là một nhà quản trị nhiều tài năng qua các giai đoạn
điều hành và phát triển Làng Mai.
Làng Mai thực hiện chương trình 4 năm đào tạo người xuất gia và sau tu
học 5 năm sẽ trở thành Giáo Thọ. Hiện nay làng có 70 giáo thọ xuất gia
và 30 giáo thọ tại gia. Ngoài ra có 700 người ở nhiều nơi gia nhập
dòng tu Tiếp Hiện do Sư Ông Nhất Hạnh chủ xướng. Dòng Tiếp Hiện có 14
giới, ngũ giới thông thường được gọi là 5 chánh niệm, được thành lập
tại Việt nam vào năm 1962 với 6 đệ tử đầu tiên (trong đó có sư cô Chân
Không và Nhất Chi Mai). Tác phẩm Bước Tới Thảnh Thơi do Lá Bối xuất
bản giới thiệu về giới luật của Làng Mai và dòng Tiếp Hiện (bản tiếng
Anh Interbeing , Parallax Press xuất bản).
Sư ông Nhất Hạnh sinh năm 1926, xuất gia năm 16 tuổi. Ông tự học Anh
và Pháp Ngữ từ 1950. Ðầu năm 1964, ông khởi xướng Phong Trào Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội trong giới sinh viên Phật Tử với 2 làng thí điểm
Cầu Kinh và Thảo Ðiền gần Sài Gòn (gọi là làng hoa tiêu). Năm 1966,
chính quyền VNCH không cho phép ông trở về VN và không cho phép xuất
bản các tác phẩm ký tên Nhất Hạnh. Tuy nhiên, nhà xuất bản Lá Bối ở
Sài Gòn vẫn xuất bản nhiều tác phẩm của ông dưới các bút hiệu khác
nhau. Ông được mục sư Luther King ( giải Nobel Hòa Bình 1964) đề nghị
ông là ứng viên tranh giải Nobel Hòa Bình năm 1966. Năm đó không có
ứng viên nào được Quốc Hội Na Uy trao giải này. Năm 1976- 1978, ông nỗ
lực trong việc vận động quốc tế cứu giúp các người tị nạn VN, và đã
thuê tầu ra biển Ðông vớt thuyền nhân lén đưa vào bờ, được ít lâu thì
nhóm của ông bị chính phủ Singapore trục xuất. Ông đã được mời giảng
pháp tại 35 quốc gia, quốc gia sau cùng là Trung Cộng vào năm 1999.
Năm 1983 Ðại giới đàn Thiện Hòa tổ chức từ ngày 2 tới 4 tháng. 1983
tại Phật Học Viện Quốc Tế ở California. Ðây là đại giới đàn đầu tiên
được tổ chức cho giới tử VN tại hải ngoại. Thành phần tam sư gồm có:
HT Huyền Vi (tu viện Linh Sơn, Pháp, Hòa thượng đầu đàn), HT Thiền
Ðịnh (Pháp, Yết Ma A Xà Lê), TT Ðức Niệm ( Phật Học Viện Quốc Tế, Giáo
Thọ A Xà Lê). Bảy tôn chứng sư theo thứ tự: TT Thiện Thanh (chùa Phật
Tổ, California), TT Thắng Hoan (hội Phật Giáo Arizona ), TT Minh Tâm
(chùa Khánh Anh, Pháp), TT Trí Chơn (chùa Vạn Hạnh, California), TT
Nguyên Ðạt (Phật Học Viện Quốc Tế), TT Thiện Trí (chùa Kim Quang,
California) và TT Bảo Lạc (chùa Pháp Bảo, Úc). Trưởng ban tổ chức là
TT Ðức Niệm, giám đốc Phật Học Viện Quốc tế, California. Chứng minh
đạo sư là TT Mãn Giác, Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam,
California.
Giới tử gồm có: 3 nam thọ giới Tỳ Kheo tuổi từ 23 tới 33, 11 nam nữ
thọ giới Sa Di tuổi từ 12 tới 71, 1 nữ thọ giới Thức Xoa Mạt Na, 27
nam nữ thọ Bồ tát giới tuổi từ 20 tới 74.
Trong đại giới đàn này, 5 Ðại Ðức được tấn phong lên Thượng Tọa: Thích
Minh Tâm (chùa Khánh Anh, Pháp), Thích Nguyên Ðạt (Phật Học Viện Quốc
Tế), Thích Thiện Trì (chùa Kim Quang, California), Thích Bảo Lạc (chùa
Pháp Bảo, Úc) và Thích Tín Nghĩa ( Tổ đình Từ Ðàm, Texas). Tác phẩm
Ðại Giới Ðàn Thiện Hòa do Kiêm Ðạt viết, Phật Học Viện Quốc Tế xuất
bản năm 1983 giới thiệu khá rõ về sự kiện này.
Năm 1983 bản nghiên cứu về tôn giáo của Thượng Viện Hoa Kỳ công bố vào
tháng 10.83 cho biết các hệ phái Phật Giáo VN tại hải ngoại gồm có:
Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới – Hội Ðồng Lãnh Ðạo Phật Giáo VN
tại Hải Ngoại – Tổng Hội Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ – Cộng Ðồng Phật Giáo
VN tại Mỹ – Giáo Hội Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ – Giáo Hội Phật Giáo Nam
Tông – Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn ( tại Pháp).
Năm 1984 ngày 11 tháng 11, Ðại Hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam trên Thế giới và thông qua bản Hiến Chương. HT Tâm Châu được suy
tôn làm Thượng Thủ. Cơ quan trung ương với nhiệm kỳ 3 năm gồm Hội Ðồng
Lãnh Ðạo, Ban Chấp Hành và các Tổng Vụ. Hầu hết thành phần Hội Ðồng
Lãnh Ðạo và Ban Chấp Hành là cư sĩ. Tuy nhiên các quyết định của họ
phải được hợp thức hóa bằng giáo chỉ do HT Tâm Châu, được coi là người
có thực quyền. Nhiều cư sĩ liên tục thuyết giảng trong các khóa an cư
kiết hạ của Giáo Hội. Trụ sở trung ương đặt tại Tổ Ðình Từ Quang,
Montréal, Canada.
Giáo hội PGVNTTG chủ trương " tứ chúng Tăng Già" và có một lập trường
chống Cộng rõ rệt.
Năm 1988 ngày 28 tháng 8 Tòa Án Nhân Dân Thành Phố HCM xét xử đại đức
TUỆ SỸ (Phạm Văn Thương), TRÍ SIÊU (Lê Mạnh Thát) và nhiều tăng ni
(trong đó có HT Thích Ðức Nhuận và ni sư Trí Hải) và cư sĩ khác (tất
cả 21 người) về tội danh " tổ chức Lực Lượng Việt Nam Tự Do lật đổ
chánh quyền, lập các mật khu Núi Bể (Bình Tuy), Sông Lanh (Ðồng Nai),
Cây Gáo (Ðồng Nai) tàng trữ lương thực, vũ khí, tài liệu và huấn luyện
quân sự từ giữa năm 77 tới cuối 82 ". Họ bị bắt giam từ ngày 1 tháng
4.84. Ngày 9 tháng 10 Tòa án Cộng Sản tuyên án tử hình Tuệ Sỹ và Trí
Siêu và án tù những người khác. Hai đại đức Tuệ Sỹ và Trí Siêu cương
quyết không xin ân xá. Tuệ Sỹ tuyên bố: Lập trường của chúng tôi là
lập trường của Phật Giáo và Ðại Khối Dân Tộc. Lê Mạnh Thát khẳng định
trước tòa: Chúng tôi tranh đấu cho Tự Do, Nhân Quyền, cho cơm no áo
ấm của đồng bào. Chúng tôi không cần xin một sự khoan hồng nào cả. Các
hội đoàn người Việt và các tổ chức Phật giáo VN tại hải ngoại đã cấp
thời và tích cực vận đọâng được nhiều chánh phủ và nhân sĩ quốc tế làm
áp lực yêu cầu chính quyền Hà Nội phải hủy bỏ hai án tử hình trên.
Ngày 15 tháng 11, nhà cầm quyền VN giảm án Tuệ Sỹ và Trí Siêu còn 20
năm tù, các người khác cũng được giảm án. Ðây là cuộc vận động dư luận
được coi là đoàn kết nhất, cấp thời nhất, tích cực nhất và hiệu quả
nhất của Phật Giáo VN tại hải ngoại.
Ðược giới trí thức Phật Giáo coi là hai nhà sư uyên bác nhất của Phật
Giáo Việt Nam hiện đại, hai đại đức Tuệ Sỹ và Trí Siêu được HT Trí Thủ
giao phó việc biên soạn bộ Bách Khoa Phật Học Ðại Tự Ðiển. Công tác
này tiến hành từ năm 1981 tới 1984 còn ở giai đoạn sưu tập tài liệu
thì hai người bị chính quyền Cộng Sản bắt, tài liệu nghiên cứu bị tịch
thâu. Sau đó không lâu, HT Trí Thủ cũng tịch một cách bí ẩn, dư luận
cho rằng ông bị Công An Cộng Sản đầu độc vì liên hệ thân thiết với Tuệ
Sỹ và Lê Mạnh Thát.
Sau khi được trả tự do năm 1999, Tuệ Sỹ được HT Quảng Ðộ đề cử làm
Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo và tích cực trong nhiệm vụ này, Lê Mạnh Thát
trở về Viện Nghiên Cứu Phật Học miệt mài nghiên cứu kho tài liệu đồ sộ
ông đã cố công sưu tập trong thời gian 1966- 1972 khi du học tại Mỹ và
biên soạn một loạt tác phẩm về lịch sử Phật Giáo VN.
Theo một bài viết của Lý Ðại Nguyên phổ biến trên nhiều tờ báo Việt
ngữ tại Mỹ cuối tháng 1. 2002, sau khi được HT Ðôn Hậu tới thăm và
tường trình về tình trạng bi đát của Phật Giáo tại miền Bắc trong 20
năm dưới chế độ Cộng Sản, HT ÐỨC NHUẬN (Ðồng Văn Kha) vận động một số
tu sĩ trẻ thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Phật Giáo Và Cứu Nguy Dân Tộc. Ngay
sau đó, ông lại vận động giới trí thức và thanh niên thành lập một tổ
chức khác hoạt động biệt lập lấy tên là Lực Lượng Dân Tộc Kháng Chiến
Giải Cứu Việt Nam. Dưới bí danh Lý Vạn Thắng, ông soạn thảo và công bố
bản tuyên ngôn của Lực Lượng này ngày 20 tháng 7. 1977. Nhà cầm quyền
Cộng Sản tuy nghi ngờ về vai trò của ông nhưng không điều tra được nên
kết án ông 10 năm tù, sau đó vì áp lực quốc tế giảm án còn 9 năm tù.
Ông được thả vào năm 1993, có tiếp xúc ngay với HT Huyền Quang (XLTV
Viện Tăng Thống GHPGVNTN) nhưng sau đó lui về chùa Vĩnh Nghiêm viết
sách. Ông tịch vào tháng 1. 2002.
Năm 1989 TT THIỆN THANH ( Không Sắc, Nguyễn Văn Sắc 1935- 1995, sáng
lập chùa Phật Tổ Long Beach, California) mời gọi chư tăng ni và học
giả Phật giáo hải ngoại tham gia dự án phiên dịch Ðại Tạng Kinh ra
tiếng Việt. Ông đề nghị chùa Phật Tổ sẽ đài thọ các chi phí và cung
cấp chỗ làm việc trong công tác phiên dịch này. Lời kêu gọi không được
sự đáp ứng sốt sắng. Ông đành tiến hành việc phiên dịch một mình và
dịch được vài phẩm đầu của bộ kinh Hoa Nghiêm thì tịch. Chùa Phật Tổ
sau đó in hai tập Kinh Hoa NGhiêm do ông dịch và chú giải vào năm
1995. TT Thiện Thanh xuất gia năm 8 tuổi với HT Huệ Hòa tại Phước Long
Cổ Tự ở Sa Ðec, thọ đại giới năm 20 tuổi tại Trung Tâm Ấn Quang, Sài
Gòn. Năm 1965 du học tại Thái lan. Năm 1967 du học tại Ấn Ðộ. Ngoài
các bằng Cao Học Cổ Ngữ và Anh Văn, năm 1976 ông tốt nghiệp Tiến Sĩ
Phật Học tại đại học Magadha Gaya, Ấn Ðộ, với luận án So sánh Trường
Bộ Kinh và Kinh A Hàm. Ông lập chùa Phật Tổ tại Long Beach đầu thập
niên 1980.
Năm 1990, một Hội Ðồng Phiên Dịch Kinh Tạng thuộc Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam được thành lập, bắt đầu xúc tiến việc in các bản dịch Kinh
Tạng Pali ( do HT Minh Châu dịch từ thập niên 60) và các bản dịch kinh
tạng từ Hán Văn (do HT Thiện Siêu cũng dịch từ thập niên 60). Tới nay
đã in xong trọn bộ Kinh Tạng Pali (gồm Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh,
Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ Kinh) do HT Minh Châu và Giáo Sư
Trần Phương Lan dịch, và trọn bộ Kinh Tạng Hán Văn ( gồm Trường A
Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm) do HT Thiện Siêu dịch.
Mặc dù in một ngàn bộ xong đã khá lâu, tới nay nhiều chùa ở trong
nước vẫn chưa đặt thỉnh.
Năm 1994, HT Tịnh Hạnh, một pháp sư tại Ðài Loan bắt đầu tổ chức
một nhóm học giả Việt và Ðài Loan phiên dịch Ðại Tạng Kinh ra tiếng
Việt. Tới nay đã dịch xong 190 tập (trong tổng số dự trù 220 tập của
Ðại Tạng Kinh). Công tác kế tiếp của tổ chức này là xuất bản các tập
trên, hoàn thành việc dịch Ðại Tạng Kinh và dịch tiếp 800 tập Tục Tạng
Kinh. Việc làm này được báo cáo trên trang nhà
www.phapviet.com/linhson. Gần đây HT Tịnh Hạnh lên tiếng kêu gọi mọi
người góp phần cúng dường yểm trợ cho Phật sự vĩ đại này.
Năm 1990 sau nhiều phiên họp sơ bộ, ngày 27 tháng 12, đại hội thành
lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại AÂu Châu họp tại
Kongsvinger, Na Uy. Bản Nội Quy gồm 11 chương, 33 điều được thông qua.
Thành phần lãnh đạo với nhiệm kỳ 3 năm: HT Thiền Ðịnh (chùa Pháp Hoa,
Pháp, Chứng Minh – TT Minh Tâm ( chùa Khánh Anh, Pháp) Trưởng ban Ðiều
Hành – TT Như Ðiển (chùa Viên Giác, Ðức) Tổng Thư Ký – Ni Sư Diệu Tâm
(chùa Bảo Quang, Ðức) Thủ Quỹ...
Năm 1992 tháng 1 (ngày 14 tháng chạp Tân Mùi) tại nơi bị quản thúc ở
xã Vũ Ðoài, Thái Bình, HT THÍCH QUẢNG ÐỘ, với tư cách Tổng Thư Ký Viện
Hóa Ðạo GHPGVNTN, viết xong bản giác thư Nhận Ðịnh Về Những Sai Lầm
tai Hại Của Ðảng Cộng Sản Việt Nam Ðối Với Dân Tộc và Phật Giáo. Ngày
19 tháng 8. 1994, ông gởi bản giác thư này cho Ðỗ Mười, Tổng Bí Thu
Ðảng Cộng sản Việt Nam. Sau ba tháng không được trả lời, theo lệnh của
ông, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (tại Paris, Pháp) thuộc Văn
Phòng II Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN cho phổ biến bản nhận định này vào
tháng 2.1995. Bản Nhận Ðịnh này thực chất là một bản cáo trạng, gồm 2
phần:
1- Ðối với dân tộc, đảng Cộng Sản Việt Nam phạm phải 6 sai lầm tai hại:
Dùng dân tộc VN để truyền bá chủ nghĩa Cộng Sản như một tiền đồn của
phe Xã Hội Chủ Nghĩa làm cho 3 triệu người chết, 4 triệu người bị
thương, nửa triệu trẻ em sinh ra quái thai và tàn phế, hàng triệu tấn
bom và thuốc khai quang tàn phá đất nước mà hậu quả di hại tới nhiều
thế hệ.
Thiết lập chế độ độc tài làm nhân tài thui chột, đất nước nghèo đói,
lạc hậu nhất thế giới.
Kích động căm thù đấu tranh giai cấp bằng chiến dịch đấu tố năm 1956
khiến 700 nghìn người mất mạng và tiêu tài sản.
Chính sách Hợp Tác Xã Nông Nghiệp làm hao tổn bao nhiêu công của sức
lực của nhân dân trong 26 năm (1960- 1986).
Phát động căm thù giai cấp đánh tư sản mại bản tại miền Bắc năm 1954
và miền Nam 1975 làm hàng triệu người phải bỏ trốn ra nước ngoài, nay
lại rước tư bản ngoại quốc vào làm ăn khai thác.
Lấy học thuyết Mác Lê làm nền tảng cho mọi sinh hoạt, bỏ hết và phá
hoại các di sản tinh thần và vật chất của tổ tiên, coi là tàn dư của
phong kiến.
2- Ðối với Phật Giáo Việt Nam Cộng Sản phá hủy hoặc mượn tay Pháp phá
hủy các chùa và truy diệt tăng ni từ thời kháng chiến chống Pháp. Ðến
năm 1954, chính quyền Cộng Sản miền Bắc trưng dụng các chùa và rỡ vật
liệu các chùa làm cơ sở Hợp Tác Xã, làm ngơ cho dân chúng chiếm các
nhà phụ cận của chùa, ngăn cấm tăng sinh tu học, phát động chiến dịch
sư tố sư, tín đồ tố sư. Chính sách này được Cộng Sản áp dụng tại miền
Nam từ năm 1975. Ðảng ra tay thành lập Giáo Hội công cụ cho nhà nước
để hợp thức hóa chủ trương tiêu diệt Phật Giáo.
HT Quảng Ðộ ( Ðặng Phúc Tuệ) sinh năm 1928 tại Thái Bình, xuất gia năm
14 tuổi, từng du học tại Tích Lan và Ấn Ðộ. Làm Tổng Thư Ký Viện Hóa
Ðạo Giáo Hội PGVNTN từ trước 1975. Bị chính quyền Cộng Sản bắt giam
từ tháng 4. 1977 tới tháng 12. 1978. Sau đó vào tháng 2. 1982 bị áp
giải đi quản chế ở Xã Ðoài, Thái Bình. Ngày 22 tháng 3. 1992 ông tự ý
trở về Sài Gòn sau khi thông báo cho Bộ Công An ở Hà Nội. Ngày 20
tháng 4. 1992, Sở Công An Thành Phố HCM ra lệnh trục xuất ông về miền
Bắc, nhưng ông không thi hành, cho tới nay vẫn ở tại Sài Gòn và hoạt
động với tư cách Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo. Ông được các nhà hoạt động
nhân quyền tại nhiều nước đề nghị là ứng viên giải Nobel Hòa Bình năm
2000 và 2001. Sư Ông Nhất Hạnh tôn vinh ông là Bồ Tát Vô Úy. Ông là
dịch giả nhiều tác phẩm Phật Giáo được ưa chuộng như : Phật Quang Ðại
Tự Ðiển ( 9 tập, 7 ngàn trang), Ðại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Tiểu
Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Thoát Vòng Tục Lụy (tiểu thuyết), Dưới
Mái Chùa Hoang (tiểu thuyết).
Năm 1992 HT THÍCH ÐÔN HẬU, Ôn Linh Mụ (Diệp Trương Thuần, 1905- 1992)
viên tịch ngày 23 tháng 4 tại chùa Linh Mụ, Huế. Môn đồ và hiếu quyến
với sự yểm trợ tích cực của các HT Huyền Quang và Quảng Ðộ, cương
quyết không chấp nhận cho nhà nước đứng ra tổ chức tang lễ. Trước hơn
30 ngàn tăng ni và Phật tử hiện diện trong tang lễ ngày 3 tháng 5 tại
tổ đình Linh Mụ, tập thể tăng ni tổ chức lễ trao ấn tín của Giáo Hội
PGVNTN cho HT Thích Huyền Quang, Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo. HT
Huyền Quang khi đó đang bị giam lỏng ở Quảng Ngãi, đã tìm cách hiện
diện trong tang lễ và nhận chức Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống.
HT Ðôn Hậu bị Việt Cộng bắt tại chùa Linh Mụ (Huế) vào dịp Tết Mậu
Thân (17.2. 1968) đưa ra Bắc với mục đích dùng uy tín của ông làm bình
phong cho Giáo Hội Nhà Nước. Mãi tới năm 1976, được phép vào Nam, ông
tìm gặp HT Ðức Nhuận, Cố Vấn Viện Tăng Thống, trình bày thực trạng bi
đát của Phật Giáo tại miền Bắc. HT Ðức Nhuận đã khẩn khoản yêu cầu ông
giúp cho Phật Giáo miền Nam qua được pháp nạn hiện nay. Vì vậy, ông đã
nhận sự tôn cử làm Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống trong Ðại Hội 7
GHPGVNTN ( cuối tháng 1. 1977) và vào năm 1979, ông lại chấp nhận sự
tôn cử của Hội Ðồng Lưỡng Viện làm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống sau
khi Tăng Thống Thích Giác Nhiên viên tịch. Nhờ vậy ấn tín của Giáo Hội
PGVNTN đã được gìn giữ cho tới khi ông viên tịch. Năm 2000, GHPGVNTN
tại Hải Ngoại, theo lệnh của HT Huyền Quang, họp Ðại Hội truy tôn cố
HT Ðôn Hậu chính thức là Ðệ Tam Tăng Thống GHPGVNTN, vì Giáo Hội trong
nước bị khủng bố không có điều kiện họp Ðại Hội để làm việc này. Cũng
vì lý do này, HT Huyền Quang cho tới nay vẫn chỉ là Xử Lý Thường Vụ
Viện Tăng Thống, theo Hiến Chương Giáo Hội năm 1964 ( để phân biệt
Hiến Chương 1966 của Giáo Hội do HT Tâm Châu lãnh đạo).
Chính do sự đôn đốc, thuyết phục của HT Ðôn Hậu mà có Ðại Hội Thống
Nhất Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ họp cuối tháng 9. 1992 tại San Jose,
California. Ðại Hội này thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất Tại
Hoa Kỳ với 4 cơ cấu điều hành: Hội Ðồng Ðại Diện- Hội Ðồng Giám Luật,
Hội Ðồng Giám Sát và Hội Ðồng Ðiều Hành. HT Thích Hộ Giác được đề cử
làm Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành. Theo nghị quuyết củaHội Ðồng Lưỡng
Viện GHPGVNTN trong nước, ngày 10 tháng 12. 92, HT Quảng Ðộ ký quyết
định số 27 VPLV-VHÐ công nhận GHPGVNTN tại Hoa Kỳ là đại diện toàn
quyền GHPGVNTN quốc nội và là Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo trong vô thời
hạn. Nội quy Hội Ðồng Ðiều Hành được ban hành ngày 26.1.93.
Bốn năm sau, tháng 10. 1996, Giáo Hội này họp Ðại Hội Khoáng Ðại kỳ I
tại Phật Học Viện Quốc Tế , California với gần 300 đại biểu tăng ni và
Phật tử thuộc 92 đơn vị tham dự. Ðại Hội lưu nhiệm tất cả các thành
phần thuộc 4 Hội Ðồng và tăng cường thêm một số người. Ðại Hội kêu
gọi: tiếp thu các phương pháp tu học của các truyền thống tu tập thiền
định ở các nước khác nhau như Vipassana (Thiền Minh Sát), Djochen và
Mahamudra (trong Mật giáo Tây Tạng), Chỉ quán hay pháp môn Tịnh độ
Thiền Tịnh song tu.
Năm 2000 26 tháng 6, trên 100 tăng ni VN lần đầu tiên tương hội với
đức Ðạt Lai Lạt Ma. HT Hộ Giác đại diện cho các tăng ni VN, TT Giác
Ðẳng thông dịch. Mở đầu buổi tương hội, tăng ni VN đồng tụng Bát Nhã
Tâm Kinh bằng tiếng Việt, đức Ðạt Lai Lạt Ma và chư tăng Tây Tạng đồng
tụng Tâm Kinh bằng tiếng Tây Tạng. Trong buổi tương hội này, hai bên
đồng ý việc thiết lập một văn phòng liên lạc để củng cố và phát triển
thêm những quan hệ.
Kể từ thập niên 1980, Mật Tông Tây Tạng bắt đầu được Phật Tử VN chú ý.
Ni sư Trí Hải đã dịch ra tiếng Việt nhiều tác phẩm Phật học của các vị
Lạt Ma. Ni sư Như Thủy, một đệ tử kiệt xuất của HT Thanh Từ, theo học
với HT Trạm Nhiên Tịch Chiếu chùa Tây Tạng Bình Dương. Nguyên Phong
cũng dịch một số tác phẩm giới thiệu Huyền Môn Tây Tạng. Trần Ngọc Anh
dịch bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tông là Kinh Ðại Nhật, TT Phụng
Sơn, Nguyên Giác Phan Tấn Hải, Mật Nghiêm, Phương Dung và Pram Nguyễn
viết nhiều bài giới thiệu về Phật Giáo Tây Tạng. Cư sĩ Như Hòa dịch
28 bản kinh Mật Tông phổ biến trên trang nhà Viêtnamese Buddhist Sutra
Hall. Một số chùa VN tại California vàWashington DC cũng thường mời
các vị Lạt Ma làm lễ điểm đạo. Nữ cư sĩ Phương Dung (không phải ca sĩ
Phương Dung) với sự cộng tác tích cực của một nhóm thân hữu, đã tổ
chức hai buổi đức Ðạt Lai Lạt Ma tiếp xúc và thuyết giảng cho đại
chúng Phật Tử VN vào năm 1997 và 2000.Nhiều ngàn Phật tử VN đã tham dự
hai buổi này.
Năm 2000 Từ ngày 1 tới 7 tháng 2, tại chùa ni Kiều Ðàm Di ở vườn
Lâm Tì Ni, Nepal, Ðại Hội Phụ Nữ Phật Giáo Thế Giới họp kỳ 6 với 200
thành viên tham dự. Sư cô Thuần Ðịnh thuộc Thiền Viện Thường Chiếu
(Vũng Tàu) thuyết trình bằng Anh ngữ về đề tài: Người phụ nữ và Ni
chúng Việt Nam trong thời hiện đại. Một số ni sinh Việt Nam du học
tại Ấn Ðộ cũng tham dự Ðại Hội này bằng phương tiện tự túc. Có lẽ đây
là lần đầu tiên Ni chúng Việt Nam có đại diện tham dự Ðại Hội, vì Ðại
Hội 5 họp tại Nam Vang từ 29 tháng 12. 1997 tới 4 tháng 1. 1998 không
có sự tham dự của đại diện Ni chúng Việt Nam.
Trong Ðại Hội kỳ 7 họp tại trường Ðại Học Hoa Phạn ở Ðài Bắc từ 11
tới 17 tháng 7 năm 2002, phái đoàn Ni chúng Việt Nam tham dự gồm 5 ni
sinh du học ở Delhi, Ấn Ðộ và 3 sư cô từ thiền viện Linh Chiếu, Vũng
Tàu. Sư cô Hạnh Huệ thuyết trình về Ni Giới Phật Giáo Việt Nam và sư
cô Minh Huệ trình bày về Bản chất và vị trí của người nữ trong lời dạy
của đức Phật. Hy vọng Ðại Hội 8 năm 2004 sẽ có đại diện Ni giới Việt
Nam tại hải ngoại tham dự.
Hội Phụ Nữ Phật Giáo Thế Giới SAKYADHITA là tổ chức kết hợp các nữ
Phật tử xuất gia cũng như tại gia trên khắp thế giới, thành lập năm
1987. Hội quy tụ hơn 60 ngàn Ni chúng trong số 1.3 triệu hội viên, tổ
chức Ðại Hội mỗi 2 năm tại một trong các quốc gia hội viên.
*TRẦN TRI KHÁCH (tháng 9.2002)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Phạm Văn Sơn (1960), Việt Sử Toàn Thư (viết tắt VSTT),
California: Ðại Nam in lại, không ghi năm tái bản.
2- Nguyễn Quốc Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ Ðiển Nhân Vật Lịch Sử
Việt Nam (viết tắt TÐNVLS), thành phố HCM: nhà xuất bản Văn Hóa in lần
thứ tư, 1997
3- Lê Mạnh Thát , Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (viết tắt LSPGVN),
tập 1, Huế: nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999. Tập 2 , thành phố HCM: nhà
xuất bản thành phố HCM, 2000.
4- Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh (viết tắt TUTA),
thành phố HCM: nhà xuất bản thành phố HCM, 1999.
5- Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Minh Châu Hương Hải (viết tắt MCHH),
thành phố HCM: nhà xuất bản thành phố HCM, 2000.
6- Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông (viết tắt TTTNT), thành
phố HCM: nhà xuất bản thành phố HCM, 2000.
7- Nguyễn Lang (Nhất Hạnh), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận (viết tắt
VNPGSL). Tập 1 (1973), Paris: Lá Bối in lần thứ hai năm 1977. Tập 2,
Paris: Lá Bối, 1978. Tập 3, Paris: Lá Bối, 1985.
8- Trần Hồng Liên, Phật Giáo Nam Bộ từ thế kỷ 17 đến 1975 (viết
tắt PGNB), thành phố HCM: nhà xuất bản thành phố HCM, 1996.
9- Thích Ðức Nhuận , Ðạo Phật và Dòng Sử Việt (viết tắt ÐPVDSV)
10- Kiêm Ðạt, Ðại Giới Ðàn Thiện Hòa, California: Phật Học Viện Quốc Tế, 1983.
11- Thích Mật Thể (1943), Việt Nam Phật Giáo Sử Lược , California:
Phật Học Viện Quốc Tế in lại 1984.
12- Ðông Tiến, Việt Nam 20 Năm 1975- 1995, San Jose: Cơ Sở Ðông Tiến, 1996.
13- Phúc Trung , Lược Sử Gia Ðình Phật Tử, trang nhà Người Cư Sĩ :
http://membres.lycos.fr
14- Cung Ðình Thanh, Nguyễn Văn Tuấn và Nguyễn Ðức Hiệp, Một Vài Ghi
Chép Thêm Về Văn Minh Cổ Và Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam, trang nhà
www.giaodiem.com, tháng 8. 2002.
PHỤ LỤC 1:
CÁC DANH TƯỚNG CỦA HAI BÀ TRƯNG ÐƯỢC THỜ TẠI CÁC ÐỀN MIẾU NƯỚC TA CHO
TỚI NGÀY NAY
(Tham khảo: Ðông Tiến, Nước Tôi Dân Tôi, San Jose: Cơ Sở Ðông Tiến,
1989 - Nguyễn Quyết Thắng & Nguyễn Bá Thế, Tự Ðiển Nhân Vật Lịch Sử
VN, Thành phố HCM: nhà xuất bản TP/HCM in lần thứ 4, 1997 )
- Ðền thờ ở làng Ðồng Nhân, Hà Nội: thờ tượng Hai Bà và tượng
12 vị nữ tướng.
- Ðền Hai Bà Trưng ở huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên (kinh đô Mê Linh cũ).
- Ðền thờ Hai Bà Trưng ở làng Hát Môn, tỉnh Phú Thọ, các đồ
thờ đều sơn màu đen tuyền. Trước đền là bàn thờ bà hàng bán bánh trôi
đã đi theo phò giúp Trưng Vương.
- Các huyện gần sông Hát Giang (sông Ðáy) như Phú Thọ, Thạch
Thất, Quốc Oai tỉnh Sơn Tây có đền miếu thờ các vị anh hùng liệt nữ
thời Trưng Vương như: Thượng Cát, Bạch Hoa Công Chúa, Ðào Khang, Hoàng
Ðạo, Ðỗ Năng Tế, Giám Sát Ðại Vương, Ả Tú, Ả Huyền, Nhất Trung Á, Mai
Thi Trang, Chàng Năm, Nàng Năm, Thủy Hải Công Chúa ...
- Các huyện gần sông Ðáy (Hát Giang) tỉnh Hà Nam như Thanh
Liêm, Kim Bảng có đền miếu thờ các anh hùng thời Trưng Vương như: Cao
Bà Văn Tổ, Hảo Nương, Lưu Nương, Quách Thị, Khoan Nhân Ðại Vương,Vạn
Phúc Phu Nhân, Lê Hằng Nghị, bà Tái Kênh, Linh Bảo Nương, Ngọc Dung
Công Chúa, Ngọc Nhân, Nguyễn Phúc, Nguyễn Dung, Nguyễn Phúc Tính,
Nguyệt Nga, Ông Ðốc, Quỳnh Anh Phu Nhân ...
- Ðền làng Trung Am, tỉnh Hải Dương thờ một vị tướng của Trưng
Vương tử trận ở Lạng Sơn.
- Ðền thờ ông Tam Giang, một tướng giỏi của Hai Bà tại làng
Bần Yên Nhân, tỉnh Hưng Yên.
- Ðền thờ bà Lê Chân ở Ngõ Nghè, Hải Phòng (nên còn gọi là Ðền Nghè).
- Ðền làng Tiên La, tỉnh Thái Bình, thờ bà Bát Nàn ( còn gọi
là Bát Nàn Công Chúa, Bát Nàn Phù Tướng).
- Ðền làng Hiền Quan, tỉnh Phú Thọ thờ bà Hoàng Thiếu Hoa (
còn gọi là bà Thiều Hoa, Ðông Cung Tướng Quân).
- Ở tỉnh Phú Thọ cũng thờ danh tướng Ðô Dương. Ông có công lớn
nhất trong việc giải phóng 65 thành trì năm 39. Năm 43, ông là người
chỉ huy chiến tuyến sau cùng chống lại đại quân của Mã Viện ở Thanh
Hóa sau khi Trưng Vương trầm mình xuống sông Hát.
- Ở Sơn Tây thờ Thị Nội Tướng Quân Phùng Thị Chính và chồng bà
là Ðinh Lượng. Bà Phùng Thị Chính võ nghệ cao cường, đánh giặc hăng
say, sanh con ngay trên mình ngựa, quân địch khâm phục tôn là Mã Thị
Nam Chinh. Khi Trưng Vương trầm mình xuống sông Hát, bà cũng tử tiết.
Chồng bà là Ðinh Lượng, một hào kiệt giỏi võ nghệ theo phò Trưng Vương
cũng bỏ mạng trong trận chiến cuối cùng với Mã Viện
Tại năm tỉnh miền Nam Trung Quốc (Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý
Châu và Tứ Xuyên) có hơn 100 đền miếu thờ các danh tướng của Hai Bà
Trưng, theo kết quả quan sát thực địacủa bác sĩ Trần Ðại Sĩ. Bản báo
cáo này của ông được phổ biến trên trang nhà Internet
www.thuvienvietnam.org mục tạp chí Thư Viện Việt Nam số 3. Vùng đất
này, trong nhiều thế kỷ qua, chiến tranh xảy ra liên miên, gương hào
hùng hẳn nhiên phải có mà đền miếu thì không sao tránh khỏi bị tàn
phá,sụp đổ. Nếu các anh hùng liệt nữ thời Trưng Vương không tạo được
chiến công hiển hách, oai hùng, sẽ chẳng ai nghĩ tới chuyện tu bổ lại
đền miếu để thờ phượng tới ngày nay.
Thời Trưng Vương là thời thịnh trị của nhà Hán, sau khi Hán
Quang Vũ thống nhất được Trung Quốc. Mã Viện (17 BC- 44) là một tướng
giỏi, nhiều kinh nghiệm chiến trường của nhà Hán, vậy mà ông phải
chuẩn bị lực lượng từ mùa xuân năm 42 tại các Quận phía Nam Trung
Quốc và phải một năm sau mới hoàn thành cuộc tấn công. Một điểm cần
nói thêm: Mã Viện thọ 62 tuổi, cho nên không có chuyện ông cầm quân
đánh bại Trưng Vương vào năm 70 tuổi như ghi trong một số sử sách nước
ta.
PHỤ LỤC 2:
BƯỚC ÐẦU ÐẠO PHẬT DU NHẬP VÀO NƯỚC TA
Vì quan niệm lầm lẫn cho rằng nước ta bắt đầu có văn hiến
là nhờ hai thái thú Tích Quang (năm 2) và Nhâm Diên (năm 24), lại thấy
kinh điển Phật Giáo và nghi thức tụng niệm ở nước ta mang gốc gác chữ
Hán, một số đáng kể các nhà biên khảo Phật giáo kết luận vội vã là đạo
Phật du nhập vào nước ta từ Trung Quốc, bắt đầu vào thời Sĩ Nhiếp
(cuối thế kỷ 1).
Thực ra mãi tới năm 67, khi vua Hán Minh Ðế (58- 76) nằm mộng thấy
người vàng, cận thần Trương Nghị giải thích người vàng thân thể có hào
quang bay trên không đó là người đắc đạo ở nước Thiên Trúc gọi là
Phật; vua mới cử một phái đoàn qua nước Ðại Nhục Chi thỉnh được kinh
Tứ Thập Nhị Chương và mời được hai vị tăng Ma Ðằng Ca Diếp và Trúc
Pháp Lan. Trong mấy thế kỷ đầu, hoạt động của Phật Giáo Trung Quốc chủ
yếu là dịch kinh, xây chùa. Mãi tới năm 258 sư Châu Tử Hàng khai đàn,
giảng kinh Bát Nhã ở kinh đô Lạc Dương, việc giảng pháp cho đại chúng
Trung Quốc mới bắt đầu.
Ở nước ta, người Phật tử đầu tiên là Chử Ðồng Tử, đời Hùng Vương thứ
18 (chấm dứt vào năm 258 BC) được nhà sư Phật Quang (còn gọi là sư
Bần, người gốc Ấn Ðộ) truyền pháp, trao cho cây gậy và chiếc nón. Tích
này được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái. Chử Ðồng Tử được thờ ở đền
Trung, trong cụm đền thờ vua Hùng tại núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ và
ở phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Chử Ðồng Tử là thương gia buôn bán
đường sông, quen biết nhiều. Sau khi truyền pháp cho vợ là công chúa
Tiên Dung, hai người bỏ hẳn việc buôn bán mà lo mở rộng việc truyền
pháp.
Mặt khác, cũng có những bằng cớ về việc phái đoàn truyền giáo dưới sự
hướng dẫn của Sona và Uttara do vua A Dục phái đi đã tới nước ta. Nhân
dân ta đã dựng tháp tại thành Nê Lê ở núi Mẹ tại Ðồ Sơn để tạ ơn vua A
Dục (269 BC- 232 BC) đã truyền Phật pháp tới Luy Lâu. Cho tới những
năm 380- 420, những người lượm củi ở vùng núi Mẹ (Mẫu Sơn) còn thấy
tháp này. Thiền sư Mật Thể trong Việt Nam Phật Giáo Sử Lược (tr.69)
cho biết từ năm 245 BC Trung Quốc và Ấn Ðộ đã giao thương với nhau qua
cửa ngõ nước ta. HT Ðức Nhuận trong Ðạo Phật Và Dòng Sử Việt: vào thế
kỷ 3 BC, phong trào di dân rộng lớn tại Ấn từ Kalinga sang phía Ðông
rồi xuống Nam vì "cơn sốt " mua bán vàng có thể đưa một số tăng sĩ Ấn
Ðộ theo thuyền buôn tới nước ta. Có thể sự thông thương giữa Ấn Ðộ và
nước ta đã xảy ra trước đó khá lâu. Năm 135 BC, Hoài Nam Vương Lưu An
dâng thư can ngăn vua Hán đừng đem quân đánh Nam Việt, có viết: Từ
thời Tam Ðại, đất Hồ đất Việt không theo lịch pháp Trung Quốc. Thời
Tam Ðại gồm nhà Hạ (2140 BC- 1711 BC), nhà Thương hay nhà AÂn (1711
BC- 1066 BC) và nhà Chu (1066 BC- 256 BC). Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN
1) và Nhất Hạnh (VNPGSL 1), thời đó nước Văn Lang theo lịch pháp Ấn Ðộ
(năm có 4 mùa, 12 tháng, tháng có 30 ngày).
Sự kiện dân ta gọi Thích Ca là BỤT, phổ thông trong ca dao còn truyền
tụng tới ngày nay, là bằng chứng vững chắc khác cho thấy Phật Giáo du
nhập vào Việt Nam trước tiên qua ngả Ấn Ðộ. Phật là một từ do pháp sư
Trung Quốc Huyền Tráng tạo ra khi dịch kinh Phật vào thế kỷ 7. Lê Mạnh
Thát ( Lịch Sử Phật Giáo VN tập 1) còn đi xa hơn, đưa ra giả thuyết
Lục Ðộ Tập Kinh trước tiên được dịch từ chữ Phạn qua chữ Việt cổ,
Khương Tăng Hội đã tham chiếu bản dịch chữ Việt này để dịch qua chữ
Hán.
Bằng chứng nữa: khi vua Tùy Văn Ðế (589- 601) phục hưng đạo Phật Trung
Quốc rồi, muốn truyền bá Phật pháp tới Giao Châu, sư Ðàm Thiên tâu :
Giao Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc.Khi đạo Phật mới tới
Giang Ðông chưa đầy đủ thì ở Luy Lâu của Giao Châu đã có hơn 20 ngôi
bảo sát (chùa), độ được hơn 500 vị tăng, dịch 15 cuốn kinh. Năm 255,
Khương Tăng Hội (sau khi thọ đại giới tại nước ta) vào đất Ðông Ngô,
lập am tranh thờ tượng Phật, bị quan chức Trung Quốc cho là kỳ lạ báo
cho vua Ðông Ngô là Tôn Quyền. Nếu đạo Phật đã có mặt tại đây vào thời
điểm này, có lẽ Khương Tăng Hội không bị những thử thách có thể mất
mạng mới được phép hoằng dương Phật pháp.
Phật Giáo tại nước ta đã có chùa Liên Trì đã được xây từ thời Hùng
Vương ( trước 258 BC). Năm 544, vua Lý Nam Ðế dựng chùa Khai Quốc trên
nền cũ của chùa Liên Trì. Chùa Trúc Viên ở núi Sài Sơn (tỉnh Sơn Tây)
đã có mặt từ thời tể tướng Lữ Gia của nhà TRiệu (năm 110 BC). Ngôi
chùa đầu tiên tại Trung Quốc là chùa Bạch Mã ở kinh đô Lạc Dương xây
cất khoảng năm 68 để làm chỗ Ma Ðằng Ca Diếp và Trúc Pháp Lan chứa
kinh và dịch kinh do ngựa trắng chở từ nước Ðại Nhục Chi về.
Năm 39, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng đứng lên đánh đuổi tên
thái thú nhà Hán tàn bạo Tô Ðịnh, sư cô Thiều Hoa rời khỏi chùa, mộ
được 500, trở thành tướng tiên phong của Trưng Vương. Trưng Vương dẹp
xong 65 thành trì, thâu hồi độc lập cho đất nước, sư cô Thiều Hoa lại
trở về chùa làng Hiền Quan tiếp tục tu. Bà sinh năm 3, xuất gia năm 16
tuổi sau khi cha mẹ đều mất. Bà tịch năm 40. Năm 43, sau trận đánh
cuối cùng ở Cẩm Khê, Hai Bà trầm mình xuống sông Hát, cuộc khởi nghĩa
của TRưng Vương chấm dứt, một số tướng lãnh của Hai Bà nương mình nơi
cửa Phật. Trong đó có Bát Nàn Phu Nhân. Tướng nhà Hán là Mã Viện tiến
hành một cuộc thanh trừng quy mô, thậm chí bắt lưu đày dân cả một vùng
Ðông Việt vào đất Giang Hoài và tìm bắt các người có khả năng lãnh đạo
mà y gọi là "chủ soái" lưu đày ra Linh Lăng. Phật Giáo nước ta thời đó
hẳn có tổ chức chặt chẽ mới che chở được những tăng ni mới và tồn tại
được sau chiến dịch đồng hóa quy mô và gắt gao của Mã Viện, một kẻ
chưa hề nghe nói tới Phật.
Như vậy Ni giới nước ta đã có mặt từ trước năm 39. Hẳn nhiên khi sư
cô Thiều Hoa (còn gọi là Hoàng Thiếu Hoa) rời chùa đi cứu nước mà chỉ
trong thời gian ngắn mộ được 500 quân thì phải hiểu là đạo hạnh của bà
đã có sức thuyết phục đại chúng từ trước đó. Tại Trung Quốc, mãi tới
năm 429 mới có một ni đoàn từ Tích Lan tới Kiến Nghiệp học chữ Hán để
hướng dẫn ni chúng người Hoa.
Tăng đoàn nước ta cho tới cuối thế kỷ 2 đã được phát triển khá mạnh.
Các đại sư và kinh sách của trung tâm Luy Lâu ít nhất đã đào tạo được
hai nhân vật kiệt xuất là Mâu Tử và Khương Tăng Hội.
Mâu Tử (khoảng 160- khoảng 230) người Thương Ngô, ham đọc đủ loại
sách, thường đem Ngũ Kinh của Nho giáo ra vặn hỏi các Nho gia. Năm
180, thiên hạ loạn lạc, Mâu Tử đưa mẹ tới Giao Chỉ lánh nạn. Có lẽ ông
bắt đầu để ý tới Phật pháp tại Luy Lâu từ năm 183. Năm 26 tuổi về
Thương Ngô cưới vợ, lộ trình dài tới 5 ngàn dặm. Ít lâu sau mẹ mất,
nghĩ thời thế nhiễu nhương, bèn dốc chí nghiên cứu đạo Phật tại Luy
Lâu. Ông viết Lý Hoặc Luận năm 198 để trả lời những người quen biết
chỉ trích ông phản bội Nho mà theo Phật. Theo Lê Mạnh Thát (Tổng tập
Văn Học Phật Giáo Việt Nam 1, tr. 26) Lý Hoặc Luận từng là sách gối
đầu giường của giới học Phật ở Trung Quốc và Nhật Bản. Ðây là sáng tác
lý luận Phật Giáo đầu tiên bằng Hán văn, trình bày khả năng của Phật
Giáo có thể thay thế Nho Giáo trong mọi lãnh vực xử thế.
Khương Tăng Hội (khơảng 200- 280) sinh ra, lớn lên, xuất gia và được
thọ giới theo nghi thức "Tam Sư, Thất Chứng"tại Giao Châu. Mối liên hệ
thầy trò trong tăng đoàn thắm thiết tới mức nhiều năm sau khi ba thầy
tịch, Khương Tăng Hội vẫn còn thương tiếc. Tại Trung Quốc, tới năm 258
sư Ðàm Ma Ca La từ Trung Ấn tới Lạc Dương tổ chức truyền giới theo
nghi thức "Tam Sư Thất Chứng", nghi thức này mới được bắt đầu tại
Trung Quốc. Năm 247 Khương Tăng Hội chống gậy, vân du qua Ðông Ngô
(Trung Quốc) hoằng pháp. Pháp sư An Thế Cao, dịch giả kinh An Ban Thủ
Ý, ca ngợi ông là người giảng kinh Thiền xuất sắc. Năm 258, vua Ðông
Ngô Tôn Lâm phá chùa, giết sư, bị Tôn Hạo giết rồi nối ngôi. Khương
Tăng Hội góp công lớn phục hồi Phật Giáo Ðông Ngô. Tại Ðông Ngô, ông
dịch 14 quyển kinh ra Hán văn, trong đó có Lục Ðộ Tập Kinh. Sư ông
Nhất Hạnh suy tôn Khương Tăng Hội là tổ Thiền Tông Việt Nam, mặc dù
phần đóng góp chính yếu của ông là cho Phật Giáo Trung Quốc.
Khương Tăng Hội không phải là thí dụ duy nhất cho thấy từ khởi nguyên,
Phật Giáo VN đã là chỗ dựa của Phật Giáo Trung Quốc. Ðầu thế kỷ 4,
nhiều tăng sĩ Trung Quốc tìm đến chùa Tiêu Sơn ( Bắc Ninh) cầu học về
Tịnh Ðộ, sau đó trở về Trung Quốc hoằng dương pháp môn này. Sư Ðàm
Thiên (542- 607) sau khi thâu đạt về Duy Thức Học và Nhiếp Ðại Thừa
Luận tại Luy Lâu đã giúp vua Tùy Văn Ðế phục hồi Phật Giáo Trung Quốc.
Tóm lại, từ khởi nguyên Phật Giáo du nhập vào nước ta từ Ấn Ðộ. Phật
Giáo Ấn Ðộ đã truyền tới nước ta trước khi tới Trung Quốc. Trong những
thế kỷ đầu, Phật Giáo VN đã là chỗ dựa cho Phật Giáo Trung Quốc.
*TRẦN TRI KHÁCH
Năm 2879 BC- 258 BC niên đại theo truyền thuyết thuộc họ HỒNG BÀNG.
Niên đại này gây nhiều bàn cãi trong giới sử học hiện đại.
Phạm Văn Sơn (VSTT, tr. 46) cho rằng họ Hồng Bàng bắt đầu vào thế kỷ 9
BC, khi một nhà quý tộc họ Mị thống nhất một số thị tộc Việt lên làm
vua, bắt chước các vua Sở lấy chữ Hùng làm hiệu. 18 đời Hùng Vương bắt
đầu từ Kinh Dương Vương.
Bùi Thiết ( Ðối Thoại Sử Học, nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, 2000)
lập luận một đời vua Hùng khoảng chừng 30 năm nên thời Hùng Vương
khoảng chừng 5 thế kỷ là vừa (!). Nghĩa là trước thế kỷ 6 BC, đất nước
ta không có lịch sử !
Cả hai lập luận trên bị các cuộc khai quật khảo cổ học bác bỏ. Di chỉ
Ðồng Vườn ở Yên Mô Ninh Bình được khai quật vào đầu tháng 8. 2002 tìm
được một số đồ gốm thô có hoa văn, rìu, bàn mài niên đại khoảng 1500
BC. Di chỉ này cùng hai di chỉ Hang Sáo và Hang Cò ở thị xã Tam Ðiệp
(Ninh Bình) thuộc nền văn hóa Ða Bút có niên đại từ thiên niên kỷ 5
tới thiên niên kỷ 3 BC.
Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1) đưa ra giả thuyết mỗi đời vua Hùng thực ra gồm
nhiều người nối nhau làm vua, nên trung bình một đời vua Hùng kéo dài
130 năm là điều có thể chấp nhận. Giả thuyết này của ông là cách sử
gia Tầu áp dụng khi viết cổ sử. Theo Cổ sử Trung Hoa, đời Thần Nông
kéo dài 193 năm không phải chỉ có một vua Thần Nông mà do 4 vua kế tục
nhau: vua Nghi (2889- 2884 BC), vua Lai (2843- 2794 BC), vua Ly (2795-
2751 BC), vua Du Võng (2752- 2696 BC). Theo Lê Mạnh Thát, triều đại
Hùng Vương kéo dài tới vị vua cuối cùng là Trưng Vương (39- 43). Ông
còn trích dẫn một báo cáo của Lưu An (mất năm 122 BC) ghi trong Tiền
Hán Thư, theo đó từ thời Tam Ðại ( gồm nhà Hạ 2140 BC- 1711 BC, nhà
Thương hay nhà AÂn 1711 BC- 1066 BC và nhà Chu 1066 BC- 256 BC) dân
Việt đã không chịu dùng lịch pháp Trung Quốc. Ông và Nhất Hạnh (VNPGSL
1) đều cho rằng vào thời Hùng Vương, tổ tiên ta dùng lịch pháp Ấn Ðộ
(một năm có 4 mùa, 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày). Ông cũng giải mã bài
Việt Ca được Lưu Hướng (77 BC- 6 BC) ghi trong Thuyết Uyển và khẳng
định ít nhất từ thế kỷ thứ 4 BC, tiếng Việt đã là một ngôn ngữ có chữ
viết tương đối hoàn chỉnh, tuy có liên hệ với tiếng Trung Quốc.
Dựa trên những công bố của ngành khảo cổ, Cung Ðình Thanh, Nguyễn Văn
Tuấn và Nguyễn Ðức Hiệp ( tài liệu tham khảo 14) cho rằng trước khi
tiếp xúc với người Hoa Hán (Trung Quốc), tổ tiên chúng ta đã có một
nền văn minh cao do kết quả của 3 sáng chế quan trọng: trồng lúa nước,
kỹ thuật hàng hải và kỹ thuật xây dựng đô thị. Trình độ đồ đồng của
nền văn minh Ðông Sơn tuy xuất hiện muộn (khoảng 700 BC) nhưng kỹ
thuật rất cao vì có pha chì tạo độ bền dai đặêc biệt mà các di chỉ đồ
đồng ở những nơi khác không có. Fritj Capre trong tác phẩm The Tao of
Physics cho rằng nếu giải mã hoàn toàn những hoa văn trên trống đồng
Ðông Sơn, người ta có thể thấy đó là nền văn minh tinh thần cao nhất,
gần với nền văn minh hậu nguyên tử. Khoảng 60 ngàn năm trước, những di
dân đầu tiên tới vùng Ðông Nam Á. Vùng này trải qua những đợt nước
biển lên xuống. Trong khoảng thời gian giữa hai thời kỳ băng hà (40
ngàn năm – 21 ngàn năm trước) khí hậu phía Bắc ấm, những người hiện
đại mới di chuyển lên Trung Quốc. Khoảng 30 ngàn năm tới 18 ngàn năm
trước, mực nước biển thấp hơn bây giờ tới 130 mét, đồng bằng sông Hồng
nối liền tới đảo Hải Nam. Sau đó nước biển bắt đầu dâng mỗi năm 1 cm.
Khoảng 8 ngàn năm trước, trận hồng thủy cuối cùng xảy ra nhận chìm
toàn bộ đồng bằng Bắc Việt dưới nước biển lan tới tận Việt Trì. Tới
5500 năm trước, nước mới rút, con cháu những người di tản các nơi từ
núi non và hải đảo mới trở về miền đất phì nhiêu xây dựng nước Văn
Lang. Câu chuyện Lạc Long Quân lấy AÂu Cơ đẻ ra trăm trứng, nở ra trăm
con rồi chia tay nhau người lên rừng kẻ xuống biển có lẽ là huyền
thoại hóa sự kiện di tản rồi trở về này của các bộ tộc Bách Việt. Như
vậy họ Hồng Bàng có thể còn xuất hiện sớm hơn niên đại theo truyền
thuyết 2879 BC, vì đồng bằng Bắc Bộ đã được tổ tiên ta tái định cư từ
hơn 5 ngàn năm về trước.
Năm 563 BC dựa vào sử ký nước Tích Lan, niên đại được đa số sử gia
Phật giáo chấp nhận là năm sinh của thái tử Tất Ðạt Ða, người sau này
trở thành Phật Thích Ca. Các niên đại quan trọng khác: năm 536 BC xuất
gia tìm chân lý, năm 528 BC bắt đầu truyền bá giáo pháp tại thành
Vương Xá (Ràjagaha) là kinh đô hùng mạnh nhất Bắc Ấn và thành lập giáo
hội, năm 483 BC nhập Niết Bàn.
Năm 269 - 232 BC Triều đại vua A DỤC (Asoka Moriya). Năm 253 BC nhà
vua bảo trợ Ðại Hội Kết Tập Kinh Ðiển lần thứ 3 dưới quyền chủ tọa của
Trưởng Lão Moggaliputta với cả ngàn tỳ kheo tham dự. Trong 9 tháng làm
việc, Ðại Hội đi tới hai quyết định quan trọng: 1- công nhận một số
kinh điển trước đây đã bị loại bỏ ra ngoài khối kinh điển nguyên thủy
của Thượng Tọa Bộ, 2- Chấp nhận các tác phẩm có tính lý luận học thuật
vào bộ thánh điển, gọi là Luận A-tỳ-đàm hay Thắng Pháp; Luận Tạng được
công nhận là thánh điển Phật giáo kể từ đây, trở thành Tạng thứ ba
trong Tam Tạng Kinh Ðiển Phật Giáo. Theo một vài tài liệu khác (như
Thích Phước Sơn, Lịch Sử Kết Tập Kinh Ðiển), Ðại Hội Kết Tập Kinh Ðiển
lần ba xảy ra vào năm 325 BC, vì được ước tính sau khi Phật nhập Niết
Bàn 218 năm.
Vua A Dục còn cử nhiều phái đoàn chư tăng đi hoàng pháp ở nước ngoài.
phái đoàn đầu tiên do hoàng tử Mahinda hướng dẫn tới Tích Lan (Sri
Lanka). Nhờ đó kinh tạng Pali được bảo tồn gần như nguyên vẹn tại đây
cho tới ngày nay. Một trong những phái đoàn truyền giáo do vua A Dục
cử đi do Sona và Uttara hướng dẫn có thể đã tới vùng Ðông Nam Á và
nước ta. Cho tới những năm từ 380 tới 420, những người đi lượm củi ở
vùng Ðồ Sơn còn thấy chùa và tháp do dân địa phương dựng tại thành Nê
Lê để tưởng nhớ công đức của vua A Dục. Tháp này tại núi Mẹ (Mẫu Sơn)
ở Ðồ Sơn. Sau này, tháp Long Tường do vua Lý Thánh Tông (1054- 1072)
xây trên nền tháp cũ . Theo HT Ðức Nhuận (ÐPVDSV), trong tám bài thơ
xưa Ðồ Sơn Bát Vịnh, hai câu đầu củabài thứ 5: Cổ tháp di hư loạn thảo
đôi, Dục vương khứ hậu ủy yên đồi. (Tháp xưa lau cỏ tốt bời bời, Vua
Dục đi, vua sau cũng đổ luôn).
Các sắc dụ của vua A Dục khắc trên đá thường phù hợp với ngôn ngữ địa
phương để dân nơi đó có thể hiểu được. Vì vậy, phái đoàn truyền giáo
của vua A Dục đến nước ta hẳn đã được học ngôn ngữ xứ Văn Lang để có
thể tiếp xúc với dân địa phương một cách thuận tiện.
Lúc đó, theo truyền thuyết, nước ta thuộc đời Hùng Vương thứ 18 (chấm
dứt vào năm 257 BC) và nhà Thục (257 BC- 207 BC). Sử gia Lê Mạnh Thát
cho rằng nhà Thục là một triều đại không có thực, chỉ là một truyền
thuyết xuất hiện khoảng năm 400 phỏng theo bản anh hùng ca Mahàbharatà
của Ấn Ðộ (LSPGVN 1, tr. 602). Danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cũng đã nêu lên
từ giữa thế kỷ 19 và Ngô Tất Tố đặt thành vấn đề trên báo Tao Ðàn ngày
1 tháng 3.1935 về vấn đề không có nhà Thục trong sử Việt.
Thế kỷ 3 – Thế kỷ 2 BC nhà sư PHẬT QUANG ( còn gọi là sư Bần, gốc Ấn
Ðộ) lập bàn thờ Phật tại một hang núi ở núi Mẹ (Ðồ Sơn), tu và tịch
tại đây vào cuối đời Hùng Vương. Hiện nay, nơi đây có ngôi chùa gọi là
chùa Hang. Khi CHỬ ÐỒNG TỬ ghé thuyền vào núi Quỳnh Viên (núi Mẹ hay
Mẫu Sơn, ở Ðồ Sơn) để lấy nước ngọt, gặp ông, được ông truyền pháp,
trao cho gậy và nón. Chử Ðồng Tử nhận lãnh, về truyền pháp lại cho vợ
là công chúa Tiên Dung. Hai người được coi là Phật tử đầu tiên tại
nước ta. Sự tích này đầu tiên được Trần Thế Pháp, một danh sĩ đời Trần
ghi lại trong tác phẩm Lĩnh Nam Trích Quái. Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1)
cho rằng núi Quỳnh Viên ở Cửa Sót, Nghệ An, một vùng lúc đó chưa thuộc
nước ta. Theo HT Ðức Nhuận (ÐPVDSV), bảo tháp do dân địa phương dựng
để ghi nhớ công ơn đoàn truyền giáo của vua A Dục và hang núi sư Phật
Quang tu cùng ở tại núi Mẹ (Mẫu Sơn) tại Ðồ Sơn.
Công chúa Tiên Dung con vua Hùng Vương thứ 18 (theo Lê Mạnh Thát,
LSPGVN 1, có thể thuộc đời vua Hùng Nghị Vương, đời Hùng Vương thứ
17), vì lấy Chử Ðồng Tử một anh đánh cá nghèo tới mức phải chia chung
cái khố với bố, bị vua cha trục xuất cả hai ra khỏi nước. Hai vợ chồng
lập phố xá buôn bán để sanh sống, lênh đênh ra khắp nước ngoài. Sau
này, Chử Ðồng Tử được thờ ở Ðền Trung trong hệ thống Ðền Hùng ở núi
Nghĩa Lĩnh tỉnh Phú Thọ. Tại phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên cũng có đền
thờ Chử Ðồng Tử.
Các sử sách đời trước đều nhất quán cho rằng thời Hùng Vương chấm dứt
vào khoảng năm 257 BC, sau khi bị Thục Phán đánh bại. Giả thiết như
vậy, sự kiện Chử Ðồng Tử được sư Bần (sư Phật Quang) truyền pháp có
thể xảy ra trước thời vua A Dục ở Ấn Ðộ lên ngôi. Phái đoàn truyền
giáo của vua A Dục có mục đích tìm đến đại chúng để giáo hóa theo Phật
pháp, nên không thể chọn một hang núi vắng vẻ để tu như sư Phật Quang.
Vào thời Hùng Vương, thành Luy Lâu (nay thuộc Bắc Ninh) là một trung
tâm thương mại đón nhận nhiều thương gia Ấn Ðộ. Các tăng sĩ Ấn Ðộ đi
theo các thuyền buôn này đem sinh hoạt Phật giáo đến nước ta. Chùa Yên
Trì (nay thuộc Hà Nội) có lẽ được xây vào thời kỳ này.
HT Thích Ðức Nhuận (ÐPVDSV) cho rằng vào thế kỷ 3 BC, có phong trào di
dân rộng lớn tại Ấn từ xứ Kalinga sang phía Ðông và xuống phía Nam, có
thể đưa một số tăng sĩ Phật giáo Ấn tới nước ta. TT Thích Mật Thể
(VNPGSL tr. 69) dẫn theo Sylvain và Pelliot cho rằng Trung Quốc và Ấn
Ðộ giao thương với nhau từ năm 245 BC qua cửa ngõ đất Văn Lang làm
trung gian.
Năm 110 BC năm cuối cùng của nhà Triệu (207- 110 BC), thời tể tướng LỮ
GIA nắm quyền. Trong Thiên Nam Ngữ Lục, thiền sư Chân Nguyên (1646-
1726) đề cập tới chùa Trúc Viên ở núi Sài Sơn, Sơn Tây đã có từ thời
này. Trước đó, từ thời Hồng Bàng đã có chùa Yên Trì ở Long Biên (Hà
Nội), sau này bị hư hại nặng, năm 544 vua Lý Nam Ðế dựng chùa Khai
Quốc trên nền chùa này.
Năm 39- 43 triều đại HAI BÀ TRƯNG. Năm 39 Hai Bà khởi nghĩa đánh đuổi
Tô Ðịnh, dành được quyền tự chủ cho Giao Chỉ. Bà HOÀNG THIẾU HOA
(3- 40) tu tại chùa Phúc Khánh (nay là chùa làng Hiền Quan ở tỉnh Phú
Thọ) từ năm 16 tuổi, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng, rời khỏi
chùa mộ được 500 nghĩa binh. Bà trở thành tướng tiên phong của Hai Bà
Trưng. Sau khi Trưng Vương dẹp yên 65 thành, bà Thiều Hoa trở lại chùa
tu và một năm sau thì tịch. Bà đươc xưng tụng là Diệt Bạo Tướng Phật
(LSPGVN 2, tr.26). Hành trạng của bà Thiều Hoa cho thấy lý tưởng Bồ
Tát nêu trong Lục Ðộ Tập Kinh "Bồ tát thấy dân kêu ca, bèn gạt lệ xông
vào nơi hà khắc" đã được biết tới và thực hành từ thời này.
Theo Phạm Văn Sơn (VSTB), Trưng Vương chỉ đánh dẹp 56 thành, chứ không
phải 65 thành như tất cả các sử gia khác xưa cũng như nay đã ghi. Theo
Phạm Cao Dương, trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nông dân đã
đứng lên chống lại bọn quan lại bóc lột và kiều dân nhà Hán chạy loạn
Vương Mãng (9- 24) qua cướp ruộng đất của họ (Thực Trạng Của Giới Nông
Dân VN Dưới Thời Pháp Thuộc, Sài Gòn, Khai Trí xuất bản 1967)
Theo Hậu Hán Thư ( của Phạm Việp 398- 445): sau khi chuẩn bị từ hơn
một năm trước, Mã Viện huy đọâng hơn 2 ngàn chiến thuyền và 2 vạn
quân, tổng tấn công tàn sát quân của Trưng Vương, chém giết và bắt hơn
5 ngàn người. Vào thời này, theo Hán Thư Ðịa Lý Chí, nước ta có chừng
92,440 nóc gia. Hai Bà Trưng trầm mình xuống sông Hát tự vẫn năm 43.
Cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương chấm dứt. Một số bộ tướng của Hai Ba
sống sót có thể lánh mình nơi cửa Phật, một người được sử sách ghi lại
là BÁT NÀN PHU NHAÂN (nữ tướng Tiên La, được thờ ở đền làng Tiên La,
Thái Bình). Thời Hai Bà Trưng có nhiều nữ tướng nên Ni giới nước ta có
thể coi như đã có mặt từ lúc này. Tại Trung Quốc mãi tới năm 429, có
một phái đoàn mấy chục ni từ nước Tích Lan đến Kiến Nghiệp (phía Nam
Trung Quốc) học chữ Hán để hướng dẫn các nữ tu người Hán.
Có ít nhất là 64 bộ tướng của Hai Bà Trưng còn được thờ cho tới ngày
nay tại nhiều đền ở miền Bắc (trong đó tượng Hai Bà Trưng và tượng 12
nữ tướng được thờ chung ở đình làng Ðồng Nhân, Hà Nội) cho thấy tính
cách vĩ đại, oai hùng của cuộc khởi nghĩa Trưng Vương. Bác sĩ Trần Ðại
Sỹ có dịp quan sát thực địa tại 5 tỉnh phía Nam Trung Quốc (Quảng
Ðông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu và Tứ Xuyên) cho biết tại đây có
hơn 100 đền miếu thờ các tướng lãnh của Hai Bà Trưng. Theo cuộc nghiên
cứu của ông, cuộc khởi nghĩa Trưng Vương có 162 anh hùng phò giúp,
trong đó hơn 100 người là nữ ( xem bài tường trình của ông nơi Thư
Viện Việt Nam số 3, trang nhà Internet: www. thuvienvietnam.com)
Sau khi đại thắng Trưng Vương, Mã Viện dù đã mệt mỏi sau hai cuộc
chinh chiến liên tiếp từ Bắc tới Nam Trung Quốc, vẫn đi kinh lý khắp
cõi Giao Chỉ, tiến hành một cuộc đồng hóa gắt gao và toàn diện dân
Giao Chỉ về pháp luật, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội (VSTT, tr.
114- 115). Chắc chắn Phật giáo Việt Nam cũng chịu một pháp nạn chung
với nạn nước trong giai đoạn này khi Mã Viện muốn xóa bỏ triệt để toàn
bộ nền văn hóa nước ta để thay thế bằng văn hóa nhà Hán Trung Quốc (
chẳng hạn Mã Viện sửa đổi 10 điều luật trong bộ Việt luật, dùng phép
Hán để đổi tục Việt, đày dân Việt vào vùng Giang Hoài làm cho đất Ðông
Việt trở thành trống trơn, vây bắt hàng trăm người lãnh đạo Việt tộc
mà y gọi là "cừ soái"đưa đi đày ở Linh lăng, thu gom hết trống đồng để
đúc ngựa ...).
Vào thời Mã Viện, Phật giáo chưa truyền vào Trung Quốc. Mãi tới năm
67, Trung Quốc mới biết đến Phật giáo sau khi Hán Minh Ðế nằm mộng
thấy "người vàng", đã cử một phái đoàn 18 người qua nước Ðại Nhục Chi
( ở giữaBắc Ấn và Trung Quốc) rước tượng Phật về thờ và các vị tăng Ma
Ðằng Ca Diếp, Trúc Pháp Lan qua kinh đô Lạc Dương. Học giả Phật học
Henri Maspero cho rằng câu chuyện giấc mộng "người vàng" trên do đời
sau bịa ra và Phật giáo xuất hiện tại trung tâm Lạc Dương muộn màng
hơn năm 67.
Năm 189 KHAÂU ÐÀ LA chống gậy vân du đến Giao Chỉ, lúc nước ta bị đô
hộ dưới thời Hán Linh Ðế, Sĩ Nhiếp làm Thái Thú Giao Chỉ. Ðời Hán có 3
trung tâm Phật giáo là Trung tâm Luy Lâu ở Giao Chỉ, Trung tâm Bành
Thành và Trung tâm Lạc Dương. Trung tâm Luy Lâu được xem là bàn đạp
đưa đạo Phật vào đất Hán vì các tăng sĩ Ấn Ðộ có thể học chữ Hán hay
tuyển người thông dịch tại đây. Trung tâm Bành Thành do các tăng sĩ từ
Luy Lâu đến mà thành lập. Sách Cao Tăng Truyện ghi lại lời sớ của
Vương Ðộ đời Tấn: Từ khi Phật giáo được du nhập, người Hán không được
phép xuất gia. Nhà Ngụy (220- 264) theo pháp chế của nhà Hán cũng chưa
cho dân bản xứ xuất gia. (VNPGSL 1, tr.23).Thời Sĩ Nhiếp, Giao Chỉ là
một xứ sở phồn thịnh: một năm lúa trồng hai mùa, 8 lứa kén tằm,
Theo Lĩnh Nam Trích Quái: Khâu Ðà La là người Nam Ấn, hành pháp tu
đứng một chân, theo lời mời đến ở nhà cư sĩ Tu Ðịnh. Con gái của Tu
Ðịnh là Man Nương lúc đó 12 tuổi theo hầu hạ sư. Một thời gian sau, sư
từ giã vào núi tu. Tu Ðịnh dẫn Man Nương đi theo, tiếp tục đem rau
trái cúng dườngsư, có khi sai Man Nương đi. Tới tuổi cập kê, Man Nương
không chồng mà chửa. Thai đến 14 tháng, sinh ra bé gái, Man Nương bồng
con đến chỗ sư ở, bảo là con Khâu Ðà La. Khâu Ðà La nhận con, đặt vào
một cây đại thọ mở ra, cây liền khép lại. Sau này nước lụt ,cây đổ
trôi về thành Luy Lâu thì dừng lại. Vì những thần kỳ xảy ra, Sĩ Nhiếp
cho tạc 4 tượng Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Ðiện từ cây
đó, lập 4 chùa Thiền Ðịnh, Thành Ðạo, Phi Tướng vàTrí Quả để thờ. Man
Nương được gọi là Phật Mẫu. Tượng Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,
Pháp Ðiện và Man Nương sau này được thờ tại chùa Dâu (chùa Pháp Vân),
làng Khương Tự Bắc Ninh cho tới ngày nay. Các vua đời Hậu Lê (thế kỷ
15) mỗi khi hạn hán, thường cho rước Phật Pháp Vân về kinh đô để cầu
mưa, thường linh ứng. Chùa Pháp Vân cũng là nơi xuất phát dòng thiền
Tỳ Ni Ða Lưu Chi khi ông tới đây truyền pháp và truyền tâm ấn cho Pháp
Hiển.
Sự tích Phật Pháp Vân còn được ghi lại trong tác phẩm Nôm Cổ Châu Pháp
Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục và Lĩnh Nam Trích Quái.
Chùa Dâu được xây cất lại vào năm 1161 đời Lý Anh Tông. Năm 1313, vua
Trần Anh Tông cho trùng tu chùa, giao phó Mạc Ðĩnh Chi thực hiện,
dựng tháp Hòa Phong cao 9 tầng. Chùa còn được trùng tu vào năm 1675.
Năm 1738 đời Lê Ý Tông, thiền sư Tính Mộ tái thiết lại tháp trên nền
đổ nát cũ và tái thiệt chùa. Năm1793 và 1917 chùa lại được trùng tu.
Năm 1946 Việt Minh bắt HT Thích Ðại Hải, trú trì chùa Pháp Vân, kết
tội là đảng viên Quốc Dân Ðảng và đem xử tử. Lễ hội chùa Dâu có 11 xã
trong tổng Khương Tự Bắc Ninh tham dự từ ngày 8 tới 10 tháng 4 AÂL.
Hiện tượng thờ Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Ðiện là bản địa
hóa Phật giáo, một khuynh hướng tất nhiên khi đạo Phật ở thời kỳ quyền
năng, hội nhập vào một xã hội đã có một nền văn hóa rõ rệt như nước
ta. Cũng là hiện tượng bản địa hóa Phật Giáo khi vị anh hùng phá tan
giặc AÂn vào đời Hùng Vương thứ 6 trở thành Phù Ðổng Thiên Vương (hay
Sóc Thiên Vương vì bay lên trời ở núi Sóc Sơn,theo truyền thuyết) thay
thế Tỳ Sa Môn Thiên Vương là một trong Tứ Ðại Thiên Vương trấn giữ
phía Bắc cõi Diêm Phù Ðề, và Quán Thế AÂm Bồ Tát trở thành Quan AÂm
Nam Hải. Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 1), hiện tượng bản địa hóa Phật
Giáo xảy ra sau thời Trưng Vương, như một phản ứng của Phật Giáo VN
trước sự đàn áp của Mã Viện.
Năm 198 MAÂU TỬ (160- 230) viết Lý Hoặc Luận. Ðây là sáng tác bằng Hán
văn đầu tiên về Phật giáo, từng là sách gối đầu giường của giới học
Phật ở Trung Quốc và Nhật Bản. Mâu Tử dẫn mẹ qua Giao Chỉ tị nạn vào
thời Tam Quốc, lúc Trung Quốc nhiễu loạn khắp nơi. Ông là người học
rộng hiểu nhiều, không sách gì không đọc, đã từng bỏ ra 3 năm tu luyện
phép tiên (tịch cốc trường sinh bất tử). Giao Châu lúc đó có trung tâm
Phật giáo Luy Lâu, với hơn 20 ngôi chùa, độ được hơn 500 tăng, dịch
được 15 cuốn kinh. Người dân trồng hoa Uất Kim Hương để cúng Phật.
Nhưng đa số trí thức Trung Quốc tới Luy Lâu lánh nạn đều học phép tịch
cốc để luyện trường sinh bất tử ( Mâu Tử cho biết có tới mấy ngàn trăm
thuật). Mâu Tử làm quen với Phật pháp từ năm 183 và tiếp thu một cách
nghiêm chỉnh tại trung tâm Luy Lâu có lẽ vào khoảng năm 194 (VNPGSL
1). Sau khi mẹ mất, ông rút lui khỏi chính sự, dốc chí nghiên cứu đạo
Phật. Ông viết Lý Hoặc Luận để trả lời những người chỉ trích ông phản
bội Nho theo Thích (Phật giáo). Sự có mặt của Lý Hoặc Luận chứng tỏ
Phật giáo Giao Chỉ thời đó đã chinh phục không những đại chúng bình
dân mà cả giới trí thức Nho gia nữa, vào thời Nho học bắt đầu suy yếu.
Lý Hoặc Luận gồm 37 điều: 5 điều đầu giải thích tổng quát về Phật
giáo, 23 điều phản bác các luận cứ của Nho gia về Phật giáo, 9 điều
nhận xét về Ðạo gia. Lý Hoặc Luận khẳng định: Trung Quốc chưa hẳn là
trung tâm của trời đất, Ngũ kinh chưa hẳn là lời của thánh hiền; bản
chất đạo Phật là ở nhà có thể đem ra mà thờ cha mẹ, giúp nước có thể
đem mà trị dân, sống một mình có thể đem mà tu thân. Lý Hoặc Luận được
Lê Mạnh Thát dịch và giới thiệu trong Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt
Nam tập 1 ( Nhà xuất bản TP/HCM năm 2001).
Vào giai đoạn này, tăng đoàn đã được thành lập tại Giao Chỉ, với các
lễ truyền giới có "tam sư, thất chứng". Khương Tăng Hội đã được truyền
giới xuất gia như vậy. Tại Trung Quốc, mãi tới năm 250 mới có Ðàm Ma
Ca La từ Trung Ấn qua làm lễ truyền giới xuất gia theo nghi thức " tam
sư thất chứng". Nghi thức truyền giới này là quy định trong các đại
giới đàn Phật giáo Việt Nam cho tới ngày nay.
Có thể cũng ở thời đại này, một sản phẩm nổi tiếng của trung tâm Luy
Lâu được thương gia Trung Quốc và Ấn Ðộ ưa chuộng là giấy, có phẩm
chất cao trắng mà không nát khi bỏ xuống nước. Nghệ nhân Luy Lâu cũng
đã khắc in trên mộc bản bằng gỗ cây Thị.
Năm 247 KHƯƠNG TĂNG HỘI, một nhà sư gốc Ấn Ðộ, qua Trung Quốc hoằng
pháp. Ông sinh ra, lớn lên, xuất gia và tu học tại Giao Châu (năm 203,
thái thú Sĩ Nhiếp trình xin đổi tên Giao Chỉ thành Giao Châu). Ông là
nhà sư hoàn toàn được đảo tạo tại Giao Châu. Ông tới kinh đô Kiến
Nghiệp của nhà Ðông Ngô hoằng pháp, có đem theo một tượng Phật. Ông
thông thạo tam tạng Kinh, hiểu thấu 6 kinh nền tảng của Nho giáo lại
giỏi khoa ăn nói và nghệ thuật viết lách nên đã làm hưng thịnh Phật
pháp tại đất Ðông Ngô, một vùng trước đây chỉ có vài nhà sư dịch kinh.
Ông tịch vào năm 280, đã dịch nhiều kinh tạng từ Phạn văn qua chữ Hán,
soạn cuốn nghi thức Nê Hoàn Bối âm điệu réo rắt, trầm buồn và xây dựng
nhiều chùa tháp. Trong 14 quyển kinh ông dịch, bản dịch Lục Ðộ Tập
Kinh được coi là đỉnh cao sự nghiệp dịch thuật của ông. Một số nhà
biên khảo Trung Quốc cho rằng bộ kinh tập Lục Ðộ Tâp Kinh do ông sáng
tác. An Thế Cao (người dịch kinh An Ban Thủ Ý ra Hán Văn) tán dương
Khương Tăng Hội là người truyền dạy Kinh Thiền. Các kinh về Thiền như
An Ban Thủ Ý và Ấm Tri Nhập do An Thế Cao dịch được ông diễn giải theo
tinh thần Ðại Thừa. Sư ông Nhất Hạnh suy tôn Khương Tăng Hội là tổ
Thiền Tông Việt Nam. Với tác phẩm Nê Hoàn Bối, ông là một trong những
người đầu tiên đặt nền móng cho lễ nhạc Phật giáo Trung Quốc.
Lục Ðộ Tập Kinh gồm 91 truyện tích, mỗi truyện có những trích dẫn kinh
nói về lục độ ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định và trí tuệ) xếp thành 8 quyển. Ba quyển đầu nói về bố thí, mỗi
quyển sau nói về một độ còn lại ( VNPGSL 1,tr. 76). Truyện 68 đặc biệt
nêu lý tưởng Bồ Tát dấn thân: Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ,
xông mình vào nơi hà khắc cứu dân khỏi lầm than. Lê Mạnh Thát (LSPGVN
1) cho rằng Khương Tăng Hội dịch Lục Ðộ Tập Kinh ra Hán văn từ một bản
tiếng Việt cổ, không phải từ nguyên bản tiếng Phạn. Khương Tăng Hội có
thể còn chủ động trong việc phục hồi Phật giáo ở Ðông Ngô sau khi Tôn
Lâm (231- 258) ra lệnh phá chùa, chém sư vào năm 258, vài tháng trước
khi y bị Tôn Hưu giết. Vua Ðường cho họa hình ông và treo tại chùa Từ
AÂn, nơi Tam Tạng Pháp Sư Huyền Tráng dịch kinh, vì công nhận ông là
nhà dịch kinh của TRung Quốc.
Cũng năm 258 ở Trung Quốc, Châu Tử Hàng khai đàn giảng kinh Bát Nhã ở
kinh đô Lạc Dương. Việc giảng kinh cho đại chúng ở Trung Quốc bắt đầu
từ đó.
Năm 248 BÀ TRIỆU (TRIỆU TRINH NƯƠNG, Triệu thị Trinh, 225- 248) cùng
anh là Triệu Quốc Ðạt khởi nghĩa chống lại thứ sử Giao Chỉ là Lục Dận,
nhà Ðông Ngô. Cuộc khởi nghĩa tuy chỉ kéo dài 6 tháng nhưng đủ oanh
liệt làm khiếp đảm quân Ðông Ngô. Sau vì thứ sử Lục Dận tìm cách mua
chuộc các bộ tộc Giao Châu nên lực lượng kháng chiến của bà trở thành
quân ít thế cô, bà phải rút lui về đất Thanh Hóa rồi tự sát. Theo
Thiên Nam Ngữ Lục của thiền sư Chân Nguyên, có thể các nhà sư Giao
Châu được bà Triệu nhờ qua Ðông Ngô trong một sứ mạng nào đó. Mộ bà
Triệu và đền thờ bà tại núi Sơn Trang, Thanh Hóa. Dân chúng địa phương
tới nay vẫn gọi bà là Vua Bà. Theo nhà văn Trần Ðại Sỹ, dân 5 tỉnh
miền Nam Trung Hoa tiếp giáp nước ta, cũng tôn vinh Bà Trưng là Vua
Bà.
Năm 425 ÐÀM HOẰNG từ miền bắc Trung Hoa tìm tới chùa Tiêu Sơn, Bắc
Ninh tu học và chuyên trì kinh Vô Lượng Thọ và Thập Lục Quán, pháp môn
Tịnh Ðộ. Ông tự thiêu năm 455. Ông giúp cho tín ngưỡng A Di Ðà phát
triển mạnh ở nước ta trở thành phong trào, đến mức có những nhà sư
Trung Quốc đã tìm đến Giao Châu để tu học pháp môn này tại trung tâm
Phật giáo Tiêu Sơn.
Vào thời ông, nghệ thuật chùa Tiên Sơn (ở núi Tiên, cửa Tây thành Long
Biên) bắt đầu phát triển mà nét đaàu7841?c sắc là biểu tượng Phật qua
hình ảnh hoa sen nằm giữa lá Bồ Ðề thay vì hình tượng người.
Trong suốt chiều dài lịch sử Phật Giáo nước ta, Tịnh Ðộ không đứng
biệt lập như ở Trung Quốc hay Nhật Bản. Vua Lý Thánh Tông (1023- 1072)
dù là đệ tử truyền thừa đời thứ nhất của thiền phái Thảo Ðường, vẫn
sai tạc tượng A Di Ðà bằng đá ở Tiên Du Bắc Ninh rất độc đáo. Trong
tác phẩm Khóa Hư Lục, vua Trần Thái Tông (1225- 1258) viết hẳn một
chương Niệm Phật Luận. Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Ðăng (1647- 1726) dù
là truyền thừa của cả hai dòng Thiền Lâm Tế lẫn Trúc Lâm và được xưng
tụng là người phục hồi dòng Thiền Trúc Lâm, vẫn viết 3 tác phẩm về
Tịnh Ðộ trong số 14 tác phẩm của ông còn được truyền lại tới nay.
Năm 454- 455 sáu lá thư trao đổi giữa LÝ MIỄU (một sứ quân xưng vương
ở Giao Châu) và hai vị thiền sư ÐẠO CAO và PHÁP MINH (được ông coi là
thầy) về vấn đề nếu Phật đầy quyền năng, tại sao không thấy Phật hiện
ra ở đời ?. Vào thời này ở Trung Quốc, sư Huệ Viễn thuộc phái Tịnh Ðộ
ở Lô Sơn xướng lên thuyết "bất kỉnh vương" (tăng ni không cần làm lễ
hay xưng mình là thần tử trước vua chúa).
Sáu lá thư nói trên là một khám phá vô cùng quan trọng của Lê Mạnh
Thát, được ông dịch ra tiếng Việt trong LSPGVN tập 2, tr. 417- 431.
Sáu lá thư này cung cấp những nét đậm về:
1- Về nghệ thuật : từ nửa đầu thế kỷ V, nghệ thuật chùa Tiên Sơn
đã tượng trưng đức Phật qua hình ảnh hoa sen nằm giữa lá bồ đề.
2- Về âm nhạc: xác nhận sự hiện diện của "ca tán tụng vịnh". Trên
bệ đá chùa Tiên Sơn có khắc 10 vị nhạc thần chơi 9 nhạc cụ đàn dây
hoặc ống. Trước đó trống đồng và khánh đá đã xuất hiện.
3- Về văn học: sáu lá thư là những tác phẩm văn học xưa nhất tại
nước ta được phát hiện. Như vậy văn học nước ta phải khởi đầu ít ra là
từ thời điểm này, không phải chỉ từ thế kỷ 10 như quan điểm đại đa số
các nhà biên soạn văn học sử ở cả hai miền Nam Bắc.
4- Về lịch sử Phật giáo: lá thư thứ 4 của Ðạo Cao mô tả Phật tử
nước ta hoaàu7841?c ngồi thiền trong rừng, tu đức cạnh thành thị, cung
kính chắp tay hay ca hát ngâm vịnh. Như vậy tu thiền và tu tịnh, tu
phước và tu huệ đã xuất hiện đồng thời vào giai đoạn này.
5- Về lịch sử chính trị: Lý Miễu (được Ðạo Cao và Pháp Minh gọi là
sứ quân) là thái thú Giao Châu muốn trở thành tự trị. Sự liên hệ giữa
ông và hai đại sư Ðạo Cao, Pháp Minh giới thiệu khả năng vận động
chính trị của các nhà sư Giao Châu trong giai đoạn nước ta bị đô hộ.
6- Về lịch sử tư tưởng: nêu vấn đề đâu là cơ sở cho giá trị lịch
sử của những lời khẳng định trong kinh Phật, đồng thời xác định học
thuyết Nho và Mặc đang tranh nhau nổi lên ở nước ta.
Vào thời này, Luy Lâu là một trung tâm hoằng pháp lớn, góp phần quan
trọng vào việc phục hưng Phật Giáo tại Trung Quốc sau này. Năm 456 sư
Huệ Lâm viết Quân Thiên Luận chủ trương xã hội hóa Phật Giáo, dung hòa
tư tưởng Phật với Nho, được gọi là Hắc Y Tể Tướng, bị giới nho sĩ
chống đối. Triều đình Trung Quốc trục xuất ông qua Giao Châu, nơi đây
ông sống cho tới cuối đời.
Năm 542- 607 niên đại ÐÀM THIÊN. Ông quê ở Thái Nguyên (Trung Quốc),
chuyên nghiên cứu các kinh Hoa Nghiêm, Duy Ma, Lăng Già. Gặp thời Bắc
Chu bên Tầu hủy diệt chánh pháp, ông tìm đến phương Nam (trung tâm Luy
Lâu), học về Duy Thức, Nhiếp Ðại Thừa Luận và rất tâm đắc về hai bộ
luận này. Phương Bắc dứt pháp nạn, ông trở về quê hương mở trường dạy
các bộ luận Nhiếp Ðại Thừa Luận, Khởi Tín Luận và kinh Lăng Già.
Không bao lâu trở thành nổi tiếng. Ông giúp vua Văn Ðế nhà Tùy(589-
601) chấn hưng Phật Giáo Trung Quốc, xây chùa dựng tháp khắp nơi. Khi
vua Tùy Văn Ðế muốn truyền bá Phật pháp qua Giao Châu, ông tâu: Giao
Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc; khi Phật pháp mới tới Giang
Ðông chưa đầy đủ thì ở Luy Lâu đã có 20 ngôi bảo sát (chùa), độ được
hơn 500 vị tăng, dịch được 15 cuốn kinh. Ông ca ngợi Pháp Hiền Thượng
Sĩ là người trong hàng bồ tát.
Tiểu sử của Ðàm Thiên được ghi trong Cao Tăng Truyện là một trong
nhiều bằng chứng cho thấy ảnh hưởng hỗ tương trong quan hệ giữa Phật
Giáo Việt Nam và Trung Quốc. Phật Giáo Việt Nam trong truyền thống
không phải đơn thuần là bản sao của Phật Giáo Trung Quốc. Có những
giai đoạn Phật Giáo Việt Nam trở thành chỗ dựa cho Phật Giáo Trung
Quốc.
Năm 544: LÝ BÔN xưng đế, lấy hiệu là Lý Nam Ðế, đặt tên nước là Vạn
Xuân. Thuở nhỏ, mẹ con ông cư ngụ tại chùa Bảo Phúc được sự giúp đỡ
của vị sư trụ trì là Triệu Quang Hành. Nhà sư sai cháu ông là Triệu
Quang Phục hầu hạ, giúp đỡ.
Một trong những việc làm đầu tiên của Lý Nam Ðế sau khi lên ngôi là
dựng chùa Khai Quốc trên nền chùa cũ Yên Trì có từ thời Hồng Bàng, ở
Long Biên (Hà Nội). Nhà Tiền Lý trải qua 3 đời vua. Năm 602 vua Lý
Phật Tử chết, con là Sư Lợi nối ngôi, bị tướng Lưu Phương của nhà Tùy
tấn công và bị bắt. Giao Châu lại bị Trung Quốc đô hộ kể từ đây, từ
nhà Tùy (602- 617) tới nhà Ðường (618 - 907). Sách Việt Ðiện U Linh:
sau khi vua Lý Nam Ðế chết vì bệnh năm 546, người trong nước chỗ nào
cũng lập đền thờ.
Năm 580: thiền sư TỲø NI ÐA LƯU CHI đến nước ta thời vua Lý Phật Tử,
truyền pháp ở chùa Pháp Vân ( chùa Dâu ngày nay, ở Bắc Ninh), khai mở
dòng thiền Pháp Vân ( còn gọi là dòng thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi). Ông là
người miền bắc Ấn Ðộ, một vùng tôn sùng Phật giáo Ðại Thừa chuyên về
thiền định, đến kinh đô Trường An, Trung Quốc, năm 574 vào đời vua Tùy
Dương Ðế. Ộng được Tăng Xán (tổ thứ 3 Thiền Tông Trung Hoa) ấn chứng
và khuyên nên đi về phương Nam mà hoằng hóa. Do đó, ông tìm tới nước
ta.
Ông dịch hai quyển kinh quan trọng là Tượng Ðầu Tinh Xá và Ðại Thừa
Phương Quảng Tổng Trì. Như vậy Thiền Việt Nam dù chủ trương không bị
ràng buộc vào ngôn ngữ nhưng ngay từ đầu chưa từng khinh khi văn tự.
Thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi chú trọng nhiều về thực hành, nặng ảnh hưởng
Ðại Thừa của Ấn Ðộ, trong đó có tính thần bí của Mật Tông. Theo Nhất
Hạnh (VNPGSL 1), Tỳ Ni Ða Lưu Chi dùng danh từ "tâm ấn" sớm nhất. Tâm
ấn dùng trong kinh Ðại Nhật (bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tông) có
nghĩa là tinh yếu mật ý của kinh này.
Kinh Tượng Ðầu Tinh Xá dạy 10 phép thiền quán nội ngoại để trừ chấp
trước, mang mầu sắc văn học Bát Nhã, nói về bản chất của giác ngộ qua
các vấn đề: ai tu Bồ Ðề, ai được Bồ Ðề, lấy thân hay lấy tâm mà chứng
để được Bồ Ðề, Bồ Ðề ( sự giác ngộ) là gì? Kinh Tượng Ðầu Tinh Xá
thuộc hệ Bát Nhã, được Tỳ Ni Ða Lưu Chi dùng làm căn bản hành thiền
cho dòng thiền Pháp Vân.
Kinh Ðại Thừa Phương Quảng Tổng Trì là một kinh về Mật giáo, nêu lên
những lời răn đe các Phật tử ưa chỉ trích lẫn nhau. Lê Mạnh Thát đã
dịch hai bản kinh này ra tiếng Việt (LSPGVN 2, tr. 729- 771). Ảnh
hưởng của Mật giáo trong dòng thiền Pháp Vân trở thành mạnh mẽ hơn vào
thời nhà Ðinh và Tiền Lê sau này.
Tỳ Ni Ða Lưu Chi truyền tâm ấn cho Pháp Hiển, người trước đó đã học
thiền với sư Quán Duyên trú trì chùa Pháp Vân từ trước khi Tỳ Ni Ða
Lưu Chi tới. Khi Tỳ Ni Ða Lưu Chi tịch, Pháp Hiển tổ chức lễ Trà Tyø
(hỏa thiêu), là một phong tục hoàn toàn xa lạ với dân Trung Quốc thời
bấy giờ. Mãi tới năm 676, sư Vận Kỳ mới trình vua Ðường hai bản kinh
Ðại Niết Bản do thầy mình là Hội Ninh cùng Trí Hiền hợp dịch tại đảo
Java (Nam Dương), nói về hỏa táng và thâu thập xá lợi của Phật.
Pháp Hiển (tịch năm 626) có tới 300 đệ tư.û Pháp sư nổi tiếng Ðàm
Thiên (542- 607) của Trung Quốc tôn Pháp Hiển là một vị bồ tát sống
(VNPGSL 1, tr.113). Vua Cao Tổ nhà Tùy bên Trung Quốc nghe tiếng đạo
hạnh của Pháp Hiển, sai sứ đem theo hộp Xá Lợi và điệp văn sang cúng
dường. Sư cho xây tháp Thuận Thành ở chùa Pháp Vân và các tháp chùa
châu Phong, châu Hoan, châu Ái để thờ Xá Lợi. Theo sách Thiền Uyển Tập
Anh, dòng thiền Pháp Vân truyền đến đời thứ 19 là thiền sư Y Sơn (tịch
năm 1213). Thời Hậu Lê, vào thế kỷ 15, các vua nhiều lần rước tượng
Phật chùa Pháp Vân về kinh để cầu mưa.
Thập niên 630 THANH BIỆN ( ? – 686 ): đời thứ 4 dòng thiền Pháp Vân,
được thầy là thiền sư Pháp Ðăng giảng và giao cho việc nghiên cứu kinh
Kim Cương làm đối tượng tu học từ lúc còn nhỏ, trở thành người đầu
tiên chuyên trì tụng kinh Kim Cương, trước ngũ tổ Hoằng Nhẫn (đắc pháp
với Ðạo Tín năm 630) và lục tổ Huệ Năng (biết tới kinh Kim Cương
khoảng năm 670, bốn năm trước khi Hoằng Nhẫn tịch). Lê Mạnh Thát (
LSPGVN 2, tr.112) cho rằng hệ tư tưởng của dòng thiền Pháp Vân được
Thanh Biện làm cho trở thành hoàn chỉnh. Theo ông, cho tới thập niên
660, Trung Quốc chỉ có hai trung tâm Thiền lớn là trung tâm Ngưu Ðầu
của thiền sư Pháp Dung và trung tâm Huỳnh Mai của ngũ tổ Hoằng Nhẫn.
Tại nước ta, cũng có hai trung tâm Thiền lớn mỗi đợt đào tạo hàng trăm
thiền sư là trung tâm Pháp Vân và Phật Tích.
Vua Trần Thái Tông ngộ đạo do đọc kinh Kim Cương. Kinh Kim Cương vào
thời Hậu Lê, từ sau Lê Lợi, trở thành đề tài thi bắt buộc trong những
cuộc khảo hạch tăng sĩ.
Năm 665 Pháp sư Ðại Thừa Ðăng từ Trường An (kinh đô Trung Quốc) qua
Ấn Ðộ cầu pháp. Tiểu sử của ông được pháp sư Trung Quốc Nghĩa Tịnh ghi
lại trong bộ Ðại Ðường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện. Bộ này ghi
chép các sự kiện về hơn 60 vị cao tăng từ các nước phương Ðông qua Ấn
Ðộ cầu pháp từ năm 650 trở đi. Trong số này có 6 cao tăng từ nước ta:
Trí Hành, Ðại Thừa Ðăng, Giải Thoát Thiên, Huệ Diệm, Vận Kỳ và Khuy
Xung.
Ðại Thừa Ðăng, người Ái Châu (Thanh Hóa), theo cha mẹ qua
Thái Lan, có lẽ xuất gia tại đây. Năm 645 qua kinh đô Trường An của
Trung Quốc, thọ đại giới với Tam Tạng Pháp Sư Huyền Tráng (600- 664).
Trong số 75 bộ kinh do Huyền Tráng dịch, ông góp công tới 7 phần tám
với tư cách bút thọ. Bút Thọ là người chép và chỉnh lại những câu văn
dịch sao cho vừa tôn trọng nguyên tác chữ Phạn vừa hợp với văn pháp
chữ Hán. Sau khi Huyền Tráng (còn gọi là Huyền Trang) tịch, ông xin
qua Ấn Ðộ cầu pháp. Ông gặp Nghĩa Tịnh tại Ấn Ðộ năm 671. Ông tịch tại
chùa Niết Bàn ở thành Câu Thi Na (Kasia, Ấn Ðộ).
Trong khoảng thời gian 663- 667, Giao Châu mất mùa lớn,
người vật đều đói khổ. Nhà sư người nước Khương Tăng Già Bạt Ma được
vua Ðường phái qua nước ta hái thuốc, thấy dân ta đói khổ, cứ lo kiếm
thức ăn uống giúp người mà nước mắt thương xót ứa ra hoài, được gọi là
Thường Ðề Bồ Tát ( Bồ Tát Hay Khóc)
Năm 791 PHÙNG HƯNG quê ở Sơn Tây khởi nghĩa chiếm phủ thành chống lại
chế độ đô hộ hà khắc của nhà Ðường. Dân chúng coi như cha mẹ, tôn là
Bố Cái Ðại Vương. Ðược vài tháng, ông bị bệnh mà mất, con ông là Phùng
An được tôn lên thay. Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 276) cho rằng Phùng
Hưng đã phong chức Cung Phụng cho nhà sư trí thức ÐỊNH KHÔNG (729-
808) và cử qua kinh đô Trường An giảng đạo cho hoàng đế Trung Quốc
Ðức Tông Lý Quát là người hâm mộ đạo Phật. Cung Phụng là một chức vụ
nằm trong bộ tham mưu thân cận nhà vua. Trong thời gian này, có thể
các nhà sư Duy Giám và Nhật Nam cũng được cử qua Trung Quốc giảng kinh
cho vua Ðường nhiều lần. Ba vị sư này đã được các danh sĩ Trung Quốc
thời đó ca ngợi về công phu tu tập và sở học.
Sự kiện các lãnh tụ dân tộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của Trung
Quốc trong những thế kỷ đầu như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Phùng
Hưng dù làm vua không lâu vẫn được dân chúng sùng bái qua nhiều thế hệ
cho tới ngày nay là điểm đặc sắc của lịch sử VN cần được nghiên cứu
nghiêm chỉnh.
Năm 820 Thiền sư VÔ NGÔN THÔNG từ Trung Hoa sang Giao Châu, tới chùa
Kiến Sơ lập phái thiền Vô Ngôn Thông. Chùa Kiến Sơ vào thời này là
ngôi chùa mới lập, do thiền sư trẻ tuổi Cẩm Thành (tịch năm 860) dựng.
Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 352), có thể thiền sư Cẩm Thành theo
học tại đạo tràng lớn Chúng Thiện do thiền sư Pháp Hiển (truyền thừa
đời thứ 1 dòng Tỳ Ni Ða Lưu Chi) thành lập. Lúc đó nước ta dưới quyền
đô hộ của nhà Ðường, một chế độ được coi là hà khắc nhất trong gần
ngàn năm nước ta bị Trung Quốc đô hộ.
Vô Ngôn Thông (tịch năm 826) tu học với thiền sư Bách Trượng (779-
803, là người soạn bộ quy chế đầu tiên cho các thiền viện, gọi là Bách
Trượng Thanh Quy. Hiện nay, nhiều chùa và tự viện lớn của VN vẫn áp
dụng Bách Trượng Thanh Quy). Ông ít nói, nhưng thông minh hiểu biết
mau nên có danh hiệu Vô Ngôn Thông hay Thông Thiền sư.
Tông chỉ của phái thiền Vô Ngôn Thông nhắm vào đốn ngộ, tức Tâm tức
Phật, không có đối tượng của giác ngộ, nhấn mạnh vào tự lực tự tiến,
sử dụng "thoại đầu". Nhiều thiền sư trong thiền phái Vô Ngôn Thông
chuyên trì kinh Viên Giác, một kinh dạy về phương pháp đốn ngộ. Các
kinh Bát Nhã và Pháp Hoa cũng được các thiền sư phái này sử dụng
nhiều.
Thoại đầu là câu nói hay mẩu đối thoại có tác dụng thúc đẩy hay làm
phát khởi sự đạt ngộ. Thiền sư Quy Sơn (Trung Quốc, 771- 853) đồng
thời với Vô Ngôn Thông, là những người đầu tiên dùng "thoại đầu" để
dạy đệ tử. Cả hai đều là đệ tử của thiền sư Bách Trượng. Gần đây,
thiền sư Duy Lực (1922- 1999) là người tiếp nối dùng phương pháp
"thoại đầu" tại hệ thống thiền đường Từ AÂn ở Việt Nam và California.
Phái thiền Vô Ngôn Thông truyền tới thiền sư Tiêu Diêu và Nhất Tông
quốc sư được 17 đời. Ðệ tử nổi tiếng của Tiêu Diêu là Tuệ Trung Thượng
Sĩ. Ðệ tử nổi tiếng của Tuệ Trung Thượng Sĩ là Trần Nhân Tông, trở
thành sơ tổ dòng thiền Trúc Lâm. Các đệ tử của phái Vô Ngôn Thông như
các thiền sư Giác Hải, Không Lộ và Nguyện Học chịu ảnh hưởng khá rõ
của Mật Giáo.
Năm 860- 873 triều đại vua Ðường Ý Tông, Trung Quốc. Vua sai thái sử
Cao Biền làm An Nam Ðô Hộ, với sứ mạng chính là đi "yểm" 19 chỗ để
Giao Châu không thể nào thoát khỏi kiếp nô lệ. Cao Biền báo cáo hoàn
tất công tác 18 chỗ bằng cách đào bới nhưng không thể nào "yểm" được
núi Tản Viên. Ðồng dao VN có những câu ám chỉ sự kiện này như lẩy bẩy
như Cao Biền dậy non hoặc núi Tản Viên thắt cổ bồng lại có thánh sinh.
Cao Biền viết nhiều sách về địa lý phong thủy còn truyền lại tới ngày
nay.
Sự cai trị của nhà Ðường ở Giao Châu khắc nghiệt hơn bất cứ thời đô hộ
nào khác. Nhà Ðường tìm mọi cách ngăn chận sự phát triển về học thuật
và văn hóa của Giao Châu. Cho nên chỉ có những nhà sư ở nước ta mới có
điều kiện thông hiểu Nho học. Họ do đó sẽ đóng vai trò tham mưu quan
trọng cho các chính quyền nước ta sau khi thu hồi được độc lập vào thế
kỷ sau.
Năm 906 nhân nhà Ðường suy yếu, KHÚC THỪA DUï một hào trưởng quê ở Hải
Dương nổi lên, thái thú Tăng Cổn phải bỏ trốn. Nhà Ðường phải phong họ
Khúc làm Tiết Ðộ Sứ . Năm sau, Khúc Thừa Dụ qua đời, con là Khúc Hạo
lên thay. Ông sửa sang lại nền hành chánh khoan dung mà dản dị nên dân
chúng ca tụng như "được sống lại", cho thấy sự đô hộ của nhà Ðường vô
cùng hà khắc. Bên Tầu, nhà Hậu Lương (907- 951) thay nhà Ðường toan cử
quân sang đánh chiếm Giao Châu mà không dám. Năm 917, Khúc Hạo mất,
nhà Lương phong chức Tiết Ðộ Sứ cho con ông là Khúc Thừa Mỹ. Năm 923,
Khúc Thừa Mỹ bị vua Nam Hán là Lưu Cung bắt, rồi thả ra. Nam Hán đô hộ
Giao Châu được 8 năm thì bị tướng của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ nổi
lên đánh đuổi, năm 931 lên làm Tiết Ðộ Sứ. Năm 937, Dương Diên Nghệ bị
một nha tướng là Kiều Công Tiễn cướp quyền. Con rể của Dương Ðình
Nghệ là Ngô Quyền đánh đuổi được Kiều Công Tiễn. Y chạy sang Tầu cầu
cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán huy động toàn lực dưới quyền chỉ huy của
thái tử Hoằng Tháo tấn công Giao Châu. Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán
trên sông Bạch Ðằng, giết Kiểu Công Tiễn và thái tử Hoằng Tháo. Năm
939, ông xưng vương, đóng đô ở thành Cổ Loa (Phúc Yên).
Năm 969 vua Ðinh Tiên Hoàng (968- 980) phong cho thiền sư NGÔ CHAÂN
LƯU (930- 1011) làm Tăng Thống. Năm 971 vua phong TRƯƠNG MA NI làm
Tăng Lục và ban hiệu KHUÔNG VIỆT Ðại Sư cho Ngô Chân Lưu. Chức Tăng
Thống và Tăng Lục ở nước ta bắt đầu từ đấy. Tăng thống là người thống
lãnh sư sãi, đứng đầu Phật giáo. Như vậy sau khi dẹp xong 12 sứ quân
trong vòng 2 năm và thống nhất đất nước, Ðinh Tiên Hoàng thống nhất
Phật giáo Việt Nam, tổ chức thành giáo hội liên hệ với chính quyền và
xã hội. Sau này vào thời Lý có thêm những chức Tăng Chính, Ðại Hiền
Quan (Nguyễn Lang, VNPGSL 1, tr. 212). Theo Nguyễn Lang (VNPGSL 1),
Tăng Lục là người phụ trách văn thư giấy tờ, trông coi tăng sự và ghi
chép, làm công việc như sử quan trong giáo hội.
Ðinh Tiên Hoàng thuở hàn vi đánh cá, thường ngủ trọ ở chùa Giao Thủy (Hoa Lư).
Tăng Thống Ngô Chân Lưu thuộc phái Vô Ngôn Thông, sau này khi nhà Tiền
Lê thay thế nhà Ðinh (năm 980), ông càng được vua Lê Ðại Hành (980-
1005) kính trọng. Năm 987 vua sai ông ứng đáp sứ nhà Tống là Lý Giác.
Người đi đón Lý Giác là thiền sư Pháp Thuận. Vua còn sai Khuông Việt
Ðại Sư viết khúc nhạc Ngọc Lang Qui để tiễn phái bộ nhà Tống ra về.
Ông cũng được vua Lê Ðại Hành hỏi ý kiến về nhiều việc triều chính. Lê
Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr. 444) cho rằng dưới triều vua Ðinh Tiên Hoàng
và Lê Ðại Hành, Ðại Sư Khuông Việt thực sự là thái sư (tể tướng).
Năm 973 ÐINH LIỄN, tước Nam Việt Vương con của Ðinh Tiên Hoàng, cho
dựng 100 tràng kinh (là trụ đá hình bát giác cao từ 50 tới 80 phân )
khắc kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni ở Hoa Lư, kinh đô của nhà Ðinh.
Năm 979 ông lại cho dựng thêm 100 cột kinh nữa, cũng tại Hoa Lư, để
cầu giải thoát cho em là Ðinh Hạng Lang (bị ông giết vào đầu năm vì
tội không trung hiếu với cha và anh), cầu cho cha mình là vua Ðinh
Tiên Hoàng được sống lâu và bản thân mình được lộc vị bền vững. Tháng
10 năm 979 ông và vua Ðinh Tiên Hoàng bị tên Ðỗ Thích giết. Hoàng hậu
Dương Vân Nga mưu cùng một số quan đưa Lê Hoàn lên làm vua, lập triều
đại nhà Tiền Lê. Những cột kinh này được phát hiện vào đầu năm 1963.
Kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni đã được hòa thượng Thích Thiền Tâm
dịch ra tiếng Việt trước năm 1975. Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN 2, tr.
429), bản kinh do Ðinh Liễn sai khắc trung thực, đầy đủ hơn các bản
Hán dịch công bố trong Ðại Chính Tân Tu Ðại Tạng Kinh. Bản kinh này là
một bài chú của Mật Giáo, được trì niệm trong thiền đường Trung Quốc
từ thế kỷ 8. Năm 776, vua Ðường Ðại Tông ra lệnh toàn bộ tăng ni phải
tụng 21 biến bài chú này và phải báo cáo tổng kết mỗi năm vào ngày 1
tháng giêng.
2. (tiếp theo)
Năm 1010- 1028 triều đại vua LÝ THÁI TỔ. Khi còn nhỏ, vua và mẹ là bà
Phạm Thị Ngà cư ngụ tại chùa Châu Minh, Bắc Ninh. Bà Ngà là thủ hộ của
chùa. Quốc sư Vạn Hạnh là thầy của vua thuở hàn vi. ÐẠO HẠNH (Quốc Sư
Vạn Hạnh, Từ Lộ, tịch năm 1068) tinh thông về Phật Học, Khổng Học lẫn
Lão Học, rất giỏi về các khoa sấm vĩ, địa lý và các pháp thuật của Mật
Tông. Ông thuộc thế hệ thứ 12 dòng Thiền Pháp Vân (Tỳ Ni Ða Lưu Chi).
Ông được coi là người chủ động trong nỗ lực đưa Lý Công Uẩn lên ngôi
vua, và thuyết phục vua dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Thăng
Long (Hà Nội). Các huyền thoại về đời ông được chùa Láng diễn lại vài
năm một lần trong lễ hội chùa. Các thiền sư nước ta chú trọng tới sấm
vĩ và phong thủy là hiện tượng đạo Phật tích cực dấn thân nhập thế,
góp phần vào nỗ lực dựng nước trước âm mưu của nhà Ðường kìm hãm dân
ta trong vòng nô lệ bằng mọi cách kể cả phong thủy, thì các thiền sư
Ðịnh Không (730- 808), La Quý An (852- 936) và Vạn Hạnh đã dùng phong
thủy và sấm vĩ để phản ứng lại.
Năm 1010 vua Lý Thái Tổ sai tuyển người xuất sắc để cho xuất gia. Bốn
năm sau, Tăng Thống Thẩm Văn Uyển lập đại giới đàn ở chùa Vạn Thọ. Năm
1016, hơn 1 ngàn người ở Kinh đô được tuyển để tu học làm tăng sĩ và
đạo sĩ. Năm 1019 mở đại giới đàn lần nữa.
Năm 1011 vua cho dựng nhà tàng kinh Trấn Phúc để chứa kinh điển. Năm
1018 vua sai người qua nhà Tống,Trung Quốc, thỉnh tam tạng kinh. Năm
1020 ấn bản đại tạng kinh chữ Hán đầu tiên do Tống Thái Tổ ra lệnh
khắc in về tới nước ta gồm 1076 kinh ( 480 tập, 5048 quyển). Năm 1021
vua cho dựng tàng kinh các Bát Giác để chứa Ðại tạng kinh. Năm 1023
vua sai chép thêm một bản Ðại tạng kinh và dựng tàng kinh các Ðại
Hưng. Năm 1027, vua lại sai chép thêm một bản Ðại tạng kinh nữa.
Theo sử quan Lê Văn Hưu ( Ðại Việt Sử Ký): làm vua được hai năm mà Lý
Thái Tổ đã dựng 8 chùa ở phủ Thiên Ðức, độ hơn ngàn người ở kinh đô
làm sư.
Ðời nhà Lý còn nhiều lần sai sứ qua Tầu thỉnh Ðại tạng kinh: năm 1034
và 1036 (triều Lý Thái Tông), 1081 và 1098 (triều Lý Nhân Tông). Tất
cả các bản Ðại tạng kinh trên đều là ấn bản in năm 983. (VNPGSL 1,
tr.213- 214).
Có thể nghề khắc mộc bản in kinh tại nước ta đã bắt đầu từ thời Sĩ
Nhiếp ở trung tâm Luy Lâu. Ðời nhà Lý, việc khắc mộc bản được phát
triển để in các bản kinh thông dụng như Kim Cương, Dược Sư, Pháp Hoa,
Viên Giác ... hầu đáp ứng nhu cầu tu học tại các chùa. Trong Thiền
Uyển Tập Anh, thiền sư Tín Học (tịch năm 1200) được ghi là đời đời
chuyên nghề khắc kinh. Vào thế kỷ 14, các vị tổ phái Thiền Trúc Lâm
như Giác Hoàng, Pháp Loa và Huyền Quang đều cho khắc in nhiều kinh
với số lượng lớn. Nghề khắc in ở nước ta trở nên hoàn hảo hơn sau khi
Lương Nhữ Hộc (1420- 1501) học được của Trung Quốc qua hai lần đi sứ
(1443 và 1459) về truyền dạy cho dân làng Liễu Tràng, Hải Dương. Do đó
ông được truyền tụng một cách lầm lẫn là tổ nghề in.
Các vua nhà Lý xây dựng khoảng 30 ngôi chùa, từ các chùa Hưng Thiên
Ngự, Thắng Nghiêm, Ðại Giáo năm 1010 dưới triều Lý Thái Tổ, chùa Một
Cột năm 1049 tới chùa Thánh Húc năm 1206 triều Lý Cao Tông. Trong cả
nước đã có chừng 300 ngôi chùa, những chùa cũ hư nát được trùng tu
lại.
Nghề làm tượng Phật ở nước ta có lẽ bắt đầu từ hay trước thời Khương
Tăng Hội (tịch năm 280), phát triển mạnh dưới thời vua Lý Thái Tông.
Năm 1036, vua làm lễ khánh thành tượng Phật Ðại Nguyện, năm 1040 khánh
thành một nghìn pho tượng Phật bằng gỗ và một nghìn bức tranh Phật,
năm 1041 cho đúc tượng Phật Di Lặc bằng đồng nặng 7,560 cân tại viện
Thiên Phúc. Năm 1056 vua Lý Thánh Tông cấp 12 ngàn cân đồng để đúc
chuông chùa Báo Thiên và tự tay viết bài minh khắc lên chuông, cũng
cho đúc hai tượng Phạm Vương và Ðế Thích bằng vàng đặt thờ ở hai chùa
Thiên Phúc và Thiên Thọ. Năm 1057, vua sai Lang Tướng Quách Mãn tạc
tượng A Di Ðà bằng đá ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh (VNPGSL 1, tr. 206).
Năm 999 -1090 Thiền sư VIÊN CHIẾU (Mai Trực) được coi là thiền sư thi
sĩ tài ba nhất của phái thiền Vô Ngôn Thông, rất am tường phép tam
quán của kinh Viên Giác. Bản luận giải Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn ông
đem trình Lý Nhân Tông được vua sai sứ đưa qua Trung Quốc nhờ vua Tống
Triết Tông duyệt. Vua Tống giao cho các pháp sư chùa Tướng Quốc đọc và
cho ý kiến. Họ trình: đây là đấng Bồ Tát hóa thân ở phương Nam, giảng
giải kinh nghĩa rất tinh vi, không thể thêm bớt gì được. Vua Tống sai
sao một bản, gởi trả lại bản gốc cho vua Lý với lời khen tặng. Các tác
phẩm của ông còn được biết tới nay: Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, Tán
Viên Giác Kinh, Thập Nhị Bồ Tát Hành Tu Chứng Ðạo Tràng, Tham Ðồ Hiển
Quyết. Tham Ðồ Hiển Quyết là tác phẩm ghi lại những đối đáp có tính
cách như thơ về các công án thiền học. Ðinh Quang Mỹ ( Thiền Trúc Lâm,
Tập San Nghiên Cứu Phật Học số 4, trang nhà www. thuvienhoasen.org)
cho rằng tới thời thiền sư Viên Chiếu, hệ thống công án mới được
truyền vào các dòng thiền nước ta. Hệ thống công án được phát triển
cao độ trong Thượng Sĩ Ngữ Lục
Năm 1069 Thiền sư THẢO ÐƯỜNG được vua Lý Thánh Tông (1054- 1072) phong
làm Quốc sư. Ông là đệ tử của Tuyết Ðậu ( tác giả sách Bích Nham Lục
nổi tiếng nhất trong Thiền môn). Nhiều thiền sư nổi tiếng của phái Vô
Ngôn Thông và Tỳ Ni Ða Lưu Chi thời Thảo Ðường tới cuối thế kỷ 12 chịu
nhiều ảnh hưởng của thiền sư Tuyết Ðậu. Ảnh hưởng này còn thấy trong
phái thiền Trúc Lâm.
Thiền sư Thảo Ðường qua Chiêm Thành hoằng pháp, bị quân của vua Lý
Thánh Tông bắt khi chinh phạt xứ này và được giao cho phục dịch vị
Tăng Lục. Khi ông lén sửa lại những chỗ sai lầm trong bản ngữ lục chép
tay của vị này, tài học của ông được khám phá và trình lên vua. Sau
khi khảo hạch về sức học cũng như đạo đức, vua rất khâm phục ông. Ngay
đó ông được mời trụ trì chùa Thảo Ðường ở kinh đô. Ông khai sáng thiền
phái Thảo Ðường, đệ tử đầu tiên là vua Lý Thánh Tông. Chịu ảnh hưởng
của thầy ông, Thiền sư Tuyết Ðậu (tác giả tác phẩm Thiền nổi tiếng
Bích Nham Lục) là người chủ trương dung hợp Phật và Nho, đưa Nho gia
tới gần Phật, Con đường tu tập của phái Thảo Ðường: tham thiền, quán
chiếu và niệm Phật. Thiền Thảo Ðường chỉ ảnh hưởng tới giới trí thức
và triều đình mà không thâm nhập được vào đại chúng. Trong 19 vị
truyền thừa của phái Thảo Ðường ghi trong Thiền Uyển Tập Anh có tới 9
vị là cư sĩ thuộc thành phần vua quan ( trong đó có các vua Lý Thánh
Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông).
Tác phẩm Tuyết Ðậu Ngữ Lục do thiền sư Thảo Ðường phổ biến rộng rãi,
được nhiều thiền sư cả hai thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi và Vô Ngôn
Thông hâm mộ, mở đường cho sự thống nhất ba thiền phái này thành dòng
thiền Trúc Lâm đời nhà Trần sau này. Chính vua Trần Nhân Tông đã được
thầy là Tuệ Trung Thượng Sĩ, sau khi ấn chứng, trao cho hai bộ Ngữ Lục
của Tuyết Ðậu và Dã Hiên để thâm cứu khi rảnh rỗi vào năm 1287.
Năm 1070 sau khi quy y với thiền sư Thảo Ðường, ông vua Phật tử LÝ
THÁNH TÔNG lập Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Khổng Tử và các tiên hiền.
Lần đầu tiên Nho học được triều đình nước ta chính thức cổ súy. Trong
suốt chiều dài lịch sử Phật giáo VN, đạo Phật chưa bao giờ kỳ thị Nho
và Lão giáo. Rất nhiều thiền sư VN uyên thâm về Nho học đã giúp cho
việc truyền bá đạo Phật trong giới trí thức từ thời nhà Ðinh (968-
980) trở về sau. Mặc dù có những giai đoạn như cuối đời Trần, đầu đời
Hậu Lê ( cuối thế kỷ 14, thế kỷ 15 và nửa đầu thế kỷ 16), nỗ lực đả
kích Phật giáo của một số Nho gia đã ảnh hưởng tới vua, Nho giáo chưa
bao giờ chiếm địa vị độc tôn trong lịch sử VN.
Năm 1077 LÝ THƯỜNG KIỆT (1019- 1105) đại thắng quân Tống trên sông Như
Nguyệt, tướng nhà Tống Quách Quỳ phải đầu hàng. Chính tại đây Lý
Thường Kiệt cho phổ biến bài thơ nổi tiếng hùng hồn Nam Quốc Sơn Hà
Nam Ðế Cư, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.
Trận chiến thắng này làm kinh hoàng quân Tống. Trước đó, năm 1069 ông
đã khuất phục được vua Chiêm Thành ở phương Nam, năm 1075 ông đã thống
lĩnh quân đội Ðại Việt tấn công san bằng các căn cứ nhà Tống ở châu
Ung, châu Khâm và châu Liêm. Vào thời này, triều Tống đã hùng mạnh nhờ
những cải cách của tể tướng lỗi lạc Vương An Thạch.
Khi được đề cử làm Tổng Trấn Thanh Hóa, Sùng Tín Trưởng Lão (thầy của
Linh Nhân Hoàng Thái Hậu, tức Ỷ Lan Phu Nhân) vào thăm ông, được ông
nhờ chọn đất để xây chùa. Khởi công năm 1085, hoàn tất năm 1089 tại
phía Nam núi Ngưỡng Sơn, Thanh Hóa, ông đặt tên chùa là Linh Xứng. Sau
khi ông qua đời, thiền sư Pháp Bảo (Giác Tính Hải Chiếu Ðại Sư) được
vua Lý Nhân Tông giao phó làm bài văn bia chùa Linh Xứng ca ngợi công
trạng và đức độ của Thái Úy Lý Thường Kiệt, vị tướng lãnh trụ cột của
3 triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Bài này là
một kiệt tác văn học khá dài, đại ý đoạn cuối như sau: Thái Úy vào
trong thì sáng suốt khoan hòa, ra ngoài thì nhân từ dản dị, đổi dời
phong tục nào có quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì
ôn hòa, cho nên đời được cậy nhờ chẳng phải ít.... Trị dân thì dân
được yên, xuất quân thì tất thắng, tên tuổi vang lừng khắp cõi, tiếng
thơm nức bốn phương, thuận theo và tôn sùng đạo Phật, giữ gìn phúc đức
quả là đây.
Năm 1088 vua LÝ NHAÂN TÔNG (1072- 1127) phong Khô Ðầu đại sư làm Quốc
Sư. Quốc sư không chỉ làm cố vấn mà có khi còn đứng ngang hàng với tể
thần xử đoán các việc và các kiện tụng. Tuy nhiên các quốc sư thời Lý
Trần thường không mặc áo thế quyền, mà chỉ coi là thầy dạy đạo cho cả
nước.
Cũng năm này, theo đề nghị của các quan, vua Lý Nhân Tông phân các
chùa thành 3 loại: 1- Ðại danh lam (chùa lớn). 2- Trung danh lam (
chùa vừa). 3- Tiểu danh lam ( chùa nhỏ). Các chùa có ruộng và có người
cày ruộng do nhà nước cấp. Nhà vua đã cho xây dựng hơn 100 ngôi chùa
trong cả nước.
Năm 1075 vua đặt ra phép thi Tam trường để kén người tài ra giúp nước.
Những Nho sĩ muốn thi làm quan phải nghiên cứu sâu về đạo Phật.
Sau đời Lý Nhân Tông, các vua nhà Lý thường chết yểu, tân vương nhỏ
tuổi nên Thái Hậu có nhiều quyền, đạo Phật dần dần mang nhiều mầu sắc
mê tín, hòa nhập với đạo Lão hiện hành và tín ngưỡng cổ truyền có tính
quyền năng còn sót lại trong dân gian.
Năm 1176- 1210 triều vua Lý Cao Tông. Sau lần độ tăng năm 1134 (triều
Lý Thần Tông) số người xuất gia đông dần, tệ lậu nẩy sinh nơi Thiền
môn. Năm 1179, vua cho khảo hạch các tăng quan , năm 1198 lại cho chọn
lọc và sa thải bớt tăng sĩ không xứng đáng. Một số nho thần như Ðàm Dĩ
Mông nhân đó cực lực bài xích Phật giáo. Nhưng các đại sư Phật Giáo
vẫn còn ảnh hưởng tới triều đình. Tăng phó Nguyễn Thường đã có lần
khuyên can vua không nên tổ chức hát xướng chơi bời xa hoa quá độ.
Phật giáo đời nhà Lý có những đóng góp lớn lao vào học thuật, phong
hóa, xã hội. Ảnh hưởng của Mật giáo tuy có nhưng tính chất mê tín dị
đoan còn ít hơn so với thời Hậu Lê và Pháp thuộc. Các Quốc sư như Vạn
Hạnh, Khô Ðầu, Không Lộ, Thông Biện, Viên Chiếu đều là người học rộng,
hiểu nhiều góp phần tích cực tạo nên một đời mà Hoàng Xuân Hãn cho là
"thuần từ nhất trong lịch sử nước ta" ( Lý Thường Kiệt, Viện Ðại Học
Vạn Hạnh tái bản, Sài Gòn 1966).
Tại Ấn Ðộ, năm 1203, đợt tấn công sau cùng của quân Hồi Giáo san bằng
đại học Nalanda và tàn sát gần hết tăng sĩ, khoảng 70 tăng sĩ sống sót
nhờ chạy trốn qua Nepal và Tây Tạng. Phật Giáo hầu như bị loại khỏi
Ấn Ðộ, chỉ bắt đầu được phục hồi lại từng bước nhỏ từ cuối thế kỷ 19
nhờ nỗ lực của vị đại sư Dharmapàla từ Tích Lan tới.
Năm 1236 Sau khi bị Trần Thủ Ðộ bắt ép phải bỏ vợ là Lý Chiêu Hoàng để
lấy chị dâu đang có mang hầu có thể có con nối dõi ngay khiến cho anh
ruột bị mất vợ là Trần Liễu phẫn uất dấy binh nổi loạn , TRẦN THÁI
TÔNG (1218- 1277) bỏ ngôi vua, đêm 3 tháng 4 năm Bính Thân đem theo
vài tùy tùng tìm lên núi Yên Tử để đi tu. Tại đây, vua tham kiến Trúc
Lâm đại sư , được khuyên: Trong núi vốn không có Phật. Phật ở trong
tâm ta. Nếu tâm lắng lại và trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật. Giác
ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần phải
đi tìm cưc khổ ở bên ngoài.
Lời khai thị trên đã mở đường cho vua Trần Thái Tông tự tìm học Phật.
Vua tham vấn Phật pháp với các thiền sư Viên Chiếu, Tức Lự . Vua
chuyên trì tụng kinh Kim Cang, tới câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm"
thì ngộ. Sau đó vua viết Thiền Tông Chỉ Nam. Khi quốc sư Viên Chiếu
tới thăm, vua trình cuốn này, thiền sư khen là đã thấu suốt được tâm
tông. Vua cũng có những bạn đồng đạo như các thiền sư Ðại Ðăng, Ứng
Thuận. Hai thiền sư Trung Quốc Thiên Phong và Ðức Thành nghe tiếng
vua tìm sang nước ta xin yết kiến để tham vấn đạo. Theo sách Thiền
Tông Bản Hạnh của thiền sư Chân Nguyên (1647- 1726), vua đã mở các
trường tăng học tại chùa Quỳnh Lâm, chùa Tư Phúc (ở núi Côn Sơn, Ðông
Triều Hải Dương) và chùa Hoa Yên (Vân Yên, ở núi Yên Tử). Những chùa
này vào đầu thế kỷ 14 trở thành ba trung tâm hoằng pháp lớn của phái
thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập.
Vua ở ngôi 32 năm, sau đó nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, lên
làm Thái Thượng Hoàng. Tác phẩm của vua được biết gồm Thiền Tông Chỉ
Nam (viết năm 30 tuổi), Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải, Lục Thời Sám
Hối Khoa Nghi, Bình Ðẳng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục, Thi Tập.
Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi theo Nhất Hạnh (VNPGSL 1, tr. 256) là bài
sám pháp gọn gàng, đẹp đẽ và thực dụng có tính cảnh giác và khích lệ
hành động, so ra bằng hoặïc hơn các sám pháp phổ thông từ Trung Quốc
đưa qua như Lương Hoàng Sám, Từ Bi Thủy Sám, Dược Sư .
Khóa Hư Lục là tác phẩm quan trọng hướng dẫn hành trì tu tập thực tiễn
và khai phóng, vừa nhắm vào giới trí thức qua các đề mục Thiền như Tọa
Thiền Luận, Giới Ðịnh Tuệ Luận, Tuệ Giới Giám Luận, Niệm Tụng Kệ với
43 công án Thiền ..., vừa nhắm vào đại chúng qua các đề mục Tịnh Ðộ
như Niệm Phật Luận, Lục Thời Sám Hối, Bình Ðẳng Lễ Sám Văn Tự ... Sư
Tuệ Tĩnh (1330- 1399) dịch tác phẩm này ra văn Nôm giúp tăng sức phổ
biến của nó.
Con ông là vua Trần Thánh Tông (1258- 1278) sau này xuất gia với Quốc
Sư Ðại Ðăng và đi tu ở chùa Tư Phúc trên núi Côn Sơn (Hải Dương).
Các ông vua Phật tử khai sáng đời Trần như Thái Tông và Thánh Tông đã
mở mang Nho giáo, lập Quốc Học Viện, tạc tượng Chu Công, Khổng, Mạnh
và 72 tiên hiền để thờ (1253), mở các khoa thi để kén chọn nhân tài
trong giới nho sĩ ( 1232, 1247 ....).
Năm 1282 NGUYỄN THUYÊN làm bài Văn Tế Cá Sấu bằng văn Nôm, được coi là
khởi điểm của văn học chữ Nôm, và được vua Trần Nhân Tông cho đổi họ
là Hàn Thuyên, vì so sánh với Hàn Dũ bên Trung Quốc.
Chữ Nôm là loại chữ biến cải từ chữ Hán, ban đầu được sáng tạo từ các
chùa để dùng ghi tên họ của các người dân quê trong văn sớ, dần dần
được phong phú hóa nhờ nhiều nhà sư giỏi Hán văn và nặng tình dân tộc
trong thời bị Trung Quốc đô hộ, nên càng ngày số ngữ vựng càng nhiều,
được Nho gia chấp nhận dùng trong các thể loại văn học kể từ đây. Từ
năm 1025, thời Lý Thái Tổ, lối hát ả đào đã hình thành với những bài
ca dùng điệu lục bát hay song thất lục bát của thơ Nôm (Phạm Văn Sơn,
VSTT tr. 226). Thời nhà Trần, mặc dù Hán văn đã đạt tới trình độ cao
nhưng văn Nôm cũng có những tác phẩm lớn như bài phú Cư Trần Lạc Ðạo
(Trần Nhân Tông), Vịnh Vân Yên Tự ( Huyền Quang). Vua Trần Nhân Tông
(1258- 1308) ra lệnh: chữ Nôm và chữ Hán là hai ngôn ngữ chính thức
dùng trong văn thư hành chánh. Theo Lê Mạnh Thát (TTTNT tr. 281) chỉ
riêng trong 2 tác phẩm Nôm của Trần Nhân Tông là Cư Trần Lạc Ðạo và
Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca số ngữ vựng Nôm đã có gần 2 ngàn từ.
Văn Nôm cực thịnh từ thế kỷ 17 tới đời vua Minh Mạng (1820- 1840), với
nhiều tác phẩm dài như bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc của Phan Huy Ích,
Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ðoạn Trường Tân Thanh và Văn
Tế Cô Hồn Thập Loại Chúng Sinh củaNguyễn Du, Hoa Tiên của Nguyễn Huy
Tự, Ngọc Kiều Lê và Truyện Tây Sương của Lý Văn Phức, Trinh Thử của
Nguyễn Hàm Nghi, Bích Câu Kỳ Ngộ của Vũ Quốc Trân, Quan AÂm Thị Kính
của Nguyễn Cấp, Phan Trần của vô danh, Ai Tư Vãn của Ngọc Hân .
Năm 1299 TRẦN NHAÂN TÔNG (1258- 1308) lên núi Yên Tử xuất gia, lấy
hiệu là Trúc Lâm Ðại Ðầu Ðà, được coi là Sơ Tổ phái Thiền Trúc Lâm.
Phong trào học Phật kể từ đây được phát khởi mạnh và đại chúng hóa.
Chùa Vân Yên trên núi Yên Tử trở thành một trung tâm Phật giáo đời
Trần, đào tạo được nhiều vị quốc sư như Viên Chứng, Ðại Ðăng, Tông
Cảnh, Bảo Phác, Phù Vân, Vô Trước, Quốc Nhất. Hàng năm chùa Vân Yên tổ
chức an cư kiết hạ ba tháng, tăng sĩ trong nước về tham dự rất đông.
Trần Nhân Tông chủ trương: việc duy trì Phật pháp là nằm ở quốc vương
đại thần, như lời bạt của Trần Khắc Chung trong cuốn Trần Triều Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Hai người tạo ảnh hưởng quan trọng đối với
ông là Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tung, thầy ông) và vua Trần
Thánh Tông ( Vô Nhị Thượng Nhân, cha ông). Trong bài pháp giảng vào
tháng giêng 1306, Trần Nhân Tông ca ngợi hai người là "ơn mưa pháp đã
thấm tới cho cháu con được tắm gội"( Lê Mạnh Thát, TTTNT tr. 241).
Phái Thiền Trúc Lâm chủ trương lấy sự học hỏi kinh điển làm trọng,
tổng hợp Thiền và Giáo, tổng hợp Phật nho và Lão. (Trần Nhân Tông:
giáo lý của đức Phật ta phải nhờ Tiên Thánh mà truyền lại cho đời).
Ðạo Phật Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, chủ trương nhập thế,
đạo phụng sự cho đời sống. Sách Phật Giáo Pháp Sự Ðạo Tràng Công Văn
Cách Thức (VNPGSL 1, tr. 412) được ấn hành năm 1299, quy định các sớ,
tấu, điệp và các bản văn dùng trong các nghi thức như thọ giới, cầu
an, cầu siêu ... Các sớ điệp ghi tên họ những người xin cầu an, cầu
siêu, thọ giới bằng chữ Nôm. Tác phẩm quan trọng của Trần Nhân Tông,
Cư Trần Lạc Ðạo, là một trong vài tác phẩm chữ Nôm xưa nhất còn truyền
lại.
Trần Nhân Tông lên ngôi vua năm 1279, tới năm 1293 (Quý Tị) nhường
ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Dưới triều
đại của ông, quân dân ta đánh đuổi được hai cuộc xâm lăng của quân
Mông Cổ (1285- 1288). Năm 1285 và 1288, ông phong tặng gia hiệu cho
các anh hùng liệt nữ, anh linh lịch sử của đất nước. Sau các cuộc
chiến tranh Lào Việt chấm dứt vào năm 1295, Trần Nhân Tông đã thực tập
xuất gia ở chùa Võ Lâm, Ninh Bình. Năm 1301 ông đi quan sát tình hình
Phật giáo tại Chiêm Thành, tại đây hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua
Chiêm là Chế Mân. Năm 1304 ông đi dạo khắp nước, khuyên dân chúng giữ
5 giới, tu mười điều lành (thập thiện) và phá bỏ đền thờ những vị thần
không có phẩm hạnh (gọi là dâm từ).
Các ông vua thiền sư đời Trần như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông
thường được gọi là Bụt Vàng, Vua Bụt, Ðiều Ngự Vương. Ðiều Ngự Giác
Hoàng Trần Nhân Tông được thờ ở chùa Thiên Trúc (chùa Ðồng Vĩ vì mọi
kiến trúc đều bằng đồng) ở Ðông Triều, tỉnh Hải Dương.
Năm 1308 mồng một Tết, Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông trao y bát và tâm
kệ cho PHÁP LOA (Ðồng Kiên Cương, 1284- 1330). Ông cũng được trao 100
hộp đựng kinh sử ngoại điển và 20 hộp đựng Ðại Tạng Kinh viết bằng
máu, được dặn dò "mở rộng việc học bên trong và bên ngoài". Pháp Loa,
một người dân giả trẻ tuổi chưa đỗ đạt làm quan, xuất gia cũng chưa
lâu, trở thành tổ thứ 2 của thiền phái Trúc Lâm. Xứng đáng với sự tin
cậy của Ðiều Ngự Trúc Lâm, ông là một nhà tổ chức giáo hội tài ba,
sanh năm 1284 tại Hải Dương, xuất gia năm 1304, tịch năm 1330. Thời
Pháp Loa, số người xuất gia và số chùa tăng lên rất mau chóng, sổ tăng
tịch được lập để thống nhất tăng sĩ và tự viện thành Giáo hội, mà
Pháp Loa là người đầu tiên được cấp độ điệp (thẻ căn cước của tăng sĩ)
năm 1308 sau khi nhận chức trú trì chùa Bảo AÂn. Năm 1311, tại chùa
Vĩnh Nghiêm, ông lập kế hoạch kiểm tra các tự viện ( vì làng nào cũng
có ít nhất là một chùa) và quy định mọi chức vụ của tăng sĩ trong giáo
hội. Năm 1312 ông từ chối không nhận thuyền bè và phu kiệu do vua Trần
Anh Tông cúng dường. Ông hạn chế việc tổ chức Ðại Giới Ðàn ba năm một
lần để giới hạn số người xuất gia. Tính đến năm 1329, số tăng sĩ xuất
gia qua các Ðại Giới Ðàn do Pháp Loa tổ chức được cấp sổ tăng tịch
trên 15 ngàn người. Chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, một trong 7 ngôi
chùa lớn của phái Trúc Lâm được Pháp Loa chọn làm văn phòng trung ương
của giáo hội.
Pháp Loa chú giải nhiều kinh điển như Pháp Hoa, Lăng Già, Kim Cương,
Bát Nhã Tâm Kinh, Hoa Nghiêm và soạn các sách về nghi thức sớ điệp
dùng trong các lễ Phật Giáo (Pháp Sự Khoa Văn), nghi thức cúng đàn
chẩn tế (Ðộ Môn Trợ Thành Tập). Qua những khóa giảng kinh Hoa Nghiêm
nhiều lần, có lần số người tham dự trên một ngàn, ông tạo nên phong
trào học kinh Hoa Nghiêm trong thiền giới Việt Nam thời đó. Lê Mạnh
Thát (TTTNT, tr. 325) cho rằng tư tưởng Hoa Nghiêm trở thành lý thuyết
phổ quát cho những người lãnh đạo quốc gia Ðại Việt nhìn về đất nước
cũng như xã hội mình. Tăng già thời Pháp Loa học kinh điển theo cách
phân tích, chú giải và bình luận, vấn đáp và đàm thuyết.
Pháp Loa cũng soạn sách Hộ Quốc Nhân Vương Nghi Quý theo lệnh của vua
Trần Anh Tông để làm cẩm nang trị quốc theo phẩm hạnh một vị quốc
vương bồ tát (như vua A Dục).
Mật Tông đã ảnh hưởng đáng kể tới Pháp Loa, ông làm lễ Quán Ðảnh (một
nghi thức truyền giới của Mật Tông), tổ chức trai đàn chẩn tế với
những ấn quyết và thần chú, thời khóa tụng niệm buổi chiều thường có
nghi thức thí thực cô hồn ngắn ( gọi là Mông Sơn Thí Thực Văn). Nghi
thức tụng niệm buổi sáng của giáo hội Trúc Lâm chủ yếu là thần chú (
gồm 11 thần chú, không kể thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh). Trong thời
Pháp Loa, tăng sĩ Tây Tạng Du-Chi-Bà-Lam qua Ðại Việt lần thứ hai năm
1311 và tịch tại đây. Con gái ông được vua Trần Anh Tông tuyển vào
cung. Năm 1318, tăng sĩ Ấn Ðộ Ban-Ðể-Ô-Sa-Thất phụng chiếu vua Trần
Minh Tông dịch Bạch Tán Cái Thần Chú.
Năm 1317 Văn Huệ Vương TRẦN QUANG TRIỀU (1286- 1325) con cả của Trần
Quốc Tảng và là cháu nội Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn cúng dường 40
vạn quan tiền trùng tu chùa Quỳnh Lâm. Ông là một nhà thơ lớn, tập Cúc
Ðường Di Tập của ông được Phan Huy Chú ca ngợi là "thanh thoát khá
khen". Ông xuất gia năm 1322 với thiền sư Pháp Loa sau khi vợ ông là
công chúa Thượng Trân mất. Tháng chạp 1324, ông lại cúng dường tổng
cộng hơn ngàn mẫu ruộng ở Gia Lâm và hai nơi khác cùng hơn ngàn nông
nô làm của Tam bảo cho chùa Quỳnh Lâm. Ông còn nhờ thiền sư Pháp Loa
duyệt lại và thêm lời chú thích sách Tứ Phần Luật rồi cúng dường in 5
ngàn quyển cho tăng chúng học tập. Chùa Quỳnh Lâm qua sự cúng dường
của ông trở thành một kiến trúc quy mô, với những cột to tới một người
ôm. Thiền sư Bảo Sát trú trì chùa này, và trông coi việc ấn tống Ðại
Tạng Kinh tại đây vào năm 1319. Chùa Quỳnh Lâm là nơi lưu trữ hồ sơ
của tất cả các tăng sĩ thuộc giáo hội Trúc Lâm đời Trần. Báo AÂn, Siêu
Loại và Quỳnh Lâm là 3 cơ sở lớn nhất của giáo hội Trúc Lâm thời Pháp
Loa. Ðời Trần Dụ Tông, Trương Hán Siêu (mất năm 1314) là người nổi
tiếng bài xích Phật Giáo một cách cực đoan, được cử làm Giám Tự chùa
Quỳnh Lâm. Có lẽ nhờ vậy, về cuối đời, ông đã phần nào thấm nhuần được
ý nghĩa giải thoát của Phật pháp.
Chùa Quỳnh Lâm do thiền sư Ðịnh Không ( 730- 808) lập lúc nước ta
dưới thời đô hộ của nhà Ðường. Thiền sư Không Lộ (Nguyễn Minh Không,
tịch vào năm 1141 đời Lý Anh Tông), dựng tượng Phật A Di Ðà là một
trong 4 tác phẩm nghệ thuật lớn đời Lý gọi là Tứ Ðại Khí. Ba tác phẩm
khác do ông xây dựng là: tháp chùa Báo Thiên, đỉnh chuông chùa Phổ
Minh và chuông chùa Phổ Lại. Khi quân Minh xâm chiếm nước ta (1407-
1427), chúng phá hủy chùa Quỳnh Lâm. Chúa Trịnh Giang sau này cấp tiền
và mộ phu tu sửa chùa hai lần vào các năm (1728- 1732) và (1735- 1746)
tạo những trang trí thật đẹp. Ðời Thiệu Trị (1840- 1847) chùa lại bị
đốt phá nhiều bộ phận chính.
Thời chiến tranh Việt Pháp, Việt Minh chiếm chùa làm chỗ đóng quân,
treo cờ đỏ sao vàng lên. Phi cơ Pháp thấy, bỏ bom, chùa bị cháy hơn
một tháng mới hết, chỉ còn lại nền chùa. Sau năm 1954, gạch của chùa
được xung công để xây hợp tác xã nuôi heo ngay trước cửa chùa cũ. Năm
1985, khi chính quyền Cộng Sản bắt đầu chính sách cởi trói, dân chúng
địa phương mới góp tiền xây được ba gian nhà gạch sơ sài trên nền chùa
cũ để thờ Phật. Chùa Quỳnh Lâm được Bộ Văn Hóa nhà nước Cộng Sản xếp
vào loại di tích lịch sử cần được bảo tồn !
Năm 1319 Ðại Tạng Kinh do Pháp Loa ủy cho sư huynh của ông là BẢO SÁT
chủ xướng gồm năm ngàn quyển được ấn hành hai lần : năm 1319 và năm
1329. Bản Ðại Tạng Kinh này do vua Trần Nhân Tông gởi thơ xin và được
vua Nguyên Thành Tổ cấp cho năm 1295. Việc thực hiện Ðại Tạng Kinh đã
được khởi công khắc in từ đầu năm 1296, bị gián đoạn năm 1308, khi
Trúc Lâm Ðầu Ðà Trần Nhân Tông tịch. Năm 1311, vua Trần Anh Tông ra
lệnh cho Pháp Loa tiếp tục công việc này. Pháp Loa ủy thác cho thiền
sư Bảo Sát chủ trương việc khắc các bản gỗ để in. Các tác phẩm thiền
học của Trần Nhân Tông như Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu
Lục, Ðại Hương Hải Ấn Thi tập, Thạch Thất Mị Ngữ và Tăng Già Toái Sự,
các tác phẩm củavua Trần Thái Tông như Khóa Hư Lục, Thiền Tông Chỉ
Nam, Kim Cương Tam Muội Kinh, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, các tác phẩm
của Tuệ Trung như Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục được đưa vào bộ Ðại Tạng
Kinh này trong bản in lần thứ hai năm 1329. Lần in đầu vào tháng chạp
1319, các tăng sĩ và cư sĩ cùng hiến máu để cúng dường cho bản đầu
tiên.
Bảo Sát là đệ tử được Sơ Tổ Trúc Lâm yêu quý nhất nhưng không được
giao phó việc lãnh đạo giáo hội có lẽ vì Trúc Lâm thấy Pháp Loa mới
có khả năng tổ chức và lãnh đạo cao.
Năm 1407, khi Hồ Quý Ly đầu hàng tướng Trương Phụ của nhà Minh, nhà
Minh cho chở về Kim Lăng, kinh đô Trung Quốc, tất cả các sách vở và
mọi thứ có chữ tại nước Ðại Việt, trong đó có bản khắc gỗ bộ Ðại Tạng
Kinh nói trên. Trương Phụ đã tịch thu gần hết gia tài văn học của Ðại
Việt.
Năm 1322 vua TRẦN MINH TÔNG sai Pháp Loa ( tổ thứ hai của phái thiền
Trúc Lâm) viết Tham Thiền Chỉ Yếu. Năm 1330, ông lại sai Huyền Quang
(tổ thứ 3 Trúc Lâm) viết Phổ Huệ Ngữ Lục vaø Hành Trạng. Theo Lê Mạnh
Thát ( Nghiên Cứu Về TYTA, tr.87) có thể ông đã sai thiền sư Kim Sơn
viết Thiền Uyển Tập Anh, bộ lịch sử Phật giáo Thiền Tông VN, năm
1337.
Cũng trong năm này giáo hội Trúc Lâm cho in 5 ngàn bản Tứ Phần Luật và
các cao tăng được triệu về để giảng dạy giới luật cho tăng sĩ.
Những bản in này có thể phẩm chất không tốt vì mãi tới 1460, sau hai
lần đi sứ qua Trung Quốc năm 1443 và 1459, Lương Nhữ Hộc (1420- 1501)
cố học được nghề in khắc và truyền dạy cho dân làng Liễu Tràng ( đời
vua Lê Thái Tông). Ông được coi là tổ nghề in.
Năm 1330 HUYỀN QUANG trở thành tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, sau
khi Pháp Loa tịch. Huyền Quang (Lý Ðạo Tái 1254- 1334) thông thạo thư
tịch, giỏi trích dẫn kinh điển lại ứng đối mau lẹ. Trong 20 năm làm
quan, ông được giao phó trách nhiệm tiếp sứ nhà Nguyên Trung Quốc.
Ðược vua hứa gả công chúa cho, ông một mực từ chối. Năm 1305 ông xin
từ quan, xuất gia, theo học với thiền sư Bảo Phác. Ngay sau đó, ông
được Ðiều Ngự Trúc Lâm chọn làm phụ tá. Ông theo sát Trúc Lâm trong
hai năm, được giao phó việc soạn các sách giáo khoa căn bản cho giáo
hội.
- Chư Phẩm Kinh: tuyển tập các phẩm kinh thiết yếu và thực dụng.
- Công Văn Tập: tuyển tập các bài văn, sớ, điệp dùng trong
nghi lễ Phật giáo.
- Thích Khoa Giáo: giáo khoa về Phật pháp căn bản.
Ðiều Ngự Trúc Lâm xem xong, rất hài lòng sai khắc in ngay không cần
sửa chữa. Sau đó, ông làm trú trì chùa Vân Yên (Hoa Yên, ở núi Yên
Tử). Số người theo học ông tại trường Tăng Học Vân Yên lên tới ngàn
người. Tại đây, ông đã làm bài phú chữ Nôm nổi tiếng Vịnh Hoa Yên Tự
(HT Ðức Nghiệp trong Ðạo Phật VN coi đây là 1 bản kinh VN). Năm 1309,
sau khi Ðiều Ngự Trúc Lâm tịch, ông theo lời dặn dò, theo sát Pháp Loa
trong vài năm làm phụ tá rồi trở lại chùa Vân Yên lo huấn luyện tăng
sinh. Ông cho khắc in nhiều kinh điển và dựng đài Cửu Phẩm Liên Hoa,
là một tháp có thể xoay được theo lối Mật Tông ở chùa Ninh Phúc, Bắc
Ninh. Tháp có 9 tầng, 8 mặt, mỗi mặt của tầng dưới cùng có chạm nổi
hình ảnh về sự tích đức Phật. Ông ít thuyết pháp cho đại chúng, ít
giao thiệp với những người trong triều mà chỉ lo giảng dạy cho tăng
chúng tại các trường Tăng Học. Có lẽ vụ án vua Trần Minh Tông nghe lời
Mạc Ðĩnh Chi sai cung nữ Thị Bích thử thách ông đã làm ông lánh xa
triều đình. Cô cung nữ xinh đẹp lại thông kinh sử này không lay động
được ông về nhan sắc và sự lanh lợi, đã bịa chuyện lợi dụng lòng từ
tâm của ông xin được nhiều vật quý vua ban cho ông để dối gạt là đem
bán lấy tiền chuộc cha. Sau đó cung nữ Thị Bích lại dối gạt vua là
Huyền Quang lưu cô lại một đêm và tặng những vật trên. Nhà vua nghi
hoặc, đành mở đại hội Vô Già, trưng bày các đồ vật cung nữ Thị Bích
xin được đó để thử thách Huyền Quang. Ông dùng năng lực tu chứng Mật
Tông để giải nỗi oan khiên này ngay tại lễ đàn này làm cho đại chúng
kinh hoàng và vua phải quỳ lạy tạ lỗi.
Ông không xây nhiều chùa (có lẽ vì số chùa lúc đó đã quá nhiều) mà chỉ
lo mở mang các trung tâm hoằng pháp lớn của phái Trúc Lâm như các chùa
Vân Yên, Ninh Phúc, Thanh Mai và Côn Sơn thành những đạo tràng tu học.
Nỗ lực chính của ông nhằm hoàn thiện phẩm chất cho Tăng Già để có khả
năng đảm đương nổi các cơ sở Giáo Hội đã phát triển nhanh dưới thời
Pháp Loa. Những năm cuối đời, ông trú trì tại chùa Côn Sơn ( huyện Chí
Linh, Hải Dương).
Một số nhà biên khảo Phật Giáo đã sai lầm mà cho rằng sau khi Huyền
Quang tịch vào năm 1334, dòng thiền Trúc Lâm suy yếu trầm trọng không
còn sinh hoạt. HT Thanh Từ được coi là người hiện nay khôi phục dòng
thiền Trúc Lâm, cũng có quan niệm sai lầm này. Thực ra đời Trần đã suy
yếu từ đời Trần Dụ Tông (1341- 1369). Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư,
ông vua này chiêu tập nhà giầu trong nước vào cung đánh bạc cho vui,
mỗi tiếng bạc đặt 300 quan tiền; lại hoang dâm quá độ. Thượng Hoàng
Trần Minh Tông mặc dù tới năm 1358 mới băng, dường như cũng không ngăn
cản tệ hại này. Thậm chí ông còn chấp thuận việc giết người còn tân
để lấy mật chữa bệnh cho vua Dụ Tông (lên ngôi năm 9 tuổi, sau khi vua
Trần Hiến Tông băng mà không có con). Theo lời khuyên của thầy thuốc
Trần Canh, ông còn cho phép con gái ông là công chúa Thiên Ninh, dù đã
có chồng, loạn luân với em ruột là vua Dụ Tông để chữa bệnh bất lực
cho ông vua 15 tuổi này. Triều đình như vậy, vào lúc trung thần tài
giỏi như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn đã chết, còn Chu Văn An
dâng sớ xin chém đầu bảy nịnh thần không được xét cũng xin từ quan.
Trong nước nhân dân đói khổ. Bên ngoài, Chiêm Thành dưới sự lãnh đạo
của Chế Bồng Nga hàng năm sang đánh phá từ năm 1368. Năm 1372, Hồ Quý
Ly bước lên địa vị quyền uy nhất triều đình Trần Duệ Tông (1372-
1377). Là người thông minh và có tham vọng làm vua, tất nhiên ông có
những biện pháp canh chừng Giáo Hội Trúc Lâm là một thế lực hậu thuẫn
của nhà Trần. Khi nhà sư Phạm Sư Ôn của thiền phái Trúc Lâm khởi loạn
(1389), mặc dù đang chống trả sự tấn công mãnh liệt của quân Chiêm
Thành, họ Hồ vẫn ra lệnh cho Trần Khắc Chân phải đem một nửa quân tiêu
diệt Phạm Sư Ôn. Quân Chiêm Thành tan rã sau khi Chế Bồng Nga chết vì
bị phục kích (1390), Phạm Sư Ôn bị dẹp tan, Hồ Quý Ly hẳn nhiên rảnh
tay tiêu diệt các hậu thuẫn của nhà Trần. Các nhà sư giáo hội Trúc Lâm
có lẽ đã phải mai danh ẩn tích, thậm chí thay đổi tên họ trốn vào các
vùng đất phía Nam. Tiếp theo là thời đô hộ (1407- 1427), nhà Minh chủ
trương đồng hóa toàn diện nước ta, thay thế nền Phật Giáo Việt Nam
bằng Phật Giáo Trung Quốc, thiền phái Trúc Lâm lại phải tiếp tục lẩn
tránh nếu không muốn bị hoàn toàn đồng hóa.
Lê Mạnh Thát (TTTNT, tr. 335) cho rằng thiền sư Kim Sơn mới là tổ thứ
3 của phái Trúc Lâm, vì đó là mỹ hiệu Thượng Hoàng Trần Minh Tông (
làm vua 1314- 1329) gọi ông trước khi băng hà vào năm 1358. Tuy nhiên
cũng chính vua Trần Minh Tông đã ban hiệu cho Huyền Quang (vào năm
1334 ngay sau khi ông tịch) là Trúc Lâm Ðệ Tam Ðại Tự Pháp Huyền Quang
Tôn Giả và cúng dường 10 lạng bạc để xây tháp thờ ông phía sau chùa
Côn Sơn.
Năm 1337 Thiền Uyển Tập Anh ra đời, theo Trần văn Giáp và sau này là
Lê Mạnh Thát. Về tác giả: Lê Mạnh Thát cho là thiền sư Kim Sơn viết
theo lệnh của vua Trần Minh Tông, Nguyễn Lang (Nhất Hạnh) cho rằng đây
là công trình tập thể trong đó bốn người quan trọng nhất là: Thông
Biện (tịch năm 1134), Thường Chiếu (tịch năm 1203), Thần Nghi (tịch
năm 1216) và Ẩn Không là tác giả sau cùng.
Thiền Uyển Tập Anh ghi chép tiểu sử các thiền sư tại nước ta từ thế kỷ
6 tới đầu thế kỷ 13, thuộc ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn
Thông và Thảo Ðường. Sự ghi chép nhiều chỗ rất sơ sài, nhiều vị danh
tăng cùng thời vì không nằm trong ba thiền phái trên nên không được
nhắc tới. Tuy nhiên, đây là tác phẩm lịch sử Phật Giáo Việt Nam cổ
nhất còn truyền lại tới nay, nó trở nên quan trọng vì cung cấp nhiều
tên người, tên đất, về lối sống và tín ngưỡng ở nước ta trong 7 thế
kỷ. Tác phẩm này được Lê Mạnh Thát ( TUTA) dịch và chú giải kỹ lưỡng.
Năm 1350 (đời vua Trần Dụ Tông) sư TUỆ TĨNH thọ đại giới tại chùa Vân
Yên, núi Yên Tử với quốc sư Lãm Sơn. Tuệ Tĩnh (1330- 1399) được suy
tôn là ông tổ thuốc Nam.
Ông sanh năm 1330 tại Hải Dương, cha mẹ mất sớm, làm con nuôi sư trú
trì chùa Hải Triều ở làng Giao Thủy (Nam Ðịnh) từ nhỏ. Sau khi làng
Giao Thủy bị dịch tả, sư Tuệ Tĩnh chuyên tâm nghiên cứu dược tính từng
cây thuốc Nam, đồng thời nghiên cứu theo các bệnh chứng để tìm nguyên
nhân gây bệnh và chọn phương thuốc trị liệu. Ông chủ trương người Nam
dùng thuốc Nam để trị bệnh, không lệ thuộc vào thuốc Bắc nhập cảng từ
Trung Quốc. Thầy thuốc hay không phải chỉ biết công dụng của cây
thuốc, đoán trúng bệnh mà còn phải linh hoạt gia giảm từng phương
thuốc cho từng loại bệnh. Công trình nghiên cứu của ông được đúc kết
thành bộ sách Nam Dược Thần Hiệu. Ông còn diễn tả dược tính của vị
thuốc Nam bằng thơ Ðường và một bài phú chữ Nôm về cách dùng 630 vị
thuốc Nam.
Năm 1374, sư thi đậu Tiến Sĩ, được cử làm trú trì chùa Hải Triều (chùa
Hộ Xá). Tại đây sư mở trường đào tạo lương y cho cả tăng lẫn tục. Sư
biên soạn Hồng Nghĩa Giác Tự Y Thư làm sách cẩm nang trị liệu cho mỗi
chùa. Một phần sách này viết bằng thơ Nôm lục bát. Danh tiếng của sư
vang tận Trung Quốc nên năm 1384 ( Giáp Tí) vua nhà Minh đòi đích danh
nhà Trần phải triều cống sư. Vì sự nhu nhược của các vua cuối đời
Trần, sư Tuệ Tĩnh (cùng nhiều danh tài các ngành khác) phải lên đường
qua Kim Lăng, kinh đô nhà Minh. Sư chữa bệnh cho hoàng hậu và các
hoàng thân quốc thích nhà Minh cho tới khi tịch vào năm 1399 tại Kim
Lăng. Tại đền Xưa, đền Bia, chùa Giám ở Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương còn
di tích của ông. Hàng năm vào ngày 15 tháng 2 âm lịch, chùa Giám mở
hội tế lễ ông. Sách Nam Dược Thần Hiệu được Lê Mạnh Thát dịch và giới
thiệu trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam ( lần lượt được
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam xuất bản từng tập từ năm 2001). Sư
Tuệ Tĩnh còn dịch tác phẩm thiền Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông ra
chữ Nôm, dưới tên Thiền Tông Khóa Hư Ngữ Lục.
Nền y tế công cộng tại nước ta ít nhất đã có từ đầu thế kỷ 14 và tiếp
tục phát triển dưới thời Hồ Quý Ly. Theo văn bia của vua Trần Minh
Tông (1314- 1329) khắc tại chùa Non Nước, Ninh Bình, chùa này đã là
nơi trồng cây thuốc và mở y viện chữa bệnh cho dân. Dưới thời vua Trần
Hiến Tông (1329- 1341), thuốc Hồng Sương Ngọc Hoàn trị bá bệnh được
cấp phát cho dân chúng. Năm 1403, nhà Hồ cho xây Quảng Tế Thự ,một
loại bệnh viện trung ương, danh y châm cứu Nguyễn Ðại Năng được giao
cai quản cơ sở này với chức vụ Quảng Tế Tự Thừa. Ông soạn sách Châm
Cứu Tiếp Hiệu Diễn Ca ghi cách chữa 130 bệnh dùng 140 huyệt châm cứu,
trong đó có 11 huyệt do người nước Nam tìm ra.
Các nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp và sau này Nguyễn Lang, Lê Mạnh Thát
cho rằng sư Tuệ Tĩnh sống vào thế kỷ 17. Lê Mạnh Thát (TTTNT tr. 347)
ghi Chân An Tuệ Tĩnh tịch vào năm 1711. Chúng tôi dựa vào tài liệu của
Tuệ Tĩnh Ðường ( một hệ thống phòng mạch thuốc Nam hiện nay tại VN) vì
sự kiện các nhân tài nước Nam bị đem cống hiến Trung Quốc xảy ra vào
cuối đời nhà Trần.
Năm 1389 nhà sư Phạm Sư Ôn, pháp hiệu Thiên Nhiên, thuộc phái thiền
Trúc Lâm huy động được một số tăng sĩ lãnh đạo hơn vạn người nổi dậy
chống lại triều đình Trần Thuận Tông (1388- 1398) ở Quốc Oai, Sơn Tây.
Lúc đó, quân Chiêm đang tấn công nước ta, chiếm từ Thanh Hóa trở vào.
Triều đình hầu như nằm trong tay Hồ Quý Ly, nhân dân đói khổ, giặc giã
nổi lên khắp nơi, quân Chiêm Thành dưới sự lãnh đạo của Chế Bồng Nga
liên tiếp tấn công. Năm trước, 1388, các tôn thất nhà Trần âm mưu loại
trừ Hồ Quý Ly bị phát giác và bị Quý Ly giết hại khá nhiều.
Lúc đầu thanh thế sư Phạm Sư Ôn rất mạnh. Ông chiếm được kinh đô trong
3 ngày, xưng là Hoàng Ðế, lập triều đình rồi lui về Quốc Oai. Tả Thánh
Dực Tướng Quân Hoàng Phụng Thế tuân lệnh Hồ Quý Ly, tách một phần quân
đang chống giữ quân Chiêm khai lòng sông tiến lên đánh úp, bắt được
Phạm Sư Ôn và các cận thần đem giết. Cuộc khởi nghĩa tan rã (VSTB).
Các tác giả Phật Giáo như Lê Mạnh Thát, Nhất Hạnh, Nguyễn Ðức Sơn đều
cho rằng cuộc khởi nghĩa của sư Phạm Sư Ôn là phản ứng của giới tăng
sĩ Phật Giáo đối với một chính quyền trở thành tồi tệ gây nguy hại cho
nhân dân và đất nước.
Năm 1407- 1428 nước ta bị Trung Quốc đô hộ sau khi nhà Minh tiêu diệt
triều đại nhà Hồ. Hồ Quý Ly truất Trần Thiếu Ðế Án, lên làm vua năm
1400. Cuối năm, nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, lên làm Thái
Thượng Hoàng. Năm 1407 cha con Hồ Quý Ly cùng nhiều quan lại thân cận
(trong đó có Nguyễn Phi Khanh, cha của Nguyễn Trãi) bị quân Minh bắt,
giải về Kim Lăng, kinh đô nhà Minh.
Sau khi diệt được nhà Hồ, nhà Minh sai Trương Phụ tiêu diệt toàn bộ
văn hóa Việt Nam, đem về Trung Quốc tất cả văn bia, sách vở và bất cứ
thứ gì có ghi lại chữ. Ðồng thời họ phổ biến rộng rãi các sách Tư Thư,
Ngũ Kinh, Tinh Lý để đồng hóa dân ta. Sợ Trương Phụ còn để sót lại
những di sản văn hóa Ðại Việt, năm 1418 vua Minh sai hai Nho gia là Hạ
Thanh và Hạ Thi sang nước ta để tịch thu cho bằng hết tất cả các tác
phẩm của Ðại Việt. Nhà Minh còn lập Tăng Cương Ty và Ðạo Kỳ Ty để lo
việc giáo dục Phật Giáo và Lão Giáo theo mẫu mực Trung Quốc.
Trong thời đô hộ này, sư PHẠM NGỌC tại chùa Ðồ Sơn (An Lão, Kiến An)
khởi nghĩa, đánh quân Minh nhiều trận ở vùng trung du và đồng bằng Băc
Bộ, gây thiệt hại đáng kể cho địch. Sư Phạm Ngọc thành lập chính quyền
kháng chiến, xưng là La Bình Vương. Sau ông bị quân Minh bắt, giải
sang Trung Quốc hành hình. Trước đó sư AN QUỐC cũng lãnh đạo một cuộc
kháng chiến chống quân Minh nhưng cuộc khởi nghĩa bị thất bại ngay sau
đó.
Cuộc khởi nghĩa của Giản Ðịnh Ðế (con thứ của vua Trần Nghệ Tông) năm
1407- 1409, nối tiếp bởi Trần Quý Khoách năm 1409- 1413 được gọi là
nhà Hậu Trần, mỗi lần thất bại là một lần nhân dân bị quân Minh và
những tay sai khủng bố dã man, mặc dù chúng luôn luôn nêu cao chiêu
bài phù Trần diệt Hồ để ve vãn tôn thất nhà Trần. Tới cuối năm Ðinh
Dậu (1417) Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn quy tụ được nhiều người tài
giỏi nhưng cũng phải mất 10 năm kháng chiến mới đánh đuổi được quân
Minh ra khỏi đất nước năm 1428, lập nhà Hậu Lê.
Năm 1429 , triều Lê Thái Tổ (1428- 1433) ngày 20 tháng 10 tất cả tăng
sĩ Phật Giáo và đạo sĩ Lão Giáo phải trình diện để khảo thí. Ai thi
đậu được tiếp tục hành đạo, ai thi hỏng bị bắt phải hoàn tục. Cuộc thi
là khảo hạch từ chương của Nho giáo, đòi hỏi thí sinh phải thông thạo
Hán văn.
Năm 1434- 1449 các đời vua Lê Thái Tông (1434- 1442) và Lê Nhân Tông
(1443- 1459), thường xảy ra hạn hán. Mùa hạ năm 1434, vua Lê Thái Tông
sai quan rước Phật chùa Pháp vân về chùa Báo Thiên ở kinh đô để cầu
mưa. Năm 1448, vua Lê Nhân Tông xuống chiếu bắt các quan phải ăn chay
và giữ mình cho sạch để tới chùa Báo Thiên ở cung Cảnh Linh làm lễ cầu
mưa, lại sai quan rước Phật từ chùa Pháp Vân về. Năm 1449, vua lại tổ
chức cầu mưa ở cung Cảnh Linh.
Năm 1440 thiền sư VIÊN THÁI (1400- 1460) dịch Phật Thuyết Ðại Báo Phụ
Mẫu Trọng AÂn Kinh ra chữ Nôm. Theo Lê Mạnh Thát (TUTA, tr. 345), ông
cũng là người dịch tác phẩm Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục
(của thiền sư Kim Sơn) ra thơ Nôm.
Năm 1442 Nguyễn Trãi bị án tru di tam tộc , vì vua Lê Thái Tông chết
trong đêm ngự giá tại trang trại trồng vải ( Lệ Chi Viên) của ông ở
Côn Sơn, có Thị Lộ là thiếp yêu quý của Nguyễn Trãi hầu cận. Nguyễn
Trãi (1380- 1442) là một đại công thần, một nho gia uyên bác và cương
trực đứng đầu văn quan nên bị đa số các tướng lãnh của Lê Lợi vốn chỉ
là võ dõng ganh ghét. Lại nữa Thị Lộ là người được vua Thái Tông tin
yêu, từng bàn luận với nhà vua nhiều đại sự nên càng làm lớn thêm sự
ganh ghét của các võ quan. Nguyễn Trãi được coi là đại anh hùng dân
tộc nên vụ án này bị các sử gia coi là vô cùng oan ức và bất công ngay
cả so với các vụ án hàm oan trong sử sách Trung Quốc.
Sau này, vua Lê Thánh Tông (1460- 1497) giải oan cho ông, hủy bỏ án
đó. Vua Thánh Tông khi mới sinh ra, mẹ con ông đã được Thị Lộ che chở
và Nguyễn Trãi giúp đỡ mới khỏi bị hại bởi những ganh ghét trong nội
cung.
Nguyễn Trãi là tác giả Bình Ngô Ðại Cáo, một tác phẩm chính trị bất
hủ, và Gia Huấn Ca, một tác phẩm sâu sắc giáo dục thanh thiếu niên.
Ông từng học đạo với thiền sư Ðạo Khiêm (1370- 1445, trú trì chùa Tư
Phúc ở Côn Sơn) hơn 10 năm trước khi về sống ẩn dật tại Côn Sơn.
Năm 1460 Á Quận Hầu Ðinh Liệt liên kết với nhiều quan văn võ trong
triều âm mưu đảo chánh, giết bọn tâm phúc của Lạng Sơn Vương Nghi Dân,
lật đổ Nghi Dân, giáng xuống tước Hầu và lập Bình Nguyên Vương Tư
Thành lên ngôi, lấy hiệu là Lê Thánh Tông ( 1460- 1497).
Nghi Dân là con cả của vua Lê Thái Tông, giết Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu
và tự lập làm vua năm 1459. Trong 8 tháng cầm quyền, nhiều quan lại bị
ông ra lệnh giết một cách oan uổng.
Cuộc đảo chánh kết liễu, để ngăn không cho tin tức này tiết lộ ra
ngoài, vua Lê Thánh Tông ra chiếu chỉ cấm tăng sĩ và đạo sĩ không được
liên lạc với nội cung vì các bà hoàng và phi tần là những Phật tử
ngoan đạo. Bốn năm sau, ông lại xuống chiếu cấm dựng thêm chùa mới.
Vì thiên kiến của vua Lê Thánh Tông (là một vị anh quân nhà Lê đưa xã
hội vào quy củ ổn định) đối với Phật giáo, các tác phẩm của dòng Thiền
Trúc Lâm không được giới trí thức ngó ngàng tới. Thậm chí trạng nguyên
Lương Thế Vinh còn bị quan lại triều đình chê cười vì "sáng tác kinh
Phật". Ðể phản ứng lại, Phật giáo dân gian ở nước ta hình thành thể
loại văn học kể hạnh, còn gọi là hát kệ về công hạnh của các thiền sư
đời trước. Nhờ vậy văn Nôm được phát triển trong dân gian vào thời kỳ
này , dù bị Nho gia bài bác "nôm na là cha mách qué!".
Thời vua Lê Thánh Tông, Nho học phát triển rất mạnh. Số tiến sĩ bằng
1/5 tổng số tiến sĩ trong các khóa thi từ thời vua Lý đến triều Thành
Thái (2353 vị), trong đó có 9 trong tổng số 30 trạng nguyên. Ðạo luật
Hồng Ðức được ban vào thời này là một điểm son trong lịch sử luật pháp
VN vì tính cấp tiến và dân chủ của nó. Sau nhiều cuộc Nam chinh, nhà
vua chấm dứt được họa chiến tranh với Chiêm Thành, Lão Qua và Bồn Man
(các nước ở phía Tây và Nam).
Năm 1463 LƯƠNG THẾ VINH ( sanh năm 1440) đỗ trạng nguyên đời Lê
Thánh Tông. Ông làm quan Thừa Chỉ Hàn Lâm Thị Thư, được vua giao việc
thảo những văn thư ngoại giao với nhà Minh. Triều Minh thường khen
ngợi những văn thư ngoại giao này. ông là một trong 28 nhà thơ của hội
Tao Ðàn do vua Lê Thánh Tông lập năm 1495. Ông còn được ca ngợi vê ø
tài toán học, nên thường được gọi là Trạng Lường. Theo Nhất Hạnh
(VNPGSL 2), người ta cho rằng phép đo ruộng thành mẫu, sào, thước ( 24
mét vuông) và tấc (1/10 thước) do ông đaàu7841?t ra. Thực ra, phép đo
này cũng như cách tính xây dựng nhà cửa, thành lũy được chỉ dẫn trong
sách Lập Thành Toán Pháp của Vũ Hữu (1437- 1530) nhà toán học cũng là
một danh thần nổi tiếng thanh liêm dưới triều Lê Thánh Tông, đã từng
làm Thượng Thư bộ Hộ, về hưu năm 70 tuổi mà tới năm 90 tuổi (1527) vẫn
được vua sai mang cờ tiết đi phong vương cho Mạc Ðăng Dung. Toán pháp
nước ta trước đó đã được Hồ Quý Ly đặc biệt lưu tâm. Năm 1397, đồng
thời với việc phát hành tiền giấy, ông ban hành các đồ đo lường (cân,
thước, đấu, thưng) để làm chuẩn trong việc buôn bán. Năm 1404 ông quy
định các người đỗ thi Hương phải qua kỳ thi làm toán pháp mới được
tiếp tục thi Hội.
Dù là một nhà nho lỗi lạc, Lương Thế Vinh vẫn bị các bạn đồng nghiệp
chê cười mãi, còn không được ghi tên trong văn miếu Khổng Tử để thờ
vì bị kết tội là nhà Nho mà "sáng tác kinh Phật". Kinh Phật đó là bài
Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn, còn gọi là Phật Kinh Thập Giới. Ðây là
áng văn Nôm cổ gồm đoạn mở đầu và 10 đoạn nói về 10 giới cô hồn: Thiền
tăng, đạo sĩ, quan liêu, nho sĩ, thiên văn địa lý, lương y, tướng
quân, hoa nương, thương cổ và đãng tử. Mỗi đoạn có một bài tán và kết
thúc bằng bài kệ 8 câu. Nhất Hạnh (VNPGSL 2) cho rằng không phải do
Lương Thế Vinh viết vì bài kệ của đoạn về Thiền tăng có giọng đùa bỡn,
không thể nào do một người có nhiều cảm tình với Phật giáo như Lương
Thế Vinh. Theo Lê Mạnh Thát, Thập Giới Cô Hồn Văn là một tác phẩm của
vua Lê Thánh Tông (1442- 1497), sẽ được ông dịch và dẫn giải trong bộ
Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam.
Lương Thế Vinh tánh bình dị, hay khôi hài, là tác giả những sách:
1- Ðại Thành Toán Pháp và Khải Minh Toán Học: về toán học .
2- Hỷ Phường Phổ Lục: về lịch sử hát chèo
3- Thiền Môn Khoa Giáo ( còn gọi là Thích Ðiển Giáo Khoa): giáo
khoa về Phật học
4- Bài tựa sách Nam Tông Tự Pháp Ðồ. Nam Tông Tự Pháp Ðồ do thiền
sư Thường Chiếu (tịch năm 1203) viết về lịch sử truyền thừa đạo Phật ở
nước ta.
Năm 1521 thiền sư DIỆU VIÊN PHÁP TÍNH (1470- 1550) hô hào học tập quốc
âm ( chữ Nôm), viết Chỉ Nam Ngọc AÂm Giải Nghĩa năm 1521 được coi như
một tự điển viết bằng thơ lục bát gồm 20 ngàn từ Hán và Nôm. Theo văn
bia chùa Ninh Phúc dựng năm 1647: phần từ ngữ Hán chia thành 30 loại
từ thiên văn, địa lý, âm nhạc, hội họa, kiến trúc ... tới dược thảo,
tang lễ ... Bà cũng dịch Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh của Thiền sư
Kim Sơn đời Trần ra quốc âm ( chữ Nôm). Trước khi xuất gia bà là
hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trúc, con của chúa Trịnh Tráng, chánh cung
của vua Lê Thần Tông, mẹ của vua Lê Hy Tông. Dân chúng gọi bà là Bà
Chúa Kim Cương.
Năm 1527- 1592 triều đại nhà Mạc. Mạc Ðăng Dung giết vua Lê Cung
Hoàng, bà Thái Hậu và một số cận thần rồi lên ngôi năm 1527. Sử sách
cũng gọi là Thời Nam Bắc Triều vì từ năm 1532, Nguyễn Kim phò vua Lê
Trang Tông chiếm giữ Thanh Hóa, Nghệ An và vùng trong. Kể từ đó hai
bên khi thì Bắc Triều (nhà Mạc) Nam chinh, khi thì Nam Triều (Trịnh
Kiểm, sau đó là Trịnh Tùng) Bắc tiến. Năm 1592, Trịnh Tùng bắt được
vua Mạc Mậu Hợp đem chém, nhưng con cháu nhà Mạc vẫn còn hùng cứ từ
miền trung du và duyên hải phía Bắc tới Cao Bằng cho tới năm 1667 mới
tuyệt hẳn.
Trong 155 văn bia được dựng trong 65 năm triều đại nhà Mạc còn lại tới
nay, có 110 văn bia dựng tại các chùa và 1 bài minh khắc trên chuông
chùa Tư Phúc, Thái Bình. Ðiều này cho thấy sinh hoạt Phật Giáo dưới
triều đại nhà Mạc cần được nghiên cứu nghiêm chỉnh.
Năm 1558 cuối năm Mậu Ngọ, đời Lê Anh Tông, nhờ sự vận động của chị
mình là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) Nguyễn Hoàng được chúa Trịnh Kiểm cho
phép đem theo bà con và binh sĩ vào trấn thủ Thuận Hóa. Trong những
năm đầu Nguyễn Hoàng luôn luôn chứng tỏ sự thần phục vua Lê và chúa
Trịnh. Trong thời gian 1592- 1599, ông đem quân ra ở luôn tại Bắc Hà,
giúp vua Lê và chúa Trịnh Tùng đánh nhà Mạc, lập nhiều chiến công. Tới
năm 1600, ông mới kéo quân về thẳng Thuận Hóa bằng đường thủy, mở dòng
chúa Nguyễn ở Ðàng Trong. Hậu duệ của ông là Nguyễn Ánh sau này lập ra
triều Nguyễn (1802- 1945). Cho tới khi mất, Nguyễn Hoàng vẫn cố duy
trì mối quan hệ có vẻ thân thiện với chúa Trịnh Tùng, thậm chí năm
1600 ông còn gả con gái cho Trịnh Tráng (con Trịnh Tùng, sau này nối
ngôi chúa Trịnh), để có thể yên ổn củng cố thực lực ở Ðàng Trong. Năm
1601, ông cho dựng chùa Thiên Mụ bên tả ngạn sông Hương ở Huế. Các
chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn sau này coi chùa Thiên Mụ là Ðệ Nhất
Quốc Tự .
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh chỉ bắt đầu từ năm 1627 khi chúa Trịnh
Tráng đem 200 ngàn quân tấn công chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Trong
khoảng thời gian 45 năm, 1627- 1672, hai bên đại chiến 7 lần vào các
năm 1627, 1630, 1635, 1648, 1655, 1661, 1672. Thời này chiến tranh
liên miên khắp đất nước, vì ở Ðàng Ngoài mãi tới năm 1667, tướng Trịnh
là Ðinh Văn Tả đánh chiếm Cao Bằng, Mạc Kính Hoàn phải chạy qua Tầu,
bị nhà Thanh bắt giải giao cho chúa Trịnh, chiến tranh với nhà Mạc mới
thực sự chấm dứt ở Ðàng Ngoài.
Năm 1628- 1715 thiền sư MINH CHAÂU HƯƠNG HẢI. Ông làm quan ở Ðàng
Trong từ năm 18 tuổi, năm 30 tuổi xin từ quan xuất gia. Năm 1682 cùng
50 đệ tử vượt thuyền ra Ðàng Ngoài vì bị chúa Nguyễn Phúc Tần nghi
ngờ. Ðược chúa Trịnh Căn giúp đỡ, trong 30 năm trụ trì chùa Nguyệt
Ðường ở Phố Hiến (1685- 1715) ông dịch và giải các kinh Pháp Hoa,Kim
Cương, Tâm Kinh, Pháp Bảo Ðàn Kinh, Phật Tổ Tam Kinh (Bát Ðại Nhân
Giác, Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo), A Di Ðà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô
Lượng Thọ, soạn Giải Sa Di Giới Luật và các nghi thức Nghi Thức Cúng
Phật Dược Sư, Cúng Cửu Phẩm. Ông là người đầu tiên dịch và chú giải
Bát Nhã Tâm Kinh bằng chữ Nôm. Với hầu như toàn bộ tác phẩm đều viết
bằng chữ Nôm, ông góp phần quan trọng vào việc làm cho nền văn học chữ
Nôm phong phú và rực rỡ. Dù thuộc phái thiền Lâm Tế ( dòng Trí Bảng),
ông vẫn chủ trương pháp tu phối hợp Thiền Tịnh và thiên về lối tiệm tu
của phái thiền Thần Tú. Người bốn phương tìm về cầu đạo với ông rất
đông. Vua Lê Dụ Tông sau lần mời ông vào nội điện lập đàn cầu tự và
thuyết pháp, thường gặp ông để vấn đạo. Ðệ tử đắc pháp với ông mang
pháp tự chữ Chân ( như thiền sư Chân Lý Hiển Mật) lên tới 70 người.
Ông để lại 30 tác tác phẩm Phật học. Tác phẩm quan trọng của ông Sự Lý
Dung Thông gồm 162 câu theo thể thơ lục bát trình bày đường hướng của
ông về lý thuyết và thực tiễn của đời sống người tu thiền Việt Nam,
một lối sống trượng phu trung hiếu, đạo và đời quyện chặt vào nhau. Lê
Mạnh Thát đã dịch và giới thiệu tác phẩm này trong Toàn tập MCHH tr.
388- 405 (nhà xuất bản TP/HCM, năm 2000).
Căn bản nhận thức của phương pháp hành thiền ông chủ trương: Phật và
chúng sinh cùng thể tướng, mê và ngộ cùng thể tướng, tâm và cảnh chung
thể tướng. Vì vậy, không thể cầu an tâm bằng cách chạy trốn sự vật;
giới luật cao nhất là sự vô tâm; giây phút có được cái thấy sáng suốt
không mắc kẹt nhị nguyên thì thành Phật.
Theo Lê Mạnh Thát (MCHH, tr. 17): Vụ cấm đạo năm 1714 tại Ðàng Ngoài
có lẽ phát xuất từ cuộc đối đáp giữa thiền sư Minh Châu Hương Hải và
3 vị tu sĩ Thiên Chúa Giáo người Hòa Lan do quan hiệp trấn Sơn Nam
triệu tập tại chùa Nguyệt Ðường. Trưởng quan hỏi các linh mục một câu,
không linh mục nào trả lời được. Trưởng quan hỏi Hương Hải một câu,
ông trả lời trôi một mạch. Trưởng quan tuyên bố: Ðạo (đạo Chúa) không
bằng Thích (đạo Phật), Hoa Lang (các giáo sĩ Hòa Lan) ngoa dối lời dụ
dỗ để siêu lòng người, đó là tà đạo, chẳng biết nghĩa lý. Ông liền
trình lên chúa Trịnh. Chúa cho kiểm tra lại, 8 tháng sau mới ra lệnh
trục xuất các giáo sĩ về nước.
1647- 1726 Thiền sư CHAÂN NGUYÊN TUỆ ÐĂNG, người có công phục hưng
thiền phái Trúc Lâm, cứu vãn một số tác phẩm quan trọng của thiền phái
này bằng cách sưu tầm, hiệu đính, khắc bản và lưu hành. Ông quê tại
Hải Dương, sau khi đọc hành trạng của Huyền Quang ( tổ Trúc Lâm thứ
ba) trong sách Tam Tổ Thực Lục mà phát nguyện xuất gia năm 19 tuổi với
thiền sư Chân Trú tại chùa Hoa Yên, một trong những tổ đình của phái
Trúc Lâm. Ít lâu sau sư phụ tịch, ông tham học với thiền sư Minh Lương
(phái thiền Lâm Tế, Trung Quốc) ở chùa Vĩnh Phúc. Thiền sư Minh Lương
đã truyền thừa cho ông như sau: Dòng Thiền Lâm Tế trao cho ông, ông
nên kế thừa làm thạnh ở đời. Nhưng sau đó, ông nhận truyền thừa y bát
của phái Trúc Lâm, làm trú trì hai chùa lớn của phái này là Long Ðộng
và Quỳnh Lâm. Vua Lê Dụ Tông phong ông làm Tăng Thống năm 1722.
Mặc dù là một thiền sư thọ giáo cả hai phái thiền Trúc Lâm và Lâm Tế,
ông đã viết ít nhất là 3 tác phẩm về Tịnh Ðộ trong số 14 tác phẩm còn
để lại: Long Thư Tịnh Ðộ Văn, Long Thư Tịnh Ðộ Luật Bạt Hậu Tự và Tịnh
Ðộ Yếu Nghĩa. Hai tác phẩm về luật và nghi thức: Tôn Sư Pháp Sách Ðăng
Ðàn Thọ Giới và Nghênh Sư Duyệt Ðịnh Khoa. Các tác phẩm chữ Nôm của
ông gồm: Thiền Tịch Phú, Nam Hải Quan AÂm Bản Hạnh, Ðạt Na Thái Tử
Hạnh, Thiền Tông Bản Hạnh. Thiền Tông Bản Hạnh gồm 798 câu thơ lục bát
nói về đường lối tu hành của các vị vua đời Trần, làm rõ yếu chỉ của
dòng Thiền Trúc Lâm. Thiền Tịch Phú viết về chùa Long Ðộng là một đỉnh
cao của nghệ thuật phú chữ Nôm, có rất nhiều từ ngữ thuần túy Việt
Nam.
Tư tưởng thiền của Chân Nguyên: tự tính giác ngộ có tính trong sáng,
tròn đầy, hiện hữu một cách bình đẳng nơi mọi loài, mọi vật. Phát hiện
được tự tính đó là giác ngộ thành đạo. Sử dụng ngôn thuyết chỉ là
phương tiện bất đắc dĩ để đối trị vọng tưởng của chúng sanh, vì đọc
kinh thì rất lâu mới hiểu được đạo, mà "nói ra thì mắc kẹt". Công án,
hay những mẩu đối đáp kỳ lạ giữa các tổ và môn đệ, đích thực là ngôn
ngữ Thiền, là phương tiện hữu hiệu để đập vỡ thói quen và thành kiến,
đưa con người ra khỏi bế tắc tâm linh. Công án được Chân Nguyên ưa
thích nhất : Trước khi trời dất chưa sinh, mẹ cha chưa có, bản lai
diện mục của mình là cái gì ? là của tổ Bách Trượng (Trung Quốc) trao
cho Hương Nghiêm. Thiền sư Chân Nguyên cho rằng chìa khóa của sự đạt
đạo là nuôi sáng ý thức mình về sự hiện hữu của cái tự tính trong sáng
tròn đầy nói trên, được như vậy thì mọi hành động của ta tự nhiên đi
vào giác ngộ.
Chân Nguyên là một đại tăng được đương thời kính trọng. Ngô Thời Sỹ,
từng ra lệnh cấm con cháu không được theo Phật và Lão, vẫn kính cẩn
nhắc tới "Chân Nguyên Thượng Nhân" trong Việt Sử Tiêu Án. Ông có nhiều
đệ tử xuất sắc tiếp tục thành công việc phục hồi các tác phẩm của
thiền phái Trúc Lâm đời Trần.
Trước khi tịch, Chân Nguyên trao y bát Trúc Lâm cho thiền sư Như Hiện.
Như Hiện đã được chúa Trịnh Giang tận tình giúp đỡ trùng tu lại hai
ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm là Quỳnh Lâm và Sùng Nghiêm năm 1730,
với gần 10 ngàn thợ làm trong 1 năm trời.
Năm 1695 thiền sư THẠCH LIÊM Thích Ðại Sán (1633- 1704) hướng dẫn
đoàn tùy tùng khoảng 100 người (hơn phân nửa là tăng chúng) tới Ðàng
Trong theo lời mời của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu. Ðoàn hoằng pháp này
cư ngụ tại chùa Thiền Lâm được tu sửa quy mô và cấp tốc trong 3 ngày.
Công tác quan trọng nhất của đoàn là tổ chức đại giới đàn Thiền Lâm từ
ngày 1 tới 12 tháng 4. 1695 (Ất hợi). Trên 3 ngàn giới tử tham dự,
trong đó khoảng 1400 thọ giới tì kheo và sa di từ khắp nơi trong nước,
nhiều hoàng thân quốc thích cũng xin thọ Bồ tát giới. Thiền sư Liễu
Quán đã từ Phú Yên tới đây thọ giới. Thiền sư Thạch Liêm còn chủ trì
một đại giới đàn khác tại chùa Di Ðà, Hội An vào tháng 7 cùng năm. Tuy
nhiên, rất nhiều cao tăng uy tín ở Ðàng Trong không tham dự các đại
giới đàn của ông có lẽ vì ông viết bố cáo về các đại giới đàn cho dán
ở các chùa lời lẽ thiếu khiêm nhường, đánh giá đa số tăng sĩ ở Ðàng
Trong là trai tráng thất học cạo đầu trốn lính. Ông còn đề nghị với
Hữu Thừa Tướng Tống Phúc Tài phải "cuốc hết các cỏ dại này cho lúa tốt
có thể mọc lên". Sau một thời gian nghỉ dưỡng bệnh tại chùa Thiên Mụ
và chờ gió mùa, tháng 6 năm 1696 đoàn của thiền sư Thạch Liêm xuống
thuyền về Quảng Ðông, Trung Quốc. Chuyến đi hoằng pháp này được ông
ghi lại tại chỗ trong tập Hải Ngoại Ký Sự được Viện Ðại Học Huế dịch
và xuất bản năm 1963.
Thạch Liêm là người đa tài, giỏi về nhiều môn từ thi ca, hội họa tới
thủ công, đã để lại nhiều tác phẩm. Tư tưởng của ông: Thiền Tịnh song
tu, Nho Phật nhất trí, tổng hợp Lâm Tế và Tào Ðộng. Nhất Hạnh (VNPGSL
1,tr.187) nhận xét: tư tưởng thiền học của Thạch Liêm không có gì đặc
sắc, kinh nghiệm tu chứng cũng không vững chãi bằng so với các thiền
sư Việt Nam cùng thời với ông như Minh Châu Hương Hải (1628- 1715),
Chân Nguyên (1647 - 1726). Nguyễn Văn Xuân (Phong Trào Duy Tân, Sài
Gòn, Lá Bối 1969) cho rằng Thạch Liêm tới Ðàng Trong chính ra không
phải để truyền giáo mà là để đón nhận số vàng chúa Nguyễn Phúc Chu
cúng dường rất rộng rãi về xây dựng chùa bên Tàu. Quốc chúa Nguyễn
Phúc Chu và bà mẹ của ông là đệ tử rất sùng kính Thạch Liêm. Việc ông
gọi chúa Nguyễn Phúc Chu là quốc vương và bà mẹ của chúa là quốc mẫu
bị Trần Kinh Hòa (Cheng Chin Ho, giáo sư Sử Học của Ðài Loan được Viện
Ðại Học Huế mời qua giảng dạy và dịch những châu bản triều Nguyễn)
nặng lời phê bình (tự phụ, đắc ý tỏ ra mặt, sinh sống xa xỉ, ương gàn
tự thị, dua nịnh quan trường, lời lẽ kiêu căng, có người xem y như yêu
tăng ...) vì chúa Nguyễn chưa xin thụ phong, chưa được nhà Thanh sắc
phong nên chưa thể gọi là vua!!!
1691- 1725 triều đại chúa Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa 1675- 1725). Phật
giáo được chánh quyền hộ trì mạnh mẽ từ sau 1695. Năm 1695, chúa mời
sư THẠCH LIÊM Thích Ðại Sán, thuộc dòng Thiền Tào Ðộng, tới Ðàng Trong
theo đề nghị của quốc sư Hưng Liên, mở hai đại giới đàn trong năm.
Chúa rất khâm phục đạo đức và kiến thức của Thạch Liêm, nên theo lời
đề nghị của ông, Chúa bãi bỏ hình phạt dùng voi xử tư û tội, xét tha
những tù nhân bị oan ức, chuẩn cấp cho kẻ nghèo, bỏ bớt những luật lệ
quá nghiêm khắc. Có lẽ cũng do bản điều trần bố đề nghị của sư Thạch
Liêm, Chúa không còn thanh lọc tăng già bằng cách bắt bớ hay thi cử mà
chú trọng tới việc nâng cao uy tín các cao tăng ở các tỉnh bằng cách
ban biển ngạch sắc tứ và câu đối cho rất nhiều chùa. Các sắc tứ Chúa
ban cho các chùa ký tên Thiên Túng Ðạo Nhân, là đạo hiệu của Chúa
(VNPGSL 1, tr. 190- 193). Chúa tự nhận là "nối dòng Tào Ðộng chánh
tông, đời thứ 30, pháp danh Hưng Long" (nghĩa là đệ tử của Thạch
Liêm). Ông thường so sánh mình với cư sĩ Duy Ma Cật, một trong 10 đại
đệ tử của Phật Thích Ca. Từ năm 1710, Chúa cho đúc đại hồng chung chùa
Thiên Mụ, trùng tu các chùa Thiên Mụ, Kinh Thiên, lập chùa Giác Hoa,
mua cả ngàn sách kinh luật luận cho các chùa.
Năm 1708 sau 6 năm tham cứu công án "muôn pháp về một, một về chỗ
nào?" tổ LIỄU QUÁN trình bày công phu đốn ngộ của mình với thầy là
thiền sư Tử Dung tại chùa Ấn Tôn ở núi Long Sơn, Thuận Hóa. Thiền sư
Liễu Quán (1670- 1742) được coi là người lãnh đạo công cuộc phục hưng
Phật giáo ở Ðàng Trong vào đầu thế kỷ 18. Ông xuất gia năm 12 tuổi tại
chùa Hội Tôn, Phú Yên với thiền sư Tế Viên. Ông học Hán tự vàkinh luật
dễ dàng, được thầy thương yêu. Bảy năm sau, thầy mất. Tang lễ thầy
xong, ông để chùa lại cho các sư huynh trông coi, lên đường vào Thuận
Hóa cầu học với thiền sư Giác Phong năm 1690. Một năm sau, nghe tin
cha bị bệnh, ông xin trở về chăm lo. Trong 4 năm trời, ông lên rừng
đốn củi đổi gạo nuôi cha. Bốn năm sau, cha từ trần. Tang lễ xong, ông
lại lên đường học đạo. Lúc đó sư Thạch Liêm tổ chức đại giới đàn tại
chùa Thiền Lâm, ông tới xin thọ giới sa di. Hai năm sau (1697) ông thọ
giới tỳ kheo tại giới đàn của thiền sư Từ Lâm. Năm 1699, ông lại lên
đường cầu học khắp các tổ đình. Năm 1702, ông gặp thiền sư Tử Dung,
nhận công án "muôn pháp về một, một về chỗ nào?".
Sau khi ngộ được công án trên, thiền sư Liễu Quán hành đạo tại nhiều
đạo tràng từ Huế tới Phú Yên, như chùa Thiền Tông, chùa Viên Thông ở
Thuận Hóa, chùa Hội Tông, Cổ Lâm, Bảo Tịnh ở Phú Yên, hóa độ từ vua
quan tới thứ dân.
Chùa Viên Thông do thiền sư Liễu Quán dựng ở chân núi Ngự Bình. Chúa
Nguyễn Phúc Khoát rất sùng kính hạnh của ông, nhiều lần triệu thỉnh
nhưng ông một mực từ chối. Vì vậy chúa thường tới chùa Viên Thông để
thăm ông và hỏi đạo. Núi Ngự Bình do đấy được gọi là núi Ngự. Ông được
thỉnh làm chủ tọa 4 giới đàn lớn ở kinh đô năm 1733- 1735 có nhiều cao
tăng và quan lại tham dự. Năm 1740 ông chủ tọa giới đàn Long Hoa. Năm
1742 vài tháng trước khi tịch, ông còn được thỉnh làm Hòa Thượng Ðường
Ðầu giới đàn chùa Viên Thông. Ðệ tử thọ giới với ông xuất gia và tại
gia gần 4 ngàn người.
Ông thuộc đời thứ 35 dòng Lâm Tế, đã làm cho thiền phái này mang màu
sắc dân tộc ở Ðàng Trong, trút bỏ dần màu sắc Trung Quốc (Quảng Ðông)
trong lễ nhạc. Không những thế, ông còn là thiền sư đầu tiên ở Ðàng
Trong đưa ra bài kệ truyền phái (Thật Tế Ðại Ðạo,Tánh Hải Thanh
Trừng,Tâm Nguyên Quảng Nhuận) cho thiền phái của ông. Bốn đại đệ tử
của ông là các thiền sư Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế Nhân và Từ Chiếu đã tạo
được 4 đạo tràng lớn và hàng chục tổ đình.
Ðinh Quang Mỹ ( Thiền Trúc Lâm, sđd) cho rằng trong thiền sử nước ta,
nơi thiền sư Liễu Quán mới thấy có dấu hiệu thực hành công án.
Phong trào phục hưng Phật giáo ở nước ta vào thế kỷ 20 chủ yếu phát
xuất từ các cơ sở của phái Liễu Quán.
Năm 1709 đại sư CHAÂN DUNG TÔNG DIỄN tịch. Ông sanh năm 1640, nổi danh
về gương hiếu hạnh được đại chúng ca ngợi qua danh hiệu Hòa Thượng Cua
vì đã âm thầm hóa độ và giải nghiệp sát hại cua cho bà mẹ. Ðiển tích
Hòa Thượng Cua hóa độ cho mẹ ý nghĩa sâu sắc hơn điển tích Mục Kiền
Liên cứu mẹ khỏi địa ngục.
Ông được thiền sư Thủy Nguyệt (1636- 1704, đã cầu học dòng Thiền Tào
Ðộng ở núi Phụng Hoàng, Trung Quốc) truyền tâm ấn. Thủy Nguyệt từng
khen ngợi khi cho ông pháp hiệu Thông Giác: Ngươi là con cháu xứng
đáng của tông Tào Ðộng.
Ông đã cứu Phật giáo khỏi pháp nạn vào đời vua Lê Hy Tông (1676-
1705). Nhà vua nghe lời các nho thần, ra lệnh cho các sư phải bỏ chùa
vào rừng núi tu cho thanh tịnh, không được ở nơi thành thị. Ðại sư
Tông Diễn nghe tin này quá đau lòng vì các nhà sư là người chủ trì
nghi thức quan hôn tang tế, thầy dạy học chữ Hán, thầy thuốc và người
nuôi dạy trẻ mồ côi cho dân làng. Ông liền đến kinh đô, nghĩ kế xin
dâng vua viên ngọc quý để được yết kiến vua. Vua không cho ông vào
cung, ra lệnh nếu có ngọc, vua sẽ sai quan ra nhận. Sau ba tháng chờ
đợi không được vua vời, ông viết một tờ biểu trình bày giáo lý đạo
Phật đẹp đẽ như viên ngọc quý soi sáng mười phương, xóa tan mây mờ vô
minh. Ông để tờ biểu vào một hộp rất đẹp dán kín lại, rồi trình với
quan coi thành: nếu vua không cho sư gặp, xin cử một quan văn thanh
liêm trung trực, trai giới ba ngày ra nhận ngọc quý. Vua ưng thuận.
Trao hộp cho viên quan, ông căn dặn không được mở ra mà phải trình đến
tay vua. Tại triều, vua sai mở hộp, chỉ thấy tờ biểu, vua sai đọc lên.
Nghe được lời lẽ trong sáng, ý tứ thâm sâu, vua chợt tỉnh ngộ nhận ra
quyết định sai lầm của mình. Vua cho vời ông vào triều, tham vấn đạo
lý. Nhân đó vua Lê Hy Tông thâu hồi lệnh đã ban, cho phép các sư được
trở về chùa cũ tiếp tục hoằng pháp độ sanh. Ðể chứng tỏ sự thành tâm
sám hối, vua sai tạc tượng hình Phật Thích Ca đứng trên lưng nhà vua
đang quỳ mọp xuống. Tượng này hiện còn để ở chùa Hòe Nhai, bên chánh
điện. Trong cuốn Thiền Tông Bản Hạnh, thiền sư Chân Nguyên ca ngợi sự
sáng suốt và tích cực sám hối này cửa vua, gọi Lê Hy Tông là Hoàng
Giác Lê Gia (ông vua giác ngộ nhà Lê).
Khi về trụ trì ở chùa Ðông Sơn (Hải Dương), ông ra sức hoằng hóa tông
Tào Ðộng. Học giả bốn phương nghe tiếng ông, tới tìm học rất đông.
Phái Tào Ðộng nhờ sự truyền bá của ông, trở thành thịnh hành ở Ðàng
Ngoài vào cuối thế kỷ 17 qua thế kỷ 18. Ở Ðàng Trong, tông Tào Ðộng
được biết đến nhờ nỗ lực của thiền sư Thạch Liêm với sự giúp đỡ nhiệt
thành của Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1695 (xin xem phần trên).
Năm 1780 NGUYỄN GIA THIỀU (1741- 1798) dựng chùa Thiên Tích. Mẹ ông là
con gái chúa Trịnh Cương. Năm 1782, ông được chúa Trịnh phong tước Ôn
Như Hầu. Ông là người văn võ song toàn. Bức tranh Tống Sơn Ðồ của ông
được nhiều người khen ngợi. Các bản nhạc Sở Từ Ðiệu và Trung Sơn AÂm
do ông soạn được lưu hành rộng rãi. Ông còn là kiến trúc sư dựng chùa
Thiên Tích và trang trí nội thất cho phủ chúa Trịnh. Trong thời gian
làm Tổng Binh Hưng Hóa, vì bất mãn với chúa Trịnh, ông hay say sưa. Có
lẽ ông nghiên cứu đạo Phật trong thời kỳ này. Năm 1789, Nguyễn Huệ
diệt xong chúa Trịnh, kêu gọi nhân sĩ Bắc Hà ra làm việc trở lại, ông
giả bệnh và giả điên để từ khước lời mời. Có lẽ ông viết Cung Oán Ngâm
Khúc trong giai đoạn này. Trong khúc ngâm 356 câu thơ Nôm theo thể
song thất lục bát đó, ông dùng triết lý đạo Phật để giải thích những
khổ đau của cuộc đời qua thân phận người cung nữ, một cách tiêu cực
nên không tìm được biện chứng giải thoát tích cực của đạo Phật. Theo
Nguyễn Hưng Quốc (Vào Cõi Thơ Xưa, tạp chí Thế Kỷ 21 số 15, tháng
7.1990), ngôn ngữ thơ ông nhiều hình ảnh, cực kỳ chải chuốt điêu
luyện, mỗi chữ mỗi câu là một cân nhắc đắn đo. Cung Oán Ngâm Khúc là
một trong những đỉnh cao của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa qua ảnh hưởng
của Phật Giáo trong văn học VN từ giữa thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19.
Năm 1786- 1801 Một số chùa trong vùng Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam bị tàn
phá vì đây là nơi giao chiến giữa quân chúa Trịnh và chúa Nguyễn, giữa
quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Lực lượng bảo vệ Ngũ Hành Sơn của Nguyễn
Ánh do Nguyễn Công Thái, một cựu tướng Tây Sơn về hàng Nguyễn Ánh.
Chiếm được Quảng Nam, quân Tây Sơn lại trưng dụng nhiều chùa làm doanh
trại. Trước đó, một số chùa ở Huế như chùa Báo Quốc bị quân Tây Sơn
chiếm năm 1776 biến thành nơi trú quân. Chùa Thiền Lâm ở xã An Cựu,
Huế, do thiền sư Thạch Liêm xây dựng cũng bị thái sư nhà Tây Sơn (Bùi
Ðắc Tuyên) chiếm để ở. Năm 1786, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt
họ Trịnh, một số chùa ở miền Bắc như chùa Bà Ðá (Linh Quang Tự) bị
thiêu hủy.
Sau khi lên ngôi vua (1802), vua Gia Long khuyến khích hoàng tộc tu
sửa lại các chùa này. Hoàng hậu Hiếu Khương sửa chùa Bảo Quốc, công
chúa Ngọc Nghiên sửa chùa Tuệ Lâm, Thừa Thiên Cao Hoàng hậu sửa chùa
Thiền Lâm, công chúa Ngọc Duệ sửa chùa Thiên Thai ... Năm 1815, vua
Gia Long sắc tu bổ lại chùa Thiên Mụ. Năm 1826 vua Minh Mạng cho tu
sửa chùa Thánh Duyên ở cửa biển Tư Hiền, Thừa Thiên, bị phá hủy trong
chiến tranh với quân Tây Sơn.
Năm 1795 Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm độc đáo của
Thiền Tông Việt Nam được khắc in rất đẹp. Tác giả là HẢI LƯỢNG Thiền
Sư (Ngô Thời Nhiệm 1746- 1803), Hải AÂu ( Vũ Trinh 1726- 1823) và Hải
Hòa ( Nguyễn Ðăng Sở). Cả ba đều là những tên tuổi lớn trong văn giới,
những trí thức lớn thời đại xuất thân từ các danh gia vọng tộc. Ngô
Thời Nhiệm đã từng là Binh Bộ Thượng Thư thời vua Quang Trung, một tay
thảo tất cả văn kiện ngoại giao dưới triều Tây Sơn được triều đình nhà
Thanh nể vì. Có thể là Ngô Thời Nhiệm đã thai nghén tác phẩm này trong
giai đoạn 1782- 1786, khi ông đi trốn sự trả thù của chúa Trịnh Tông
(sau khi cướp ngôi chúa của Trịnh Cán).
Trong phần mở đầu, Ngô Thời Nhiệm trình bày tiểu sử ba vị tổ thiền
phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, rồi viết về
ông và tự gọi là Trúc Lâm Ðệ Tứ Tôn ( nghĩa là tổ thứ tư). Phần chính
của tác phẩm này là 24 chương về 24 Thanh, luận bàn về 24 vấn đề liên
hệ đến giáo lý Nho và Phật. Mỗi Thanh bắt đầu bằng một bài dẫn, sau đó
là phần trình bày sự kiện có khi được bàn luận ngang dọc giữa thầy
trò, sống động như một vở kịch nhưng không cực đoan. Cuối cùng là lời
bình giải của thiền sư Hải Lượng (Ngô Thời Nhiệm).
Theo Ðinh Quang Mỹ (Thiền Trúc Lâm ), Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh
dùng bút pháp chỉ thẳng của Thiền Tông, văn phong của Nam Hoa Kinh tạo
lối hành văn nửa hư nửa thực, vận dụng biện chứng âm dương của Kinh
Dịch giải thích các tư tưởng trừu tượng của Ðại Thừa và diễn rộng tư
tưởng kinh Lăng Nghiêm để tả các hoạt động cực kỳ tế nhị của chân tâm.
Theo Nhất Hạnh (Nguyễn Lang, VNPGSL 2, tr. 229), Trúc Lâm Tông Chỉ
Nguyên Thanh không phải là công trình đem đạo Phật về với đạo Nho mà
trong đó Nho và Phật không còn phân biệt nữa. Với Hải Lượng, tuệ giác
nằm trong lòng sự sống nên cuộc sống là quan trọng chứ không phải hình
thái ý thức hệ.
Ngô Thời Nhiệm theo học Phật từ hồi còn trẻ, có thể là với thiền sư
Tính Quảng. Lúc làm quan ở trấn Kinh Bắc năm 1775, ông đã dâng Phật
hiệu cho cha ông (Ngô Thời Sĩ, người ra lệnh cho con cái chỉ được theo
Nho, cấm không được theo Phật hay Lão) là Nhị Thanh Trường Thọ Quán Tự
Tại Phúc Lượng Ðại Hải Chân Như Vô Tận Ý Bồ Tát. Vào khoảng 1798- 1799
nhận thấy tương lai nhà Tây Sơn không còn, ông về ẩn dật, lập thiền
viện Trúc Lâm ở phường Bích câu. Uy tín của ông đã lôi cuốn được nhiều
trí thức lớn vào thiền phái Trúc Lâm. Trước đó, Trúc Lâm Tông Chỉ
Nguyên Thanh đã ghi có 26 người tham dự cuộc "thiền đàm" này. Chính
tại thiền viện Trúc Lâm, ông đã viết Tam Tổ Hành Trạng về tiểu sử của
Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Lê Mạnh Thát (TTTNT, TR.334-
335) cho rằng chính do ảnh hưởng của Hải Lượng Thiền Sư Ngô Thời Nhiệm
mà Huyền Quang được coi là tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm. Theo
ông, chính thiền sư Kim Sơn mới là tổ thứ ba của Trúc Lâm, qua sự xác
nhận của vua Trần Minh Tông trước khi băng hà vào năm 1358. Năm 1803,
Ngô Thời Nhiệm được lệnh triều đình mới ra trình diện Tổng Trấn Bắc
Thành và bị vua Gia Long sai đánh đòn tại Văn Miếu. Ông từ trần vì
trận đòn nặng tay này.
Sự quy tụ đông đảo trí thức lớn đương thời tại thiền đường Trúc Lâm
của Hải Lượng Thiền Sư (vào lúc đường công danh của ông không còn sáng
sủa) cho thấy thiền phái Trúc Lâm vẫn tiếp tục trường tồn, chứ không
phải bị tàn lụi sau khi tổ Huyền Quang tịch (năm 1334) như một số quan
niệm sai lầm hiện nay. Từ thế kỷ 15 , sau khi Lê Lợi dành lại độc lập
cho đất nước, lập nhà Hạâu Lê, các công thần như Trần Nguyên Ðán và
cháu ngoại ông là Nguyễn Trãi hẳn đã vận động để Phật Giáo trở thành
một trong các đề tài thi bắt buộc ở thi Ðình, mà đa số câu hỏi liên hệ
tới dòng thiền Trúc Lâm. Trước Hải Lượng Thiền Sư, Chân Nguyên Tuệ
Ðăng Thiền Sư (1647- 1726) nỗ lực phục hồi dòng thiền Trúc Lâm bằng
cách cho khắc in các tác phẩm của các tổ Trúc Lâm và dặn dò đệ tử tiếp
tục công trình này, lại còn viết Thiền Tông Bản Hạnh về đường lối tu
tập của các vị vua đầu nhà Trần. Sau Hải Lượng, thiền sư An Thiền
Phúc Ðiền (1790- 1860) viết và cho in Ðại Nam Thiền Uyển Kế Ðăng Lược
Lục vào năm 1858 ghi danh sách 23 vị tổ sư thuộc truyền thống Yên Tử,
khởi đầu từ Hiện Quang Tổ Sư (tịch năm 1221) và chấm dứt ở Vô Phiền
Ðại Sư. Phần kế tiếp, trong tác phẩm Ngự Chế Thiền Ðiển Thống Yếu Kế
Ðăng Lục, thiền sư Như Sơn ghi 6 đời truyền thừa của Chân Nguyên (được
coi là nối tiếp truyền thống Trúc Lâm) từ 1700 tới 1850: Như Trừng,
Tính Tuyên, Hải Quýnh, Tịch Truyền, Chiếu Khoan và Phổ Tịnh.
Năm 1826 vua MINH MẠNG (1820- 1840) ban sắc dụ khởi đầu việc bổ nhiệm
và sắc phong các tăng sĩ. Sắc dụ này bổ nhiệm hai vị sư ở Huế làm trú
trì các chùa ở Thủy Sơn (thuộc Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam) và 4 nhà sư
tháp tùng. Mỗi vị được cấp một chứng thư độ điệp chính thức. Sắc dụ và
độ điệp ghi tục danh, không ghi pháp danh. Năm 1830 ,vua triệu tập cao
tăng các tỉnh về kinh, giao cho Bộ Lễ xem xét để cấp giới đao và độ
điệp. Có tất cả 53 vị được cấp. Theo chế độ bổ nhiệm này, tăng sĩ được
phân loại :Tăng Cang là các bậc đại sư cao cấp, Trụ Trì là vị lãnh đạo
tăng chúng trong chùa, Ðại Sư là vị thầy giáo thọ trong chùa, Tăng
Chúng là các tăng sĩ còn lại trong chùa. Khi vị trú trì phát triển
chùa như chùa Tam Thai, số tăng sĩ tăng thêm gồm: 1 trú trì, 2 đại sư,
7 tăng chúng. Vì chùa Tam Thai lớn nhất nên vị trú trì được sắc phong
Tăng Cang và trở thành vị lãnh đạo các chùa tại hòn Thủy Sơn. Trong
Ngũ Hành Sơn, Thủy Sơn được coi là ngọn núi của chùa chiền. Ðại sư Từ
Trí (tục danh Nguyễn Viết Lư) là người đầu tiên được sắc phong Tăng
Cang dưới triều Minh Mạng. Chức Tăng Cang được ban từ thời Gia Long.
Năm 1815 vua Gia Long triệu thỉnh thiền sư Mật Hoàng từ chùa Thập Tháp
(Bình Ðịnh) về kinh, ban cấp chứng chỉ Tăng Cang và giao cho trú trì
tổ đình Quốc AÂn (do tổ Nguyên Thiều khai sơn).
Thời vua Minh Mạng, các tăng sĩ được triều đình trợ cấp hàng tháng như
sau: Tăng Cang 1 vuông gạo ( 40 lít) và 3 quan tiền, Trụ Trì 1 vuông
gạo và 2 quan tiền, Tăng Chúng 2 vuông gạo và 1 quan tiền. Tăng Cang
được triều đình cấp mũ Hiệp Chưởng để đội khi vào triều. Loại mũ này
sau đó được dùng trong những pháp hội trai đàn. Ngày nay, trong những
lễ lớn, các Trưởng Lão Hòa Thượng cũng đội mũ này. HT Thanh Ninh Tâm
Tịnh, tổ khai sơn chùa Tây Thiên (Huế) cũng chế ra Áo Nhật Bình làm lễ
phục cho chư tăng.
Vua Minh Mạng muốn thống nhất việc tu hành Phật giáo nên ra lệnh các
sư sãi Việt gốc Miên phải mặc áo cổ vuông và ăn chay như các sư Ðại
Thừa nhưng bị người Việt gốc Miên tại miền Nam phản đối quyết liệt,
nhà vua phục thiện đành bãi bỏ lệnh này. Ðể giữ giới không sát sanh,
sư sãi Việt gốc Miên không ăn chay, chỉ cần không tự tay giết con vật
là đủ. Họ đắùp y để hở vai phải nên áo không có cổ.
Năm 1847 thời vua Thiệu Trị (1841- 1847) tổng đốc NGUYỄN ÐĂNG GIAI
(mất năm 1854) giúp tổng đốc Hà Nội Ðặng Văn Hòa trùng tu chùa Một Cột
và tô lại tượng. Ông cũng xây dựng chùa Liên Trì. Ðại Nam Chính Biên
Liệt Truyện sau khi ca ngợi công trạng của ông trong những lãnh vực
khác, đã phê phán các hoạt động Phật sự của ông như sau: tiếc vì
chuộng đạo Thích, dựng chùa thờ Phật, luôn mê hoặc người.
Năm 1849 ÐOÀN VĂN HUYÊN (1807- 1856) khai lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ
Hương tại chùa Long Kiến ở núi Báu (Bửu Sơn), Long Xuyên. Ông sanh tại
Sa Ðec, làm nghề nông thường đọc sách Phật từ lúc còn trẻ. Năm 1849
nông dân mất mùa lại bị bệnh thời khí hoành hành ở miền Nam, ông lái
xuồng đi nhiều nơi chữa bệnh cho nhiều người bằng nước lạnh và phù chú
vừa khuyên bệnh nhân tu niệm. Do đó nhiều người theo ông, coi ông như
vị Phật sống. Chính ông cũng tự nhận là Phật Thầy. Bấy giờ thời vua Tự
Ðức, tổng đốc An Giang nghi ông muốn nổi loạn, bắt ông tại vùng Long
Kiến đưa về Châu Ðốc xét xử về tội "gian đạo sĩ ". Nhưng ông được tha
tội, chỉ bị bắt buộc phải tu tại chùa Long Kiến. Tại đây có lẽ ông quy
y với vị trú trì là HT Tiên Giác Hải Tịnh, được mang pháp danh Pháp
Tạng, đạo hiệu Giác Linh, đời 38 phái Lâm Tế dòng Bổn Nguyên (như ghi
trong mộ bia của ông bên hông Tây An Cổ Tự). Có tài liệu cho rằng ông
còn cầu pháp với HT trú trì chùa Long Thạnh, Bà Hom. Trong năm 1849
tại chùa Long Kiến, ông lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ðệ tử của ông
sau này xưng tụng ông là Phật Thầy Tây An và gọi chùa Long Kiến là Tây
An Cổ Tự. Sau khi giáo chủ Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Hòa Hảo, Tây An
Cổ Tự trở thành chùa lớn thứ hai của đạo Hòa Hảo. Năm 1975, Cộng Sản
dành quyền quản lý, giao cho 2 cán bộ trông coi. Họ cấu kết với các
cán bộ địa phương đem bán đi nhiều cổ vật quý giá được coi là bảo vật
của chùa.
Bửu Sơn Kỳ Hương được coi là hình thức địa phương hóa Phật giáo trong
môi trường nông dân chất phác, ít học của đồng bằng Nam Bộ. Ðoàn Văn
Huyên chủ trương một pháp môn dễ hiểu, dễ áp dụng: Tùy trình độ và
hoàn cảnh mà hóa độ – Hành sử tứ ân là ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước,
ơn Tam Bảo và ơn đồng bào nhân loại - Thiền Tịnh song tu, vừa tu Thiền
vừa trì niệm danh hiệu A Di Ðà để được vãng sanh – Phước Huệ song tu.
Ông để lại cuốn Sấm Giảng bằng chữ Nôm, được Lê Mạnh Thái dịch ra quốc
nhữ và sẽ cho xuất bản trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo.
Tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương có những người trở thành anh hùng dân tộc
kháng chiến chống thực dân Pháp như Trương Công Ðịnh (1820- 1864,
chiếm tỉnh Gò Công năm 1862), Nguyễn Trung Trực (1837- 1868, đốt tàu
chiến Esperance của Pháp trên sông Nhật Tảo năm 1861), Trần Văn Thành
(?- 1873) khởi nghĩa tại Láng Linh năm 1867.
Ðệ tử của Phật Thầy Tây An cho rằng sau khi tịch, ông qua 4 lần chuyển
kiếp thị hiện nơi Ðức Phật Trùm ở núi Tà Lơn, đức Bổn Sư núi Tượng, Sư
Vãi Bán Khoai ở Cao Miên và Ðức Huỳnh Giáo Chủ ở làng Hòa Hảo. Ðức
Phật Trùm xuất hiện năm 1868, sử dụng lòng phái màu đỏ có dấu Bửu Sơn
Kỳ Hương. Ông là người gốc Miên, truyền đạo sang cả đất Miên, bị thực
dân Pháp bắt đi đầy một thời gian. Ðược thả về, ông tịch tại núi Tà
Lơn năm 1875.
Ðức Bổn Sư núi Tượng là Ngô Lợi (1831- 1890), lập đạo Tứ AÂn Hiếu
Nghĩa năm 1872 tại xã An Lộc, An Giang, khai triển nguyên lý Hành Sử
Tứ AÂn và sử dụng lòng phái có dấâu Bửu Sơn Kỳ Hương. Pháp tu của Tứ
AÂn Hiếu Nghĩa tổng hợp: trì niệm theo Thiền Tịnh – Xử sự theo Nho
giáo – Luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo – Ấn quyết, thần chú theo
Mật giáo. Trong 12 năm (1876- 1888) thực dân Pháp với tay sai đắc lực
là Tổng đốc Trần Bá Lộc đã đàn áp vô cùng dã man đạo này cả thảy 7 lần
(đốt chùa, đốt nhà, bắt bớ tra tấn tín đồ...). Sau khi Ngô Lợi tịch,
không có ai đủ khả năng nối pháp nên pháp môn này bị phân hóa trầm
trọng.
Sư Vãi Bán Khoai được coi là một nhà sư dáng gầy, ăn mặc kiểu đàn bà,
chèo thuyền bán khoai vừa đọc giảng " Sấm Giảng Người Ðời ", một bài
kệ lục bát dài vừa có tính cách khuyến tu, vừa là sấm ký. Ông xuất
hiện năm 1902, một thời gian ngắùn sau thì mất dạng.
Năm 1859 Hòa Thượng AN THIỀN PHÚC ÐIỀN (1790- 1860) chùa Liên Tông (Hà
Ðông) chỉ đạo các đệ tử ông tại chùa Bồ Sơn (Bắc Ninh) thực hiện bản
khắc gỗ 5 tác phẩm Thiền Tông đời Trần gọi là Truyền Ðăng Ngũ Quyển
Tân Tư gồm: Thiền Uyển Tập Anh, Thánh Ðăng Lục, Tam Tổ Thực Lục, Thiền
Ðiển Thống Yếu Kế Ðăng Lục và một số tài liệu khác ông gọi là "ngoại
khoa tạp lục". Ông viết bài tựa cho tác phẩm này. Những bản khắc gỗ
này được bảo quản gần 100 năm thì bị một số người lấy làm củi nấu cơm
trong thời chiến tranh 1946- 1954!
Bộä sách quan trọng của ông Ðạo Giáo Nguyên Lưu (3 quyển), còn có tên
là Tam Giáo Thông Khảo., có lẽ được in năm 1845 vì bài tựa do Nguyễn
Ðại Phương viết vào năm này. Quyển thứ nhất nói về đạo Phật qua các đề
mục về: việc du học của thiền sư Tính Tuyền Trạm Công, các bản kinh
khắc ở nước ta, khởi thủy Thiền học nước ta, các tháp Phật ở nước ta,
Thiền phái Vô Ngôn Thông, các danh tăng ở triều đình, các danh tăng
đời Lê, các danh tăng đời Lý, các danh tăng đời Trần, Thiền phái Tỳ Ni
Ða Lưu Chi, Thiền phái Thảo Ðường, những truyền thuyết kỳ bí liên quan
đến các thiền sư nước ta qua các triều đại, danh từ Phật học và các
thần thoại Phật Giáo Trung Hoa và Việt Nam. Quyển hai và ba nói về
Khổng và Lão Giáo. Bộ sách này sẽ được Lê Mạnh Thát dịch và giới thiệu
trong tương lai trong bộ Tổng Tập Văn Học Phật Giáo.
Ông là người khai sơn chùa Thiên Quang (núi Ðại Hùng, Hà Nội). Nhất
Hạnh (VNPG SL 2, tr. 252 và 255) cho rằng An Thiền Phúc Ðiền là hai
người (An Thiền và Phúc Ðiền).
Năm 1861- 1865 tháng 2. 1861, quân Pháp do đô đốc Charner chỉ huy đánh
chiếm đồn Kỳ Hòa ở Gia Ðịnh. Sau đó quân Pháp trưng dụng 4 ngôi chùa
nổi tiếng của Gia Ðịnh là chùa Khải Tường, Cây Mai, Kiểng Phước và đền
Hiếu Trung lập phòng tuyến gọi là " Lignes des Pagodes" (phòng tuyến
các chùa). Tượng Phật bị lôi ra ngoài, sư tăng bị đuổi khỏi chùa. Chùa
Khải Tường từng được sắc phong là "Quốc AÂn Khải Tường", xây năm 1843,
sau này bị Pháp biến luôn thành trường học. Chùa Kiểng Phước tới năm
1866 chỉ còn vài thanh gỗ mục. Chùa Cây Mai bị biến thành lô cốt rồi
thành nhà giam. Ðền Hiếu Trung còn lại vài bức tường nằm trong doanh
trại lính Pháp. Quân Pháp cũng cho triệt hạ nhiều chùa khác: chùa Pháp
Võ và Kim Tiên ở Chợ Quán (1863), chùa Phước Hưng ở Chợ Lớn (1864),
chùa Kim Chương, Phật Lớn gần thành Ô Ma, chùa Phước Hải ở khu bệnh
viện Chợ Rẫy sau này, Chùa Gia Ðiền ở Chợ Quán (1865).
Tháng 6. 1867 Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, lập chính quyền bảo hộ
trên toàn Nam Bộ. Cụ Phan Thanh Giản tuẫn tiết bằng thuốc độc ngày 7
tháng 8. 1867.
Pháp bắt các tăng sĩ đi lính và đóng thuế thân, các chùa muốn tổ chức
trường hương (an cư kiết hạ) phải xin phép trước. Hậu quả của pháp nạn
này tại miền Nam có thể thấy qua bản phúc trình chép tay "Monographie
de la province de Gia Dinh" của J.Ch. Balencie năm 1899: Gia Ðịnh lúc
đó có 305 chùa, trong đó có 43 chùa Hoa. Tu sĩ có 82 tăng, 49 ni. Phật
tử 211,194. Nghĩa là trên phân nửa chùa không có tăng ni coi sóc. Phúc
trình năm 1902 của cùng tác giả cho biết tình hình Phật giáo tại Gia
Ðịnh 3 năm sau: 412 chùa, 132 tăng, 55 ni, 212,194 Phật tử (PGNB,
tr.31).
Năm 1866 Ðoàn Hữu Trưng, con rể Tùng Thiện Vương, cùng hai em vận động
đám dân công xây lăng Tự Ðức ở làng An Truyền, Huế nổi loạn để tôn
Ðinh Ðạo (con của Hồng Bảo là người anh bị truất của vua Tự Ðức) lên
làm vua. Họ sử dụng chày đâm vôi của các thợ xây lăng dùng làm võ khí
nên gọi là Giặc Chày Vôi. Ðoàn Hữu Trưng là người tài hoa, soạn bài vè
lục bát Trung Nghĩa ca dài 498 câu trong thời gian bị giam kể lại diễn
tiến cuộc nổi loạn này. Ông vận đọâng được các chùa Long Quang, Pháp
Vân làm chỗ cất dấu chày vôi. Nhiều học tăng các chùa cũng tham dự
cuộc khởi nghĩa này. Quân khởi nghĩa lên tới ngàn người tuyên bố bãi
bỏ việc xây lăng, truất phế đương kim hoàng đế, lập Ðinh Ðạo làm vua.
Ðêm 8 tháng 9 (năm Bính Dần) họ đã tiến vào được nội cung, suýt giết
được vua Tự Ðức thì Ðoàn Hữu Trưng cho dừng lại để rước Ðinh Ðạo vào
nội cung nên bị quân triều đình phản công, dẹp tan. Các người lãnh đạo
bị bắt và bị xử tử, tăng ni bị bắt hoàn tục gần hết. Kinh đô lúc đó
chỉ còn 24 ngôi chùa với 24 vị trú trì mà thôi.
Sự trả thù của vua Tự Ðức tạo nên một pháp nạn nặng nề tại miền Trung.
Hoàng phi Lệ Thiên, chánh cung của vua Tự Ðức là đệ tử của thiền sư
Liễu Triệt, đã khẩn khoản xin vua tha tội chết cho nhiều tăng ni.
Tự Ðức (1847- 1883) thực ra không phải là ông vua kỳ thị Phật Giáo.
Năm 1849 vua ra lệnh các chùa công như Thiên Mụ, Giác Hoàng, Thánh
Duyên, Tam Thai ... mỗi chùa phải được chủ trì bởi một Tăng Cang (có
lãnh lương bổng của triều đình) để lo việc tu học của tăng chúng. Năm
1853 ông lại ban cấp ruộng đất cho các chùa Thiên Mụ, Diệu Ðế, Thánh
Duyên, Linh Hựu, Long Quang, Tam Thai, Ứng Chân và Khải Tường. Thời Tự
Ðức, trong những lễ Phật lớn, tăng ni các nơi vân tập về chùa Báo Quốc
ở Huế nghe các vị cao tăng thuyết pháp từ một đài cao được dựng để tôn
vinh các ngài.
Năm 1884 Pháp đánh Bắc Kỳ từ tháng 11.1983. Ngày 6.6.1884 Việt Pháp
ký hòa ước Patenôtre: lãnh thổ VN chia làm 3 phần, Nam Kỳ là thuộc địa
của Pháp, Trung Kỳ (từ Bình Thuận tới Thanh Hóa) và Bắc Kỳ chịu quyền
bảo hộ của Pháp nhưng dưới hai chế độ cai trị khác nhau. Khâm sứ Trung
Kỳ hội các quan triều Nguyễn tại tòa Khâm làm lễ thủ tiêu (nấu chảy)
ấn của nhà Thanh phong vương cho vua Gia Long ( bằng bạc mạ vàng nặng
khoảng 6 kg), tượng trưng cho sự chấm dứt uy quyền của nhà Thanh đối
với triều đình nhà Nguyễn.
Pháp chiếm đóng và triệt hạ nhiều chùa tại Hà Nội. Tất cả những chùa
quanh hồ Hoàn Kiếm đều bị quân đội Pháp hoặc cơ quan phụ thuộc chiếm
giữ. Năm 1889, Pháp phá hủy chùa Quan Thượng. Tháp Báo Thiên chùa Sùng
Khánh xây từ đời vua Lê Thánh Tông ( cao 12 tầng, tốn tồng ngàn cân
đồng để đúc đại hồng chung) bị tổng đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Ðộ (1813-
1888) hiến cho Giám Mục Puginier phá đi để xây nhà thờ lớn Hà Nội.
Năm 1885 Tôn Thất Thuyết tung ra bài hịch Cần Vương, nhân danh vua Hàm
Nghi, dùng lời lẽ lâm ly bi thiết kêu gọi toàn dân hãy đồng tâm nêu
cao tinh thần kháng chiến giải phóng đất nước. Nhiều chùa từ Bình Ðịnh
Phú Yên trở ra tới Thanh Nghệ Tĩnh được coi là những căn cứ của phong
trào Cần Vương. Quân Pháp từ Vinh và Ðồng Hới kéo ra bắn giết và đốt
phá các chùa rồi tập trung người theo đạo Chúa về gần đồn binh để
chiêu mộ đi lính cho Pháp. Các lãnh tụ phong trào Cần Vương ra lệnh
đốt phá các nhà thờ để trả thù, tạo cơ hội cho các linh mục tuyên
truyền con chiên bổn đạo quay lại chống lực lượng kháng chiến Cần
Vương.
Năm 1893 (năm Thành Thái thứ năm), các Thái Giám trong triều lo khi
chết không người cúng tế, nên tu sửa chùa Từ Hiếu ở Huế thành đồ sộ
nguy nga để làm nơi gởi nắm xương tàn. Họ đóng góp của cải để dành,
mua ruộng đất cúng chùa và xin Vua cùng vương phi ban cấp tiền bạc,
vật liệu tu bổ chùa. Ðạo dụ năm 1836 được khắc vào bia trước trường
Quốc Tử Giám của vua Minh Mạng cấm Thái Giám hưởng tước quan trường và
dự vào việc nước đã chận đứng sự lạm quyền và giới hạn bổng lộc của
các Thái Giám. Thời vua Thành Thái, số Thái Giám chỉ còn 15 người.
Từ Hiếu là tên chùa do vua Tự Ðức ban cho năm 1849 để ca ngợi hiếu
hạnh của thiền sư Nhất Ðịnh (Tánh Thiên, 1784- 1847). Ông xuất gia năm
18 tuổi, thọ đại giới với thiền sư Mật Hoằng tại chùa Quốc AÂn năm
1814. Năm 1816, ông làm trú trì chùa Báo Quốc (Huế). Năm 1835, bộ Lễ
cung thỉnh ông làm trú trì chùa Linh Hựu. Nhân dịp này, vua Minh Mạng
khen ông "giới luật nghiệm tịnh, thiền cơ thâm đạt". Năm 1839, ông
được sắc phong làm tăng cang chùa Giác Hoàng. Năm 1843, được tin mẹ
già đau nặng không người coi sóc, ông xin từ bỏ chức trú trì hai chùa
lớn, từ khước mọi sự cúng dường, lên núi Dương Xuân lập Am An Dưỡng
bằng tranh, cuốc đất trồng rau bắp phụng dưỡng mẹ già. Thầy thuốc
chuẩn bệnh cho mẹ, bảo phải ăn cá tươi. Ông tự mình xuống chợ Bến Ngự
mua cá về và tự làm cho mẹ ăn. Dân chúng dị nghị, báo cho quan. Sau
khi điều tra hư thực, các quan trong triều càng thêm khâm phục sự hy
sinh vô ngại vì hiếu hạnh của ông. Họ thường tới vấn đạo ông và xin
ông cho phép dựng chùa thay cho Am bằng tranh, nhưng ông không chịu.
Mãi tới năm 1848, sau khi ông tịch, đệ tử của ông là thiền sư Hải
Thiệu (tịch năm 1899) mới chịu khởi công xây chùa. Vị trú trì cuối
cùng của chùa Từ Hiếu trên danh nghĩa là HT Trừng Quang (tức sư ông
Nhất Hạnh, người không được phép trở lại VN từ năm 1966). Hiện nay
chùa Từ Hiếu là đạo tràng tu học trang nghiêm, liên tục của gần 100
tăng sĩ do TT Thái Hòa coi sóc, mặc dù không được chính quyền công
nhận.
Năm 1898 cuộc khởi nghĩa chống pháp do VÕ TRỨù lãnh đạo ở Phú Yên năm
1898 được gọi là Giặc Thầy Chùa. Võ Trứ là đệ tử trụ cột của sơn tăng
Thầy Ðá Bạc ở hang Ðá Bạc, Bình Ðịnh. Lực lượng chủ yếu của cuộc khởi
nghĩa này là tăng sĩ và Phật tử. Chí sĩ Trần Cao Vân được coi là cố
vấn, có tham dự cuộc họp chuẩn bị khởi nghĩa vào rằm tháng bảy năm
trước (1897). Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, tất cả các chùa trong
hai tỉnh Phú Yên và Bình Ðịnh đều bị lục soát, khám đường nào cũng có
các nhà sư bị bắt nhốt.
Tại miền Bắc, sư VƯƠNG QUỐC CHÍNH lãnh đạo Hội Thượng Chí quy tụ được
hàng ngàn tăng sĩ và hàng vạn Phật tư,û luôn cả một số tín đồ đạo Chúa
từ Nghệ An tới Bắc Ninh. Khi cuộc tấn công của phong trào này vào Hà
Nội đêm 5 tháng 12. 1898 bị thất bại, quân Pháp tấn công kịch liệt
nghĩa quân các tỉnh Hà Ðông, Sơn Tây. Cuộc khởi nghĩa bị quân Pháp
đánh bại, từ Bắc Ninh vào tới Nghệ An tăng sĩ và Phật tử bị bắt , tù
đầy và xử tử không kể xiết (VNPGSL, tập 3).
3. (Tiếp theo)
Năm 1908 Sắc dụ của vua Duy Tân (1907- 1916) giảm bớt số tăng sĩ còn
hai vị mỗi chùa. Tăng Cang có thể kiêm trú trì hai chùa, các Ðại Sư và
Tăng Chúng phân tán đi các chùa thiếu sư. Sự trợ cấp của triều đình
cho tăng sĩ được đổi thành tiền: Tăng Cang 1 đồng 66, Trụ Trì 1 đồng
58, Tăng Chúng 1 đồng 26. Với sự trợ cấp ít ỏi này, chùa phải trông
cậy vào sự cúng dường của bá tánh và tự túc canh tác.
Trong thời này, các buổi lễ lớn tổ chức định kỳ và chính thức tại chùa
miền Trung như đại giới đàn thường phải có giấy phép của quan Tỉnh cấp
và phải niêm yết cho đại chúng biết từ 3, 4 tháng trước ở nhiều nơi
trong vùng.
Năm 1911 HT Thiện Quảng (1862- 1911) từ Thái Lan theo cụ Phan Bội Châu
về nước lần thứ hai để tổ chức kháng chiến chống Pháp bị quân Pháp
phục kích bắn chết ở biên giới Việt Miên (Tây Ninh).
Ông từ Bến Tre, năm 1898 dùng ghe tìm đường hành hương cầu pháp nơi xứ
Phật. Sau ba ngày lênh đênh trên biển, ghe ông bị sóng to gió lớn
đánh dạt vào Thái Lan. Ông chọn một hang núi tu khổ hạnh, chỉ ăn rau.
Ðược biết đến dưới danh hiệu Ông Thầy Rau , ông rất được quốc vương
và dân Thái Lan kính trọng về đạo hạnh và sở học. Với sự giúp đỡ của
quốc vương Thái Lan, ông dùng đường bộ từ Thái Lan qua Miến Ðiện, Tây
Tạng vào Ấn Ðộ chiêm bái trong 5 tháng. Trên đường trở về theo lời hứa
với quốc vương Thái Lan, ông nhân cơ hội chiêm bái các Phật tích ở
Trung Quốc. Ông về tối Thái Lan năm 1902. Chí sĩ Phan Bội Châu tới
Thái Lan, nghe tiếng ông tìm gặp đàm đạo. Hai bên đồng tâm hiệp ý,
tương kính nhau. Ông về Việt Nam lần đầu để vận động tài chánh gây quỹ
cho phong trào của Phan Bội Châu.
Năm 1923 tổ chức Lục Hòa Liên xã ra đời, nhằm mục đích tạo điều kiện
cho các vị ưu tư về sự suy đồi của Phật Giáo Việt Nam có cơ hội gặp gỡ
nhau để bàn bạc việc chấn hưng Phật Giáo qua 3 nỗ lực: chỉnh đốn tăng
già, kiến lập Phật học đường, diễn dịch và xuất bản kinh sách Việt
ngữ. Các vị tổ sư tiền bối của phong trào này là HT Huệ Quang, Khánh
Hòa và Khánh Anh. Trụ sở đặt tại chùa Long Hòa của HT Huệ Quang. Nhất
Hạnh (VNPGSL 3) cho rằng Hội Lục Hòa Liên Xã là viên đá đầu tiên của
phong trào chấn hưng Phật Giáo tại Nam Kỳ.
Năm 1923- 1924, tờ Ðông Pháp Thời Báo đăng nhiều bài báo chủ yếu kêu
gọi cải tổ Phật Giáo. Ðạo Cao Ðài ra đời cuối năm 1925 thúc đẩy thêm
việc chấn hưng Phật Giáo.
Năm 1929 ngày 13 tháng 8, HT Khánh Anh cho xuất bản tạp chí Pháp AÂm
bằng chữ quốc ngữ. Nội dung kêu gọi tăng ni đoàn kết lại và nên học
chữ quốc ngữ để dịch kinh sách từ chữ Hán, giải quyết nạn thất học cho
tăng già và mở Viện Nghiên Cứu Phật Học. Tạp chí này ra được một số
duy nhất thì bị thực dân Pháp cấm. Trước đó trong các năm 1923- 1924,
tờ Ðông Pháp Thời Báo đã đang những bài chủ yếu đề nghị cải tổ Phật
Giáo.
Năm 1930, nhà sư trẻ Thiện Chiếu ( chùa Chúc Thành, Xóm Gà Gia Ðịnh)
xuất bản tập san Phật Hóa Tân Thanh Niên nhắm vào giới trí thức thanh
niên, đưa ra lời kêu gọi hoàn toàn mới mẻ: tăng ni không nên sống bám
vào sự cúng dường của tín đồ mà phải tạo dựng cơ sở tự túc, chư tăng
phải có ít nhất trình độ trung cấp Phật học. Tập san này ra tới số 2
thì sư Thiện Chiếu bị Pháp bắt.
Năm 1931, cư sĩ Phạm Ngọc Vinh sáng lập tạp chí Từ Bi AÂm. Ngày 21
tháng 9 cùng năm, ông cúng dường cho Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học Hội.
Ngày 1.1. 1932 Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học Hội ra mắt tạp chí Từ Bi AÂm
trong cả nước dưới hình thức bán nguyệt san, HT Khánh Hòa làm chủ
nhiệm, sư cụ Bích Liên làm chủ bút, thiền sư Liên Tôn làm phó chủ bút,
cư sĩ Trần Nguyên Chấn (bố vợ cư sĩ Phạm Ngọc Vinh) làm quản lý, với
sự trợ bút của nhiều cao tăng trong nước. Trụ sở tại chùa Linh Sơn
(Quận 1, Sài Gòn). Năm 1933 (số 45) HT Khánh Hòa từ chức, thiền sư
Chánh Tâm (chùa Thiên Phước, Trà Ôn Vĩnh Long) được mời làm chủ nhiệm.
Năm 1937, Từ Bi AÂm trở thành nguyệt san. Trong 10 năm trời, tạp chí
Từ Bi AÂm đã góp phần quan trọng trong việc phổ thông hóa Phật pháp
bằng quốc ngữ.
Tháng 12 năm 1933 tạp chí Viên AÂm, cơ quan chính thức của Hội An Nam
Phật Học, ra mắt tại Huế, do cư sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám (1896- 1969)
trông coi. Ông là nhà báo đa tài lại khiêm nhường, viết truyện ngắn,
truyện dài, chuyện hài hước, giảng giải về Phật pháp, luận giải kinh
điển, lãnh vực nào cũng xuất sắc. Kể từ số 48 (tháng 5, 1942) ông giao
việc phụ trách tờ báo cho giới trẻ. Từ đó, hầu hết bài vở của tạp chí
Viên AÂm đều do các đoàn viên Ðoàn Phật Học Ðức Dục viết bằng lối văn
mới, gọn dễ hiểu, và hướng về tuổi trẻ.
Năm 1935 Hội Phật Giáo Bắc Kỳ xuất bản tuần báo Ðuốc Tuệ, TT Trí Hải
trông coi, trụ sở tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Báo Ðuốc Tuệ có nhà in
riêng. Sau này đổi tên thành Diệu AÂm rồi Phương Tiện (do TT Tố Liên
trông coi). Ngoài ra TT Trí Hải còn chủ trương nhật báo Tân Tiến.
16 tháng 7. 1935, tờ báo bán chạy nhất Lục Tỉnh Tân Văn bắt đầu ra
phụ trang Phật Học hàng tuần, bán 6 xu mỗi tờ. Tháng 10. 1935, hội
Lưỡng Xuyên Phật Học ra mắt tạp chí Duy Tâm, HT Huệ Quang làm chủ
nhiệm, bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe làm quản lý. Tòa soạn tại chùa Long
Phước, Trà Vinh. Ðây là tờ báo có uy tín trong cả nước, nên khi ông
Trần Nguyên Chấn lên tiếng khích bác tạp chí này trên tờ Từ Bi AÂm, sư
trú trì chùa Bảo Long (Tà Keo ở Nam Kỳ) gởi thư đăng trên tạp chí
Tiếng Chuông Sớm ở Hà Nội khuyên ông Chấn nên chấm dứt hành động đó.
Năm 1937, hội Tịnh Ðộ Cư Sĩ xuất bản tạp chí Pháp AÂm, chủ nhiệm Lê
Văn Hậu (từng cộng tác với tạp chí Duy Tân), chủ bút Trần Huỳnh. Tạp
chí này ra được 16 số, có đăng một số bài của Phạm Ðình Vinh cổ võ
việc chấn hưng Phật giáo theo đường lối thiên tả. Ngày 15 tháng 1.
1937, Ðà Thành Phật Học Hội ở Ðà Nẵng ra mắt tạp chí Tam Bảo Chí
Ðầu năm 1938, Kiêm Tế Phật Học Hội ra mắt tạp chí Tiến Hóa, chủ nhiệm
là cư sĩ Ðỗ Kiết Triệu, chủ bút là Phan Thanh Hà. Trụ sở tại chùa Tam
Bảo, Rạch Giá. Tờ báo chủ trương phổ biến Phật pháp và "bất cứ học
thuyết nào có đủ phương pháp làm chúng sanh khỏi khổ được vui". ùKiêm
Tế Phật Học Hội do sư Trí Thiền và Thiện Chiếu thành lập. Sư Thiện
Chiếu viết nhiều bài trên tạp chí Pháp AÂm (từ số 7) và Tiến Hóa dưới
các bút hiệu. Tạp chí Duy Tâm và Tiến Hóa có ảnh hưởng trong cả nước,
tạo nên những tranh luận sôi nổi về một số chủ đề Phật pháp.
Tháng 8 năm 1945, báo chí Phật Giáo trên toàn quốc nhất loạt đình bản
để các tăng sĩ và cư sĩ đi làm việc nước.
Năm 1946, đoàn Phật Học Ðức Dục với sự hỗ trợ của sư Mật Thể xuất bản
tạp chí Giải Thoát với tiêu đề: Cơ quan nghiên cứu và áp dụng đạo Phật
vào đời sống mới. Ðồng thời, tại Hà Nội, các TT Trí Hải, Tố Liên và
Thái Hòa cũng cho xuất bản tạp chí Tinh Tiến cũng với mục đích dung
hợp phong trào cách mạng và phong trào Phật Giáo. Giải Thoát ra được 9
số, Tinh Tiến ra được 10 số thì đình bản vì chiến tranh ác liệt.
Năm 1950, TT Thiện Minh xuất bản tạp chí Hướng Thiện tại Ðà Lạt. Tạp
chí này đình bản năm 1951.
Năm 1951, tổ chức Phật Giáo Thiện Hữu của nhóm Phật tử trí thức Việt
Pháp tài trợ việc xuất bản tạp chí Liên Hoa, do cư sĩ Huỳnh văn Trọng
làm chủ nhiệm, thiền sư Nhất hạnh làm chủ bút. Một biên tập viên là
bác sĩ André Migot đã gây chấn động trong giới Công Giáo với chủ
trương nên chấm dứt sự truyền bá đạo Thiên Chúa trong xã hội Á Ðông mà
nên để cho họ theo tôn giáo truyền thống của họ là Phật Giáo (qua tác
phẩm Phật Giáo Với Văn Minh AÂu Tây). Cư sĩ Pierre Marti (pháp danh
Long Tử) là quản lý của tạp chí cho tới năm 1954, đã từng diễn giảng
Phật pháp bằng tiếng Việt tại nhiều chùa ở cao nguyên Trung Phần.
Cũng năm 1951, Hội Phật Học Nam Việt ra mắt nguyệt san Từ Quang, do cư
sĩ Mai Thọ Truyền trực tiếp trông coi. Ðược chư tăng ở Phật Học Ðường
Nam Việt nâng đỡ và cộng tác biên tập, tạp chí này đóng góp lớn lao
vào việc phổ biến Phật học tại miền Nam. Tới số 242 thì cư sĩ Mai Thọ
Truyền mất, nhưng tạp chí vẫn tiếp tục ra cho đến tháng 4. 1975.
Năm 1956 ( rằm tháng 8), Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam xuất bản tạp chí
Phật Giáo Việt Nam. HT Huệ Quang làm chủ nhiệm, Nhất Hạnh làm chủ bút.
Trên tạp chí này, nhiều cây bút liên tục viết các bài kêu gọi thống
nhất Phật giáo, thậm chí tấn công những người được coi là cản trở, cục
bộ trong các tập đoàn Phật Giáo. Trên thực tế cho tới lúc đó, chỉ có
Gia Ðình Phật Tử là ngành duy nhất thống nhất về mặt tổ chức, mặc dù
trong Ðại Hội Phật Giáo Toàn Quốc năm 1951 họp tại chùa Từ Ðàm (Huế),
các đại biểu đã đồng ý trên nguyên tắc "xóa bỏ bản vị các tập đoàn để
thành lập Tổng Hội Phật Học Việt Nam". Phật Giáo Việt Nam được sự cộng
tác của nhiều cây bút Phật Giáo tăng sĩ cũng như cư sĩ viết về nhiều
chủ đề quan trọng của Phật Giáo nước ta dưới nhiều hình thức kể cả
nhạc, kịch và kịch thơ. Tạp chí này bị chính quyền đình bản vào giữa
năm 1959, có lẽ vì những bài báo kêu gọi bất bạo động.
Cho tới sau biến cố 1 tháng 11. 1963, báo chí Phật Giáo mới có cơ hội
hoạt động trở lại, với khí thế rầm rộ từ nhật báo tới nguyệt san.
Năm 1934 để nâng cao trình độ tu học, thầy THÍCH TRÍ THỦ cùng một số
bạn đồng môn từng theo học với HT Phước Huệ ( sư tổ chùa Thập Tháp,
Bình Ðịnh) ra Huế, vận động tổ chức trường Phật Học Tây Thiên, mời HT
Giác Nhiên, Phước Huệ, Thánh Duyên, Quốâc AÂn, Tường Vân dạy nội điển,
bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám, các ông Nguyễn Khoa Toàn và Cao Xuân Huy
dạy các môn văn hóa ngoại điển. Việc học ngoại điển của các tăng sĩ
dầu được sơ tổ phái Trúc Lâm (Trần Nhân Tông 1258- 1308) đặc biệt lưu
ý, đã không được thiền môn VN lưu tâm vào những thế kỷ sau. Trường
Phật Học Tây Thiên tổ chức học trình 10 năm: 3 năm sơ đẳng, 3 năm
trung đẳng, 2 năm cao đẳng, 2 năm siêu đẳng. Lớp Sơ đẳng do tổ Thập
Tháp chủ giảng, phần nội điển gồm: Luật Sa Di, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh
Ðịa Tạng, Kinh Thủy Sám.
Thầy Trí Thủ (1909- 1984) là con một, học kinh từ năm 14 tuổi tại chùa
Hải Ðức, Huế. Năm 17 tuổi xuất gia tại chùa Trà Am (Huế ) với HT Viên
Thành, được ban pháp danh Tâm Như. Năm 20 tuổi thọ cụ túc tại đại giới
đàn chùa Từ Vân, Ðà Nẵng. Vì trúng tuyển đứng đầu trong số hơn 300
giới tử, ông được bổn sư ban cho pháp hiệu Thích Trí Thủ. Năm 23 tuổi
ông tới chùa Thập Tháp (Bình Ðịnh) tìm học với HT Phước Huệ.
Năm 1938 sau khi tốt nghiệp trường Phật Học Tây Thiên, ông bắt đầu làm
giảng sư hội Phật Học Huế, dạy sơ cấp Phật học tại chùa Báo Quốc và
trung cấp Phật học tại trường Phật Học Tây Thiên. Năm 1939 ông được
giao phó việc đào tạo và giảng dạy Ni trường đầu tiên cho cả nước được
thành lập tại chùa Từ Ðàm (Huế). Năm 1942, ông được cử làm trú trì
chùa Báo Quốc. Năm 1948 trường Sơn Môn Phật Học chùa Linh Quang được
dời về chùa Báo Quốc, ông được giao phó trách nhiệm Giám Ðốc Phật Học
Ðường Báo Quốc. Từ thập niên 50, nhiều học tăng từ Sài Gòn và Hà Nội
được gởi tới đây tu học. Trong 3 thập niên 50, 60 và 70 Phật Học Ðường
Báo Quốc đào tạo nhiều tăng tài sau này đảm trách các chức vụ trọng
yếu trong giáo hội từ trung ương tới các địa phương, cung cấp giảng
sư cho các Tỉnh Hội Phật Giáo, các cố vấn giáo lý cho các đơn vị Gia
Ðình Phật Tử, giáo sư Phật pháp cho các trường tư thục Bồ Ðề tại miền
Trung.
Năm 1951, sau khi Tổng Hội Phật Giáo VN được thành lập, ông đặt viên
đá đầu tiên xây cất trường tiểu học Bồ Ðề tại Huế, mở đầu cho mạng
lưới giáo dục các trường tư thục Bồ Ðề của giáo hội sau này. Sau đó,
ông đã thành lập những Phật Học Ðường Hải Ðức (Nha Trang, 1956), Phổ
Ðà (Ðà Nẵng), Linh Sơn (Ðà Lạt), Quảng Hương Già Lam (Sài Gòn).
Năm 1964, trong trách vụ Tổng Vụ Trưởng Hoằng Pháp của GHPGVNTN, ông
tổ chức ba Ðại Hội Hoằng Pháp tại Phật Học Viện Hải Ðức (Nha Trang),
chùa Xá Lợi (Sài Gòn), chùa Ấn Quang (Chợ Lớn). Trong năm này, ông làm
Viện trưởng Viện Cao Ðẳng Phật Học tại chùa Pháp Hội, bước cơ bản cho
việc thành lập Viện Ðại Học Vạn Hạnh sau này. Kể từ năm 1968, ông được
tôn cử làm Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo (Ấn Quang) trong Ðại Hội GHPGVNTN
5 và 6. Trong Ðại Hội kỳ 7 của Giáo Hội ( tháng 1. 1977), với tư cách
Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo ông kêu gọi thống nhất Phật Giáo trong cả
nước trong tinh thần đạo pháp và dân tộc nhưng không đạt được kết quả
mà còn bị chỉ trích vì một số cấp lãnh đạo Phật Giáo đã cảm thấy sự đè
nén của chính quyền Cộng Sản.
Ông đã dịch nhiều Kinh, Luật và Luận, soạn các Nghi Thức Truyền Giới
Bồ Tát Tại Gia và Thập Thiện, Nghi Thức Phật Ðản, Nghi Thức Buổi Lễ
Khuya, viết Mẹ Hiền Quan AÂm, Pháp Môn Tịnh Ðộ. Cuốn Bát Nhã Tâm Kinh
Chú Giải của ông có một phụ lục gồm các bản tiếng Phạn, Mãn Châu, Tây
Tạng, Vu Ðiền, Mông Cổ, Pali, chữ Hán, chữ Nôm của thiền sư Minh Châu
Hương Hải, tiếng Anh, Pháp và Nhật cho thấy sự thận trọng và công phu
sưu tập của ông.
Ông chủ trương Tăng Già phải tự thấy mình là ngôi thường trú Tam Bảo,
phải được huấn luyện và tự huấn luyện đầy đủ Trí và Ðức. Tại các Phật
Học Viện do ông thành lập, ông cho tăng sinh học song song hai chương
trình văn hóa đạo và đời, nhất là các ngành văn hóa thực dụng. Ðích
thân ông hướng dẫn tăng ni đi thi bằng Tiểu học ngoài đời gây chấn
động dư luận thời đó.
Ông cũng cho một số học tăng vào Sài Gòn học các khoa chế biến, sau đó
mở các xưởng sản xuất vị trai, dấm, làm nấm, xà bông, nhang đèn, in và
phát hành kinh sách.
Phật Ðản năm 1935 tại Huế được tổ chức trong hai ngày 7 và 8 tháng 4 âm lịch.
Chiều ngày 7 tháng 4 AÂL tại chùa Diệu Ðế, Ban Ðồng Ấu gồm 52 em trong
đồng phục áo the xanh quần trắng, đeo giải băng màu vàng chữ nâu Nam
Mô Bổn Sư Thích ca mâu Ni Phật, hát bản nhạc Mừng Phật Ðản (sau này
được phổ thông dưới tên Trầm Hương Ðốt). Ðây là bản nhạc Phật Giáo đầu
tiên ghi theo ký âm pháp Tây Phương của nhạc sĩ Bửu Bác, ở giai đoạn
nền tân nhạc VN còn phôi thai. Sau đó thiền sư Giác Nhiên ( sau này
được gọi là Ôn Thiền Tôn, Ðệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN năm 1973) giảng
về Bát Nhã Tâm Kinh trước máy vi âm. Vua Bảo Ðại đã được mời dự với tư
cách Hội Trưởng Danh Dự Hội An Nam Phật Học. Ðây là lần đầu tiên máy
vi âm (micro) được dùng trong buổi lễ Phật Giáo. Cho tới năm 1943, khi
Phạm Duy hát phụ diễn cho gánh cải lương Ðức Huy ở Hải Phòng cũng chưa
được dùng máy vi âm.
Sáng Phật Ðản ngày 8 tháng 4 AÂL, Ni cô Diệu Hương giảng kinh A Di Ðà,
ni cô Diệu Viên thuyết về Phật Học Ðối Với Phụ Nữ. Ðây cũng là một
điều hoàn toàn mới mẻ vì cho tới Ðại Hội Hoằng Pháp năm 1962 tại Phật
Học Viện Nha Trang, khi Sư Bà Như Thanh đề nghị lập một đoàn hoằng
pháp lưu động do Ni chúng phụ trách, TT Trí Thủ (năm 1964 là Tổng Ủy
Viên Hoằng Pháp của GHPGVNTN) đã đưa ra ý kiến bác bỏ: Ni chúng lo
việc từ thiện xã hội, còn việc hoằng pháp thì để cho bên tăng đảm
trách.
Sự thành công của lễ Phật Ðản này đã tạo nên một số bài báo công kích
đạo Phật trên các báo Tràng An và Ánh Sáng (Huế), cho rằng đạo Phật ru
ngủ quần chúng nên phục hưng Phật Giáo là việc làm không hợp thời. Các
cư sĩ Nguyễn Xuân Thanh và Tâm Minh Lê Ðình Thám đã phản bác lại bằng
những lập luận có sức thuyết phục cao. Nhờ vậy, cho tới năm 1940, Hội
An Nam Phật Học đã tổ chức được tới đơn vị cấp xã (khuôn hội) tại khắp
các tỉnh miền Trung.
Năm 1936 Hội Tịnh Ðộ Cư Sĩ được thành lập, là hậu thân của Hội Lễ Bái
Lục Phương được thành lập từ 1933 theo tinh thần kinh Thi Ca La Việt (
có người gọi là Kinh Lễ Sáu Phương ). Hội viên toàn là cư sĩ, nhưng
mời sư Minh Trí làm Tông Sư Chứng Minh và suy tôn ông là Tông Sư Minh
Trí. Trụ sở của Hội là chùa Tân Hưng Long (Chợ Lớn) khánh thành năm
1936. Tới thập niên 1950, tỉnh nào ở miền Nam cũng có chùa của Hội
Tịnh Ðộ Cư Sĩ. Hầu hết các chùa này đều trồng, biến chế và lập phòng
thuốc Nam phát thuốc cho đồng bào nghèo. Sư Minh Trí trước khi trở
thành Tông Sư của Hội, đã nhiều năm vân du đi tìm những dược thảo chữa
bệnh cho dân chúng. Phần lớn các chùa của Hội có tăng sĩ trụ trì và
hướng dẫn nghi lễ.
Năm 1955, cư sĩ Ðoàn Trung Còn thành lập Hội Tịnh Ðộ Tông Việt Nam,
trụ sở tại chùa Giác Hải ở Phú Lâm. Ông là tác giả bộ Phật Học Từ Ðiển
và chủ trương nhà xuất bản Phật Học Tùng Thơ từ năm 1932. Ông biên
soạn và dịch thuật 39 tác phẩm biên khảo Phật học, phổ biến rộng tới
Bắc và Trung Kỳ. Sau này ông xuất gia, có pháp danh là Thích Hồng Tại.
Hội Tịnh Ðộ Tông đã thu hút được một số khá đông người Việt gốc Hoa.
Năm 1939 ngày 18 tháng 5 Kỷ Mão, giáo chủ HUỲNH PHÚ SỔ (1919- 1947)
sau bốn lần đi núi tìm đạo (gọi là đăng sơn), đã khai sáng đạo Hòa
Hảo tại xã Hòa Hảo, quận Tân Châu, Châu Ðốc. Ông cũng có tài chữa
nhiều bệnh bằng các phương thuốc vô cùng dản dị (như nước lạnh, vài
thứ bông, vài thứ lá .v..v..) và luôn luôn thuyết pháp khuyên làm
lành, lánh dữ, kính tin Phật Trời. Ông là người có tài thuyết pháp
thao thao bất tuyệt, giọng nói thanh tao, lời lẽ khi cao siêu như sấm
ký, lúc lại dản dị mà thực tiễn. Ông khiêm tốn, bình dân, đối xử bình
đẳng với mọi người nên dân quê gọi ông là "Ông tướng bình dân", đệ tử
gọi ông là Ðức Thầy. Nhà cầm quyền Pháp nghi ngờ hoạt động của ông,
cấm ông hành đạo tại Châu Ðốc. Ông phải lưu động thường xuyên, nhưng
tới năm 1941 họ cũng bắt ông nhốt tại bệnh viện Chợ Quán rồi tại sở
Công An Sài Gòn. Nhờ quân đội Nhật can thiệp ông mới được trả tự do.
Sau đó ông vận động thành lập Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội để liên
hiệp các tông phái Phật Giáo, kết hợp các tăng ni, Phật tử và những
nhà trí thức có khuynh hướng Phật Giáo. Cuộc vận động này gặp nhiều
khó khăn nên không kết quả. Năm 1945, ông thành lập Việt Nam Ðộc Lập
Vận Ðộng Hội, một tổ chức đấu tranh cho tự do và độc lập. Ngày 14
tháng 8. 1945 ông được đề cử làm Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp,
một liên minh các đảng phái quốc gia để mưu đồ độc lập cho nước nhà.
Ngày 21 tháng 9. 1946, ông thành lập đảng Dân Xã, tổ chức chính trị và
quân sự của Phật giáo Hòa Hảo. Vì uy tín của ông trong hàng ngũ quốc
gia ở Nam Bộ ngày càng tăng, Việt Minh đã âm mưu sát hại ông vào ngày
25 tháng 2. 1947. Tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ( khoảng 2 triệu người vào
năm 1945, đại đa số ở Nam Bộ) tin tưởng rằng ông sẽ trở lại thế gian,
cũng như trước đây họ đã cho rằng ông là lần chuyển kiếp thứ tư
củaPhật Thầy Tây An. Tây An Cổ Tự nơi Phật Thầy Tây An hoằng đạo được
coi là chùa lớn thứ hai của Phật Giáo Hòa Hảo, sau chùa An Hòa Tự ở xã
Hòa Hảo, Tân Châu, Châu Ðốc.
Ðạo Hòa Hảo, còn gọi là Phật Giáo Hòa Hảo, lấy pháp môn Tịnh Ðộ làm
căn bản, đề cao hiếu nghĩa tứ ân, chỉ cúng Phật bằng nước lạnh, hoa và
nhang, nghi thức tụng niệm ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ ( gồm bài nguyện
trước bàn thờ ông bà, bài nguyện trước bàn thờ Phật và năm câu
nguyện), không thờ hình tượng, không đốt vàng mã, không tổ chức trai
đàn phướn xá, ăn chay tháng 4 ngày, không có thành phần xuất gia chỉ
có hàng tại gia cư sĩ học Phật tu Nhân. Chi nhánh đạo tổ chức từ cấp
thấp nhất là Ban Trị Sự ở làng. Người nào muốn quy y theo đạo phải có
hai người bổn đạo bảo lãnh và tiến cử đến Ban Trị Sự làng.
Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ để lại bộ Sấm Giảng gồm 6 quyển:
1- Sấm Giảng Khuyên Người Ðời Tu Niệm (1939)
2- Kệ Dân Của Người Khùng (1939)
3- Sấm Giảng (1939)
4- Giác Mê Tâm Kệ (1939)
5- Khuyến Thiện (1942)
6- Những Ðiều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền (1945)
Năm 1940 tháng 10, cư sĩ Lê Văn Giảng xin xuất gia với HT Phó Tăng
Thống Cambodia, được ban pháp danh HỘ TÔNG (Vansarakhita). Cuối năm,
ông được cư sĩ Nguyễn Văn Hiểu và một số Phật tử Nam Tông thỉnh về
Việt Nam lập chùa Bửu Quang ở Thủ Ðức. Ðây là ngôi chùa Phật Giáo
Nguyên Thủy đầu tiên của người Việt tại miền Nam.
Sư Hộ Tông (1893- 1981) sanh tại Châu Ðốc, học tại Hà Nội và làm việc
( thú y sĩ) tại Cambodia. Năm 1927, ông bắt đầu tìm hiểu về các pháp
tu hành khi làm việc tại Soay Rieng, gần biên giới Việt Nam. Trước
tiên ông tu theo Tịnh Ðộ và Mật Tông nhưng không thỏa mãn. Sau này,
nhờ nghe HT Phó Tăng Thống Cambodia giảng về Bát Chánh Ðạo tại chùa
Unalom ở Soai Rieng, ông thấy thích thú. Vị này cũng là giám đốc
trường Cao Ðẳng Pali tại Nam Vang, đã giới thiệu cho ông một quyển
sách bằng tiếng Pháp về Bát Chánh Ðạo tại thư viện của chùa. Ðọc xong,
ông tiếp tục tới chùa Unalom học tập kinh điển Pali và tập pháp thiền
Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati). Sau vài năm, ông đạt được kết quả
tốt. Năm 1934, đổi về làm việc tại tỉnh Prey Vey, ông giúp thành lập
một trung tâm thiền định tại chùa Ruong Damrey, đồng thời giảng dạy
Phật pháp và hướng dẫn hành thiền. Ðể khuyến khích người Việt xuất gia
theo Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada, ông bỏ ra 2 năm dịch cuốn Luật
Xuất Gia , sau đó lại soạn Kinh Nhật Hành Cho Người Tại Gia. Năm 1936,
ông trở lại Nam Vang, vận động một nhóm cư sĩ, tu bổ ngôi chùa Bắc
tông tên Sùng Phước, biến thành nơi giảng dạy về Phật Giáo Nguyên Thủy
cho người Việt trên đất Miên.
Ông làm trú trì chùa Bửu Quang, Thủ Ðức, cho tới năm 1944 lại qua Miên
thực hành hạnh đầu đà ( sống đời độc cư hành thiền trong rừng). Năm
năm sau (1949) ông trở lại VN thì chùa Bửu Quang đã bị quân Pháp phá
hủy từ 1947. Ông cùng một số cư sĩ mua một lô đất trống tại Quận 3 Sài
Gòn, lập chùa Kỳ Viên năm 1950. Nơi đây sau đó trở thành trung tâm
chính cho các hoạt động hoằng pháp của Phật Giáo Nguyên Thủy. Năm sau,
1951 ông tu sửa chùa Bửu Quang.
Năm 1954, ông cùng sư Bửu Chơn dự Ðại Hội Kết Tập Kinh Ðiển lần 4 tại
Rangoon, thủ đô Miến Ðiện. Ông đọc diễn văn trong ngày bế mạc đại hội.
Năm 1957 Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam được thành lập, trụ sở
tại chùa Kỳ Viên, ông được suy tôn làm Tăng Thống. Năm 1980 ông sang
Pháp nhưng sau đó quyết định trở lại VN. Ông tịch tại chùa Bửu Quang,
Thủ Ðức ngày 25.8.1981.
Ông đã vận động xây cất nhiều chùa Phật Giáo Nguyên Thủy, dịch và viết
nhiều sách hướng dẫn giáo lý, luận và luật tạng của Phật Giáo Nguyên
Thủy bằng lối văn dản dị trong sáng. Ông góp phần quan trọng trong nỗ
lực phát triển Phật Giáo Theravada tại miền Nam. Nỗ lực này được sự
tiếp tay của một số đáng kể những danh tăng Phật Giáo Nguyên Thủy. Cư
sĩ Phạm Kim Khánh cũng góp phần quan trọng qua nỗ lực dịch và xuất bản
nhiều sách về giáo lý PGNT liên tục từ năm 1970. Thống kê năm 1997 tại
Việt Nam có 64 chùa Phật Giáo Nguyên Thủy người Việt; ở miền Trung có
các chùa Tam Bảo (Ðà Nẵng), Huyền Không (Huế) ...
Năm 1940 Bắc Kỳ Phật Giáo Hội qua nỗ lực của các nhà sư Quang Minh,
Thanh Thạnh, Doãn Hài và Thanh Tích phối hợp với Trường Viễn Ðông Bác
Cổ bắt đầu thực hiện bộ Phật Ðiển Tùng San. Tới năm 1943, bộ này đã
thực hiện theo lối in dập lại được 8 tập các tác phẩm Phật Giáo Việt
Nam bằng chữ Nôm và chữ Hán: Chư Kinh Nhật Tụng, Thụ Giới Nghi Phạm,
Thiền Uyển Kế Ðăng Lục, Pháp Hoa Ðề Cương, Bát Nhã Trực Giải, Khóa Hư
Lục, Trần Triều Dật Tồn Ðiển Lục và Lễ Tụng Hành Trì Yếu Tập. Ðây là
những tài liệu tham khảo hiếm hoi về các tác phẩm xưa của Phật Giáo
Việt Nam vào thời đó. Những năm sau, vì chiến tranh công trình này của
Hội Bắc Kỳ Phật Giáo bị đình trệ.
Bắc Kỳ Phật Giáo Hội cũng thực hiện bộ Hải Triều AÂm Văn Khố , giới
thiệu các tác phẩm tân thư dễ hiểu của Phật Giáo Trung Hoa cận đại
thuộc các tác giả như Ðại Sư Thái Hư, Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi,
Châu Tự Ca, AÂu Dương Kiến Vô ... giúp cho việc học Phật của giới cư
sĩ cựu học và tân học dễ dàng hơn.
Bắc Kỳ Phật Giáo Hội thành lập năm 1934 và phát triển rất nhanh nhờ có
nhiều thượng lưu và trí thức học giả miền Bắc tích cực tham dự từ đầu.
HT Thanh Hanh được suy tôn làm Thiền Gia Pháp Chủ. Hội đã thành lập
ngay Ban Khảo Cứu Phật Học do Trần Trọng Kim làm trưởng ban với 17 học
giả thông thạo Nho và Pháp tham dự. Báo Ðuốc Tuệ là cơ quan chính thức
của Hội. Hai cư sĩ tích cực nhất là Ðồ Nam Nguyễn Trọng Thuật và Thiều
Chửu Nguyễn Hữu Kha. Hội cũng mở trường Tăng Học Trung Cấp ( bốn năm
Sơ Cấp, ba năm Trung Cấp) tại chùa Quán Sứ và chùa Bồ Ðề. Năm 1936,
Hội mở trường Tăng Học Cao Cấp (ba năm) tại chùa Bằng Sở (Hà Ðông) do
thiền sư Trung Thứ làm Ðốc Giáo.
Năm 1943 ngày 14 tháng 3, gia đình Phật Hóa Phổ có bản điều lệ và Ban
Ðiều Hành lần đầu với thành phần:
- Phụ trách tổng quát: Phan Hữu Bình
- Phụ trách hoạt động thanh niên: Tráng Thông
- Phụ trách thông tin đối ngoại: Ðinh Văn Vinh
- Phụ trách giáo lý cấp sơ đẳng: Ðinh Văn Nam ( sau này xuất gia là HT
Minh Châu)
- Phụ trách ca vũ nhạc: Lê Bối
- Phụ trách tổ chức các đội hình, cắm trại, đại lễ: Nguyễn Hữu Quán
Gia đình Phật Hóa Phổ là hình thức đầu tiên của tổ chức Gia Ðình Phật
Tử Việt Nam được tổ chức theo từng gia đình, lấy tên gia trưởng làm
tên đơn vị. GÐPHP phổ biến Phật pháp trong giới trẻ, dạy các em xây
dựng lòng tin chân chánh, thực hành đạo đúng đắn, không mê tín dị
đoan. Hạt nhân đầu tiên được thành lập vào năm 1940 là Gia Ðình Phật
Hóa Phổ Tâm Minh do bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám làm Phổ Trưởng. Sinh
hoạt của Gia Ðình Phật Hóa Phổ Tâm Minh nhanh chóng được các gia đình
trí thức khác ở Huế bắt chước. Việc tổ chức theo đơn vị gia đình để
khỏi phải xin giấy phép thành lập hội rất phiền phức trong thời Pháp
thuộc. Một huynh trưởng hướng đạo, Lê Lừng, thấy sinh hoạt này phát
triển đã vẽ huy hiệu của đoàn là hoa sen trắng có 5 cánh trên, 3 cánh
dưới. Sau này trở thành huy hiệu chính thức của Gia Ðình Phật Tử Việt
Nam. Ông cũng là tác giả bản nhạc phổ thông nhất trong Gia Ðình Phật
Tử VN ( Dây Thân Ái). Bài ca chính thức của GÐPTVN là bài Sen Trắng
của Ưng Hội. Ðoàn Thiếu Nữ Phật Tử có bài đoàn ca riêng, Ðoàn Liên
Hương của Hoàng Cang.
Theo Nhất Hạnh (VNPGSL 3, tr. 254), ở ngoài Bắc, các cơ sở Gia Ðình
Phật Hóa Phổ được các cư sĩ Nguyễn Văn Nhã, Lê Văn Lãm, Vũ Thị Ðịnh
thực hiện tại Hà Nội và Hải Phòng. Trong Nam, các cư sĩ Tống Hồ Cầm,
Nguyễn Văn Thục xây dựng các đơn vị Gia Ðình Phật Hóa Phổ trong phạm
vi Hội Phật Học Nam Việt.
Năm 1951, Hội Nghị Toàn Quốc Gia Ðình Phật Hóa Phổ họp tại Huế, đổi
danh hiệu thành Gia Ðình Phật Tử. Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng GÐPT
đầu tiên được tổ chức nhân dịp này với Ban Trại Trưởng gồm 10 người do
thầy Minh Châu làm Cố Vấn và cư sĩ Võ Ðình Cường làm Trại Trưởng. Có
33 trại viên tham dự (29 từ miền Trung, 3 từ miền Bắc và 1 từ miền
Nam). Tới năm 1973, số lượng huynh trưởng và đoàn viên của tổ chức này
tới trên 200 ngàn.
Ðẳng cấp Gia Ðình Phật Tử Việt Nam được tổ chức theo các trình độ tu
chứng qua các cấp từ Tập, Tín, Tấn tới Dũng. Sau năm 1975, các khóa
huấn luyện huynh trưởng vẫn được tiếp tục tổ chức đều hòa tại Mỹ và
AÂu Châu. Gia Ðình Phật Tử là ngành duy nhất của Phật Giáo Việt Nam
hiện đại được ca ngợi về sự thống nhất trong tổ chức từ ngày thành lập
tới nay.
Năm 1943 TT MẬT THỂ (Tâm Nhất, Nguyễn Hữu Kê 1912- 1961) công bố Việt
Nam Phật Giáo Sử Lược, Tân Việt xuất bản tại Hà Nội. Tác phẩm này được
tái bản nhiều lần, là cuốn sử Phật Giáo VN đầu tiên viết bằng chữ quốc
ngữ. Tại hải ngoại, tác phẩm này cũng đã được Phật Học Viện Quốc Tế
tái bản từ năm 1984. Ông xuất gia từ năm 12 tuổi với thiền sư Giác
Tiên tại chùa Trúc Lâm (Huế), năm 1933 được mời làm giảng sư Hội An
Nam Phật Học, năm 1937 được gởi qua tu nghiệp tại Phật Học Viện Tiêu
Sơn ở Trung Quốc. Vì chiến tranh Hoa Nhật, năm 1940 ông phải về nước,
đem theo một số sách Tân Thư Phật Học bằng văn Bạch Thoại. Năm 1941-
1942, ông phiên dịch các tác phẩm Tân Thư nói trên, viết tập văn thơ
và khảo luận Xuân Ðạo Lý và dạy học tại trường Sơn Môn Phật Học. Ông
cũng được mời dạy tại Phật Học Ðường Lưỡng Xuyên ở Trà Vinh năm 1941.
Một năm sau, ông trở ra Huế, đi khắp các tổ đình miền Trung rồi ra Hà
Nội để thu thập tài liệu viết về sử Phật Giáo Việt Nam. Ðiều đặc
biệt là mặc dù xuất gia từ năm 12 tuổi, được mời giảng dạy các trường
Phật học từ 21 tuổi, không hề rời khỏi Tăng Già mà mãi tới năm 32 tuổi
(1944) ông mới thọ đại giới tại chùa Thiền Tôn, Huế.
Ông là người thông minh. Ngoài căn bản Hán Văn rất vững, ông tự học
chữ quốc ngữ, làm những bài thơ mới; tự học chữ Pháp để đọc các bài
biên khảo Phật Giáo bằng Pháp ngữ. Tháng 1. 1943 ông ra ứng cử Ðại
Biểu Quốc Hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đơn vị Thừa Thiên và
được sự ủng hộ của giới Phật tử trẻ tuổi nên đắc cư.û Ðây là lần đầu
tiên một nhà sư trực tiếp hoạt động chính trị nên một số vị lãnh đạo
Sơn Môn và các cư sĩ lớn tuổi không tán thành. Năm 1946, ông được mời
làm Chủ Tịch Ủy Ban Phật Giáo Cứu Quốc Thừa Thiên. Mặc dù biết rất rõ
rằng xây dựng phong trào Phật Giáo dân tộc bên cạnh người Cộng sản rất
khó, nhưng ông quan niệm người Phật tử phải có mặt ở đó để bênh vực,
che chở cho những Phật tử phục vụ trong hàng ngũ kháng chiến. Vì vậy
trong buổi họp mặt năm 1947 tại chùa Thế Chí ở Thừa Thiên với một số
Phật tử trẻ đồng chí hướng thảo luận về tương lai Phật Giáo trong tình
huống hiện tại, trước khi rút về chiến khu, ông giao nhiệm vụ cho
những người ở lại cố gắng dựng lại chùa, quy tụ Phật tử lại để sinh
hoạt và phục hồi phong trào Phật Giáo. Ông trao cho họ tất cả tiền quỹ
của tạp chí Giải Thoát và dặn họ dùng tiền này cố gắng xuất bản một tờ
báo tại Huế để tiếp tục công trình của tạp chí Giải Thoát. Những người
ở lại đó sau này trở thành những khuôn mặt nổi bật của Phật Giáo Việt
Nam như HT Minh Châu, Thiên AÂn, Mãn Giác, cư sĩ Cao Hữu Ðính ...
Không thể làm ngơ trước chính sách đàn áp Phật Giáo ngày càng lộ liễu
của Cộng Sản, ông công khai chống đối chế độ và bị quản thúc tại Nghệ
An từ năm 1957. Cộng Sản cô lập ông không cho ông đi đâu, cũng không
cho bất cứ ai tiếp xúc với ông, nhưng ông không chết đói nhờ đồng bào
thỉnh thoảng lén ném vào sân cho ông một túi gạo nhỏ. Trong hoàn cảnh
khó khăn như vậy, ông vẫn viết được tác phẩm Thế Giới Quan Phật Giáo
trước khi viên tịch vào năm 1961. Bản thảo này sau đó được chuyển vào
Nam và được tạp chí Vạn Hạnh xuất bản năm 1967 tại Sài Gòn. Tác phẩm
này nói về sự cần thiết của đạo Phật trong trào lưu chính trị, văn hóa
và kinh tế hiện đại, trong đó ông phê bình sự nông cạn của chủ nghĩa
Duy Vật và khẳng định Phật Giáo không duy vật, chẳng duy tâm.
Sư Mật Thể là người có chí nguyện lớn và sẵn sàng hành động để thực
hiện chí nguyện đó. Ông là hình ảnh tiêu biểu của lý tưởng Bồ Tát
trong Lục Ðộ Tập Kinh. Trong suốt chiều dài lịch sử Phật Giáo Việt
Nam, hình ảnh Phật Giáo dấn thân đó luôn luôn xuất hiện vào mỗi thời
nhân dân khốn khó điêu linh.
Năm 1950 từ 26 tháng 5 tới 7 tháng 6, đại biểu 26 nước họp tại thủ đô
Colombo (Tích Lan) thành lập World Fellowship of Buddhists (Hội Phật
Giáo Liên Hữu Thế Giới, thường gọi tắt là Phật Giáo Thế Giới) công
nhận lá cờ 5 sắc do đại tá Olcott đề nghị là lá cờ Phật Giáo. Phái
đoàn Việt Nam tham dự gồm: Thượng Tọa TỐ LIÊN trưởng đoàn, Phạm Chữ
thông dịch viên Anh ngữ bộ Ngoại Giao, Ðại Ðức Thạch Bích đại diện
Phật Giáo Nguyên Thủy, thành viên. Phái đoàn đã tranh đấu để VN được
quyền cử một đại biểu vào Ðại Hội Ðồng của Hội Phật Giáo Liên Hữu Thế
Giới như một quốc gia riêng biệt, thay vì chỉ có một đại biểu chung
cho Liên Bang Ðông Dương.
Năm 1950 (ngày 6 tháng 8), quốc trưởng Bảo Ðại ký ban hành dụ số 10
quy định muốn lập hội phải xin phép trước, chính quyền có thể bác đơn
mà không cần nêu lý do. Giấy phep lập hội đã cấp có thể bị thu hồi vì
lẽ trị an. Chính quyền có quyền xét hỏi, kiểm soát nội tình các tôn
giáo. Cấp lãnh đạo các tôn giáo phải do một đại hội đồng bầu cử. Chỉ
có các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia Tô cùng các Hoa Kiều Lý Sự
Hội được hưởng quy chế đặc biệt sẽ quy định sau. Giáo hội các tôn giáo
khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo ... chỉ được coi như
hiệp hội. Chánh quyền có thể bất cứ lúc nào cấm dùng danh xưng Phật
Giáo mà bắt gọi là hội Phật Học mới cấp giấy phép lập hội. Chính quyền
Ngô Ðình Diệm tiếp tục duy trì dụ số 10 cho tới ngày cuối của chế độ.
Bảo Ðại từng là Hội Trưởng Danh Dự hội An Nam Phật Học (lập năm 1932
tại Huế), đã từng ngỏ ý muốn học kinh Phật với bà Từ Cung vào năm 1945
( theo hồi ký Quách Tấn).
Năm 1951 (ngày 6 tháng 5) vào lễ Phật Ðản, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
được thành lập theo quyết nghị đại hội có 51 đại biểu tham dự họp tại
chùa Từ Ðàm, Huế. Sáu đoàn thể tham dự Ðại Hội là Giáo Hội Tăng Già
Bắc Việt và Hội Phật Giáo Việt Nam (Bắc), Giáo Hội Tăng Già Trung Việt
và Hội Việt Nam Phật Học (Trung), Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và Hội
Phật Học Nam Việt. Ðứng đầu tập đoàn miền Bắc là thiền sư Mật Ứng,
phát ngôn viên là thiền sư Trí Hải. Lãnh đạo tập đoàn miền Trung là
Hòa Thượng Tịnh Khiết, phát ngôn viên là thiền sư Trí Quang. Lãnh đạo
tập đoàn miền Nam là thiền sư Ðạt Thanh, phát ngôn viên là thiền sư
Thiện Hòa. Nhạc sĩ Lê Cao Phan sáng tác bản nhạc Phật Giáo Việt Nam để
chào mừng sự thống nhất Bắc Nam Trung này. Năm 1964, bản nhạc này trở
thành bản đạo ca chính thức.
HT Trí Quang cho rằng trong việc thành lập Tổng Hội có 3 đoàn thể
"thiếu hoa hỉ ". Trong loạt bài trên tạp chí Phật Giáo Việt Nam năm
1959, tác giả Trọng Ðức cho rằng quần chúng thời đó trách cứ thiền sư
Trí Quang (Hội Việt Nam Phật Học) và cư sĩ Mai Thọ Truyền (Hội Phật
Học Nam Việt) về việc trì trệ sự thống nhất Phật Giáo. Nhất Hạnh
(VNPGSL 3, tr. 339) nhận xét: Trí Quang thông minh nhưng quá nhiều tự
tín nên gặp phải những trở lực từ nội bộ vì có những quyết định quan
trọng mà ông không chịu tham khảo ý kiến tập thể.
Dựa vào dụ số 10 nói trên, chính quyền bắt gọi là Hội Phật Học mới cấp
giấy phép, cấm dùng danh xưng Phật Giáo. Chính quyền của thủ tướng
Nguyễn Văn Tâm ra lệnh triệt hạ bảng hiệu văn phòng, HT Hội Chủ Thích
Tịnh Khiết bị bắt phải nạp khuôn dấu, thành phần Ban Quản Trị Trung
Ương người bị bắt, người phải lánh nạn. Do nỗ lực của TT Thích Trí
Quang, đầu năm 1953, Tổng Hội mới được chính thức cấp giấy phép với
danh nghĩa Tổng Hội Phật Học Việt Nam. Cho tới năm 1956, dưới chính
quyền Ngô Ðình Diệm, ông lại vận động để Tổng Hội mới mang danh là
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn.
Năm 1952 (theo HT Trí Quang), để đề phòng sự tan rã của Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam vì chính quyền Trần Văn Hữu và sau đó Nguyễn Văn Tâm gây
nhiều khó khăn, ba tổ chức tăng già họp đại hội thành lập Giáo Hội
Tăng Già Toàn Quốc tại chùa Quán Sứ, Hà Nội vào cuối tháng 8 đầu tháng
9. HT Tuệ Tạng (Thích Thanh Thuyên) được bầu làm Thượng Thủ, chỉ đạo
Ban Tổng Trị Sự. Ðại hội cũng thông qua Quy Chế Giáo Hội Tăng Già Toàn
Quốc.
HT TUỆ TẠNG (1889- 1959) sinh tại Nam Ðịnh, xuất gia năm 14 tuổi, thọ
giới sa di năm 16 tuổi, sau đó được cử đi trụ trì chùa Cồn ở Nam Ðịnh
trước khi thọ giới tỳ kheo. Năm 1920 ông cùng với sư tổ một số chùa ở
Nam Ðịnh lập hội Tiến Ðức Cảnh Sách để đào tạo tăng ni thành một đoàn
thể có học và hạnh không phân biệt sơn môn. Năm 1934, ông cùng sư tổ
chùa Trung Hậu, chùa Bằng Sở, TT Trí Hải và cư sĩ Thiều Chửu lập Hội
Phật Giáo Việt Nam, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Năm 1941 đến
1945 ông kiêm nhiệm giám đốc và đốc giáo trường Tăng Học Bắc Việt
trong thời kỳ chiến tranh, vừa lo ăn vừa lo dạy cho hơn 50 tăng sinh
khi trường phải di chuyển từ chùa này qua chùa khác trước khi trở lại
chùa Quán Sứ và được cụ Hội Trưởng Hội Tế Sinh Bắc Việt cúng dường một
ngôi chùa, một trường tăng học và 100 mẫu ruộng ở tỉnh Phúc Yên. Ðầu
năm 1945, thời Nhật chiếm đóng, ông nhận trách nhiệm Chánh Hội Trưởng
Hội Phật Giáo Việt Nam, trú trì chùa Quán Sứ. Năm 1946, ông xin từ
chức, trở về chùa Cồn, Nam Ðịnh tu dưỡng. Cho tới năm 1949, thường có
khoảng hơn 60 tăng sinh theo học với ông. Ông tịch ngày 10 tháng 5.
1959 tại Nam Ðịnh. Ông được tăng chúng kính nể là người thuộc luật
tạng và trì luật bậc nhất.
Năm 1952 Phái đoàn Phật Giáo Tích Lan trên đường biển tham dự Ðại Hội
Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (World Fellowship of Buddhists) kỳ II tổ
chức tại Tokyo có đem theo một viên ngọc Xá Lợi tặng Hội Phật Giáo
Nhật Bản. Vì tầu thủy sẽ ghé lại cảng Sài Gòn 24 tiếng, Chủ Tịch Hội
LHPGTG, tiến sĩ Malalasekeka đánh điện thông báo cho HT Tố Liên ( đại
diện Hội LHPGTG tại VN). TT Tố Liên được sự đồng ý của các tập đoàn
trong Tổng Hội Phật Giáo VN đã ủy nhiệm cho Hội Phật Học Nam Việt tổ
chức lễ cung nghinh tại Sài Gòn để Phật tử có cơ hội lần đầu tiên
chiêm bái Xá Lợi Phật. Cư sĩ Mai Thọ Truyền lập tức vận động thành lập
Ủy Ban Liên Phái gồm 11 đoàn thể Phật Giáo để tổ chức lễ cung nghinh
Xá Lợi Phật.
Ngày 13 tháng 9. 1952, một cuộc diễn hành từ cảng Sài Gòn qua nhiều
đại lộ, có xe hoa trưng cờ 5 sắc của Phật Giáo và các đoàn thể Gia
Ðình Phật Tử trong đồng phục và cờ hiệu riêng hộ tống. Một bàn thờ
được tôn trí tại trường đại học Sài Gòn để đặt Xá Lợi cho đồng bào
chiêm bái. Nửa triệu người quỳ xuống hai bên đường khi xe Xá Lợi Phật
đi qua trong cảm tưởng phấn khởi như thấy được Phật.
Báo chí toàn quốc đều có bài tường thuật về cuộc diễn hành này. Cuộc
diễn hành gây kinh ngạc cho chính quyền Việt Pháp về khả năng tổ chức
và tiềm lực lớn lao không ngờ của Phật Giáo Việt Nam. Nhờ vậy, họ giảm
bớt sự khó khăn gây cho Tổng Hội Phật Giáo và Giáo Hội Tăng Già Toàn
Quốc. Phong trào Chấn Hưng và Thống Nhất Phật Giáo cũng do đó được các
Phật tử từ Nam chí Bắc đón nhận nồng hậu.
Năm 1953 sau khi tham dự Hội Nghị Thành Lập Hội Liên Hữu Phật Giáo
Thế Giới (World Fellowship of Buddhists) tại Colombo, thủ đô Tích Lan,
năm 1950, Phật Giáo Việt Nam có cơ hội trao đổi văn hóa Phật Giáo với
các nước trong tổ chức này. Với các học bổng nhận được từ các nước
Nhật Bản, Tích Lan và Ấn Ðộ, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đề cử các Ðại
Ðức trẻ tuổi Tâm Giác, Thanh Kiểm, Quảng Ðộ, Phúc Tuệ ( Bắc), Thiện
AÂn, Trí Không, Minh Châu (Trung), Quảng Minh và Huyền Dung (Nam) đi
du học tại các nước trên. Nhờ chương trình tăng ni du học bắt đầu từ
năm 1953, Phật Giáo Miền Nam có được những nhân tài cần thiết để đáp
ứng nhu cầu phát triển Giáo Hội từ đầu năm 1964. Ðại đức Trí Không
hoàn tục trong thời gian du học trở thành cư sĩ T.Q.T, sau năm 1963
trở thành Bộ Trưởng Xã Hội rồi Nghị Sĩ.
Năm 1953 Thượng tọa THIỆN HOA (Trần Thiện Hoa, 1918- 1973) sau khi
nhận chức Trưởng ban Giáo Dục kiêm Trưởng ban Hoằng Pháp của Giáo Hội
Tăng Già Nam Việt tại chùa Ấn Quang, đã mở lớp dạy giáo lý thứ tư và
thứ năm mỗi tuần tại chùa Ấn Quang (cho tăng sĩ) và chùa Phước Hòa
(trụ sở Hội Phật Học Nam Việt, cho cư sĩ). Những bài giảng đó sau này
được ông hoàn chỉnh lại thành bộ sách nổi tiếng Phật Học Phổ Thông,
được GHTGNV ấn hành lần đầu năm 1958 làm tài liệu cho các Giảng Sư
Ðoàn và các Sứ Giả Như Lai. Bộ sách này còn được tái bản nhiều lần
trong nước và tại hải ngoại.
TT Thiện Hoa theo học với tổ Khánh Anh từ 7 tuổi, nhập chúng tu học
năm 1931 khi HT Khánh Anh khai giảng lớp gia giáo tại chùa Long An,
Vĩnh Bình. Ông thọ giới sa di 1935, cầu học tại nhiều Phật học đường ở
Huế từ 1938- 1945, năm 1946 thọ giới tỳ kheo tại đại giới đàn chùa Kim
Huê, Sa Ðec.
TT Thiện Hoa là một nhà giáo dục Phật giáo đa tài và tháo vát. Trong
thời gian chiến tranh 1946- 1952, ông vừa dạy kinh điển và Phật pháp
cho tăng ni, dạy học cho trẻ em, mở lớp chống nạn mù chữ, chích thuốc
khám bệnh kiêm cả chuẩn mạch bốc thuốc Ðông y miễn phí cho đồng bào.
Trong thời gian từ 1953- 1962, mỗi năm hai khóa Hạ và Ðông, ông huấn
luyện đào tạo cán bộ trú trì và giảng viên Phật học. Các giảng viên
này sau khi học xong 1 khóa 10 bài, được khảo hạch chu đáo rồi được cử
đi giảng ở các chùa Tỉnh hội 10 đêm, sau đó trở về thụ huấn 10 bài
khác. Cách huấn luyện vừa học vừa hành này giúp ích rất nhiều cho
giảng viên và tạo nên phong trào học giáo lý từ Ðô thành tới các tỉnh.
Ông còn tu chỉnh lại và lập nhà xuất bản Hương Ðạo để in các bài giảng
làm cẩm nang cho các giảng viên.
Bộ Phật Học Phổ Thông gồm 10 tập của ông tới nay vẫn được coi là bộ
sách quý vì nó dễ hiểu, giúp người học Phật dễ dàng leo lên các nấc
thang Phật pháp từ các vấn đề căn bản nhân quả, luân hồi, đến lịch sử
Phật giáo, các tông phái, các kinh Lăng Nghiêm, Viên Giác, Duy Thức
Học, các bộ luận Ðại Thừa và sau cùng là kinh Kim Cương và Tâm Kinh.
Các bộ sách quý nổi tiếng khác do ông trước tác là Tám Quyển Sách Quý
( diễn giải 8 chủ đề đạo đức Phật giáo), Duy Thức Học (6 tập), Bản Ðồ
Tu Phật ( về 10 tông phái Phật giáo Trung Hoa) và Phật Học Giáo Khoa
cho các trường Bồ Ðề (từ đệ thất tới đệ nhất). Tổng cộng HT Thiện Hoa
trước tác 80 tác phẩm chia thành 8 loại, từ tiểu thuyết tới dịch và
giảng kinh. Ông chịu ảnh hưởng phương pháp diễn giảng Phật pháp rõ
ràng rành mạch theo lối Tây phương của bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám
(mà ông có dịp dự thính mỗi đêm trong 1 tháng vào năm 1938.
Ông được tôn cử làm Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo (Ấn Quang) 1966- 1973.
Các đệ tử nổi tiếng của ông là HT Thanh Từ, HT Thiền Tâm ...
Năm 1956 ngày 6 và 7 tháng 10, ni chúng thuộc Giáo Hội Tăng Già Nam
Việt tập trung về chùa Huê Lâm (Sài Gòn) họp Ðại Hội Thành Lập Ban
Lãnh Ðạo Ni Bộ Lâm Thời. Ni Bộ cũng thành lập nội quy và tổ chức hành
chánh riêng, trụ sở đặt tại chùa Huê Lâm, Ni Sư Như Thanh được suy tôn
làm Ni Trưởng. Cuối năm 1956, GHTGN Nam Việt giao chùa Dược Sư cho Ni
Bộ, trụ sở Ni Bộ được dời về đây. Năm 1962, chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn)
được khánh thành làm Tổ Ðình Ni Giới, một Phật Học Viện đồng thời được
khia giảng tại đây để đào tạo Ni tài. Năm 1972, Ni Trưởng Như Thanh
được giao phó chức vụ Vụ Trưởng Ni Bộ Bắc Tông trong GHPGVNTN.
Ni Trưởng NHƯ THANH (Nguyễn Thị Thanh, 1911- 1998) xuất gia năm
1932 với HT Pháp Ấn, chùa Phước Tường Thủ Ðức. Khi đó bà đã thông thạo
Hán học, Tây học và Phật học vì thân phụ bà là một nhà nghiên cứu Phật
học uyên thâm. Từ năm 1935 tới 1941, bà đi từ Nam ra Trung cầu học với
các cao tăng về kinh điển, rồi một mình ra Bắc nghiên cứu về Luật
Tạng. Từ năm 1942, bà trở về Nam dành trọn nỗ lực vào việc tổ chức và
hướng dẫn Ni chúng tu học. Năm 1956, bà vận động với cấp lãnh đạo Giáo
Hội Tăng Già Nam Việt đề nghị thống nhất Ni chúng, sau khi được chấp
thuận bà đi các chùa Ni khắp miền Ðông và Tây Nam Bộ kêu gọi đoàn kết.
Từ năm 1961 tới 1998, bà liên tiếp được mời làm Ðàn Chủ và Hòa Thượng
Ðầu Ðàn cho 13 Giới Ðàn Ni. Bà quan niệm: Giới Luật là thọ mạng của
Phật pháp.
Bà là nhà tổ chức Ni chúng tận tụy và tài ba, thành lập nhiều học viện
cho Ni chúng, mở nhiều lớp giáo lý cho đại chúng, lập các cơ sở sản
xuất ,trường trung tiểu học, phòng phát thuốc Ðông tây Y miễn phí, ký
nhi viện, trường huấn nghệ tại các ni viện. Bà còn là một giảng sư ưu
tú của Giáo Hội đã xuất bản từ năm 1956: 5 tập Giáo Lý Căn Bản, 3 tập
Luận, 3 tập Sử Phật Giáo, 3 tập về Luật Tạng, 1 tập Giảng Kinh, 6 tập
dịch về nghiên cứu Phật pháp và một tập thơ. Các tác phẩm quan trọng
nhất của bà là : Bát Nhã Cương Yếu giảng về kinh Ðại Bát Nhã, Hành Bồ
Tát Ðạo luận giải về phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, Duy Thức
Học gồm 4 tập.
Ni trưởng Như Thanh đã giữ lửa cho bó đuốc phục vụ Ni giới mà Ni Sư
Diệu Tính trao truyền lại. Ni sư DIỆU TỊNH (Phạm Ðại Thọ, 1910- 1942),
thọ đại giới năm 1930 tại giới đàn núi Ðiện Bà với thiền sư Giác Hải,
từ năm 1931 đã dịch một số kinh điển ra quốc ngữ , đã viết bài trên Từ
Bi AÂm số 25 kêu gọi nữ giới hợp tác để mở mang ni giới, năm 1934 mở
lớp ni học khi làm trú trì chùa Thiên Bửu và đi giảng kinh khắp Lục
Tỉnh theo lời mời của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Năm 1935 bà khai
sơn chùa Từ Hóa ở Gia Ðịnh, năm sau đổi thành Hải Ấn Ni Tự, ní chúng
quy tụ về tu học khá đông. Năm 1938 bà ra Bắc nghiên cứu luật tạng.
Trên đường về Nam, bà được Nghi Xương Hoàng Thái Hậu mời vào cung và
giảng trong 2 tháng bộ Phạm Võng Lược Sớ. Trở về chùa Hải Ấn, bà lại
viết bài kêu gọi nữ giới đứng dậy tự lập và xiển dương chánh pháp trên
tạp chí Từ Bi AÂm. Năm 1939 bà tổ chức ni học viện tại chùa Giác Linh,
Sa Ðec, ni chúng gần 100 người. Năm 1940 bà lại khai giảng trường ni
tại chùa Linh Phước. Vì những nỗ lực liên tục lo cho các trường ni về
vật chất lẫn tinh thần, sức khỏe bà hao mòn. Bà viên tịch tại chùa Hải
Ấn năm 1942.
Còn có nhiều Ni Sư tiêu biểu khác trong phong trào xây dựng và phát
triển Ni giới trong thời kỳ phục hưng Phật Giáo. Chẳng hạn Ni sư Chí
Kiên Hồng Chí ( Ðặng Thị Mười, sanh năm 1913, xuất gia 1928) kế thừa
Ni Trưởng Như Thanh làm Vụ Trưởng Ni Bộ Bắc Tông từ 1975; Ni Sư Diệu
Ninh ( Vương Thị Kiến, sanh năm 1914, xuất gia 1930 với thiền sư Như
Nhiêu tại chùa Thành Xuân, Châu Ðốc) rất tích cực trong công tác cứu
tế xã hội. Tại miền Bắc, Ni sư Ðàm Soạn, đệ tử của thiền sư Ðông Ðồ
(Sơn Môn Trung Hậu, tỉnh Phúc Yên), là vị ni đầu tiên được mời vào
hoàng cung Huế giảng giải Phật pháp cho hoàng thái hậu và phi tần từ
cuối thập niên 1920. Năm 1928, bà được mời xem đất để xây chùa Ni đầu
tiên ở Huế là chùa Diệu Viên. Sau khi chùa hoàn thành, đệ tử của bà
là Ni sư Hương Ðạo được cử làm trú trì chùa này. Vì vậy mỗi năm Ni sư
Ðàm Soạn vào Huế ba tháng để lo Phật sự. Năm 1952, được Hội Dược Sư
mời vào Nam viếng chùa Dược Sư ở Gia Ðịnh, bà kêu gọi nên phát triển
chùa Dược Sư thành một trường Ni học lớn. Sau khi trường Dược Sư được
thành lập, bà ở lại an cư trong ba tháng. Bà viên tịch năm 1968 tại
Bắc Ninh.
Năm 1957 chính phủ Ngô Ðình Diệm loại Lễ Phật Ðản ra khỏi danh sách
các ngày nghỉ lễ chính thức của quốc gia. Hội Việt Nam Phật Học tại
miền Trung họp Tổng Hội Ðồng lần thứ 25 gồm toàn thể các đạo sư và
đại diện 14 Tỉnh Hội từ ngày 8 tới ngày 11 tháng 3 tại chùa Từ Ðàm,
Huế, (chủ tịch là TT Thích Thiện Minh), lập kiến nghị đặt niềm tin
tưởng vào Tổng Hội Phật Giáo VN và yêu cầu Tổng Hội liên tục và tích
cực can thiệp lên Chính Phủ và Quốc Hội công nhận ngày Phật Ðản là
ngày lễ hợp pháp vĩnh viễn của quốc gia.
Lễ Phật Ðản năm đó được Phật tử khắp nơi tổ chức rầm rộ lớn gấp mười
lần các năm trước từ miền Trung tới miền Nam. Năm 1958, chính quyền
phải công nhận lại ngày Phật Ðản là ngày lễ chính thức của quốc gia.
Năm 1962 Thiền sư Nhất Hạnh viết đoản văn Bông Hồng Cài Áo, trong đó
ông đề nghị nên đưa tục lệ cài một bông hoa trên áo của người Nhật
trong ngày Mother's Day vào nghi thức lễ Vu Lan. Ðoàn Sinh Viên Phật
Tử Sài Gòn chép tay đoản văn này thành hàng trăm bản phổ biến ngay. Lễ
Vu Lan năm này tại chùa Xá Lợi (Sài Gòn), Ðoàn Sinh Viên Phật Tử thực
hiện nghi thức Bông Hồng Cài Áo: những người dự lễ nếu còn mẹ được cài
bông hoa màu hồng trên áo, những người mất mẹ được cài bông hoa màu
trắng. Kể từ đó, lễ Bông Hồng Cài Áo trở thành nghi thức truyền thống
đặc biệt trong lễ Vu Lan của Phật Giáo Việt Nam. Năm 1967, nhạc sĩ
Phạm Thế Mỹ phỏng theo ý văn trong đoản văn trên của Nhất Hạnh, viết
bản nhạc Bông Hồng Cài Áo. Bản nhạc này lập tức được sử dụng trong
nghi thức Bông Hồng Cài Áo của lễ Vu Lan. Tại hải ngoại, nghi thức
Bông Hồng Cài Áo được nhiều bài báo Mỹ ca ngợi về ý nghĩa của nó.
Có thể nói qua việc thực hiện nghi thức Bông Hồng Cài Áo trong lễ Vu
Lan năm 1962 tại chùa Xá Lợi, Ðoàn Sinh Viên Phật Tử đã chứng tỏ được
khả năng tổ chức. Họ sẽ trở thành lực lượng chính làm bùng lớn cuộc
đấu tranh của Phật Giáo từ tháng 5.1963, dẫn tới sự sụp đổ của chế độ
Ngô Ðình Diệm.
Năm 1963 Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 63 khởi đầu là phản ứng của
quần chúng Phật Tử, có sự tham dự và kết hợp đồng bộ của các đoàn thể
Phật Giáo trong cả nước, giới sinh viên học sinh, Giáo sư Ðại Học,
Nhân sĩ trí thức và kết thúc bằng cuộc đảo chính của các tướng lãnh.
Chiều ngày 7 tháng 5, Cảnh Sát Huế đi khắp thành phố thông báo lệnh
cấm treo cờ Phật Giáo và tháo gỡ các cờ này treo tại tư gia và hương
án bên đường. Sau khi có sự chất vấn của tăng già Huế và đồng bào biểu
tình, Thị Trưởng Huế cho loa phóng thanh khắp nơi xác nhận đồng bào
được phép treo cờ Phật Giáo trong lễ Phật Ðản.
Ngày 8 tháng 5, lễ Phật Ðản, đài phát thanh Huế không phát thanh buổi
lễ Phật Ðản vào 8 giờ tối cùng ngày theo lệ thường. Phần gây sôi nổi
trong buổi lễ là lời phát biểu của TT Trí Quang về vấn đề triệt hạ cờ
Phật Giáo. Khi quần chúng được biết có lệnh cấm phát thanh buổi lễ
Phật Ðản, khoảng 6 ngàn đồng bào tập trung biểu tình phản đối tại đài
phát thanh Huế. Trong lúc TT Trí Quang và Tỉnh Trưởng NVÐ đang thương
thảo về việc cho phát thanh buổi lễ trong tối đó thì quân đội dưới
quyền thiếu tá ÐS nổ đạn mã tử và lựu đạn cay tạo nên một cảnh hỗn
loạn, rồi súng trường và xe tăng được sử dụng để giải tán đám biểu
tình. Bác sĩ Erich Wulff, giáo sư người Ðức dạy tại Ðại Học Y Khoa Huế
cho biết có 7 tử thương, trong đó 5 xác trẻ em bị bắn nát đầu trong
nhà xác bệnh viện Huế. Ông đã chuyển được hai tấm hình chụp những xác
này cho vài tờ báo Tây Ðức qua ngả Nam Vang.
Ngày 9 tháng 5, chính quyền loan tin Việt Cộng trà trộn vào đám biểu
tình ném lựu đạn làm 8 người chết, 4 người bị thương. Quân đội tuần
hành trong thành phố, Cảnh Sát túc trực ở các ngã đường, tất cả trong
tư thế sẵn sàng tác chiến.
Ngày 10 tháng 5, các vị lãnh đạo Phật Giáo họp tại chùa Từ Ðàm ( HT
Tịnh Khiết, TT Mật Nguyện thuộc Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, TT Trí
Quang thuộc Hội Phật Giáo VN Trung Phần, TT Mật Hiển đại diện Phật
Giáo Thừa Thiên và TT Thiện Siêu đại diện Tỉnh Hội Phật Giáo Thừa
Thiên) soạn thảo và gởi tới Tổng Thống Diệm bản Tuyên Ngôn 5 điểm về 5
nguyện vọng của Phật Giáo Ðồ yêu cầu chính phủ: thu hồi công điện ra
lệnh triệt hạ cờ Phật giáo, Phật Giáo được hưởng quy chế đặc biệt như
các hội truyền giáo Thiên Chú Giáo, chấm dứt tình trạng khủng bố Phật
tử, cho tăng ni Phật giáo được tự do hành đạo, đền bồi những người bị
chết oan và trừng trị các kẻ chủ mưu. Ngày 15 tháng 5, tại chùa Từ
Ðàm, Bản Phụ Ðính giải thích về 5 nguyện vọng trên được công bố: Phật
Giáo VN không chủ trương lật đổ chánh phủ, PGVN không xem ai là kẻ
thù, không tranh đấu với tư cách một tôn giáo chống một tôn giáo,
tranh đấu theo đường lối bất bạo động cho bình đẳng tôn giáo và công
bằng xã hội; PGVN không chấp nhận bất cứ ai lợi dụng cuộc tranh đấu
này. Cùng ngày, một phái đoàn Phật Giáo tới Dinh Gia Long, yết kiến
Tổng Thống Diệm, trao cho ông bản Tuyên Ngôn Ngạy diểm và trình bày
các giải thích về nguyện vọng của Phật Giáo. Sau 3 giờ trao đổi, Tổng
Thống Diệm đổ lỗi vụ chết người tại Ðài Phát Thanh Huế cho Cộng Sản và
đưa ra vài hứa hẹn mơ hồ. Ngày 16 tháng 5, phái đoàn Phật Giáo họp báo
tại chùa Xá Lợi, công bố Bản Tuyên Ngôn 5 điểm và Bản Phụ Ðính.
Ngày 20 tháng 5, một tài liệu 45 trang liệt kê những vụ đàn áp, bắt
bớ, thủ tiêu Phật tử trong nhiều năm qua được gởi tới chính phủ.
Ngày 21 tháng 5, lễ cầu siêu cho các nạn nhân tại Ðài Phát Thanh Huế
được Hội Chủ Tổng Hội PGVN ra lệnh tổ chức trên toàn quốc. Tại Sài
Gòn, một ngàn tăng ni tập trung tại chùa Ấn Quang rước linh vị các nạn
nhân về chùa Xá Lợi. Trong khi đó 350 tăng ni từ chùa Xá Lợi diễn hành
về Quốc Hội. Tại chùa Từ Ðàm Huế, sau lễ cầu siêu, toàn thể tăng ni
bắt đầu tuyệt thực, có khoảng 2 ngàn Phật tử cùng tham dự.
Ngày 25 tháng 5, HT Tịnh Khiết triệu tập cuộc họp giữa các đại diện
các tổ chức và môn phái Phật Giáo. Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo được
thành lập để chỉ đạo cuộc tranh đấu này, TT Tâm Châu làm Chủ Tịch. Bản
Tuyên Ngôn bày tỏ quyết tâm đoàn kết tranh đấu bất bạo động cho 5
nguyên vọng của Phật Giáo mang chữ ký của 11 đại diện được công bố.
Ngày 31 tháng 5 tăng ni tổ chức tuyệt thực , có quần chúng tham dự.
Ðại diện sinh viên các phân khoa Viện Ðại Học Huế họp tại chùa Từ Ðàm
tung thư ngỏ kêu gọi sinh viên học sinh đoàn kết sau lưng các nhà lãnh
đạo Phật Giáo, đồng thời lập kiến nghị yêu cầu chính phủ giải quyết 5
nguyện vọng chính đáng và tối thiểu của Phật Giáo. Quần chúng biểu
tình và diễn hành ủng hộ 5 nguyện vọng của Phật Giáo ở nhiều nơi. Cư
sĩ Mai Thọ Truyền, Hội Trưởng Hội Phật Học Nam Việt kêu gọi các tỉnh
hội trực thuộc phối hợp với Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tổ chức tranh
đấu tại miền nam. Lực lượng Cảnh Sát và Mật Vụ bao quanh các chùa Xá
Lợi (Sài Gòn), Từ Ðàm, Báo Quốc, Linh Quang (Huế) từ chiều 30 tháng 5.
Ngày 3 tháng 6, Cảnh Sát dùng lựu đạn cay và lựu đạn khói giải tán các
người biểu tình toan tập trung về chùa Từ Ðàm. Từ ngày 4 tháng 6, quân
đội được sử dụng để phong tỏa các chùa thuộc Hội Phật Giáo Việt Nam và
Giáo Hội Tăng Già Trung Việt. tại một số tỉnh miền Nam, các đoàn thể
Phật Giáo bị bắt ép ký tên ủng hộ chánh quyền, các người tình nghi là
lãnh đạo cuộc tranh đấu tại địa phương bị theo dõi, bị bắt, bị tra
tấn.
Ngày 11 tháng 6 HT Quảng Ðức ( Lâm Văn Tức 1897- 1963), Trưởng ban
Nghi Lễ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tự thiêu tại Sài Gòn. Oai nghi của
ông khi lửa cháy xác thân, bức thư để lại mà ông gọi là Lời Nguyện Tâm
Huyết, và nhất là trái tim đã biến thành xá lợi của ông đã làm chấn
động lòng người. Chính phủ phải thành lập Ủy ban Liên Bộ gồm Phó Tổng
Thống Nguyễn Ngọc Thơ và các Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống, Bộ Trưởng Nội
Vụ họp với Phái Ðoàn Phật Giáo do TT Thiện Minh hướng dẫn để giải
quyết ổn thỏa 5 nguyện vọng của Phật Giáo. Sau 3 ngày họp (từ thứ sáu
14 tháng 6 tới trưa chủ nhật 16 tháng 6), một bản Thông Cáo Chung được
công bố.
Chính quyền một mặt trì hoãn việc thực hiện các điều khoản của Bản
Thông Cáo Chung, mặt khác thương lượng với vài tu sĩ Cổ Sơn Môn để
thành lập Tổng Hội Phật Giáo Cổ Sơn Môn đối lập với khối Phật Giáo
tranh đấu. Lực lượng Thanh Niên Cộng Hòa do Cố Vấn Ngô Ðình Nhu làm
thủ lãnh được học tập để sẵn sàng chống lại phong trào Phật Giáo.
Ngày 7 tháng 7, nhà văn Nhất Linh tự tử để phản đối việc chính phủ NÐD
bắt bớ và đưa ông và những nhân sĩ khác ra tòa xử tội đối lập. Ngày 13
tháng 7, khoảng 40 ngàn người dự tang lễ ông. Sinh viên học sinh góp
phần tích cực trong việc tổ chức tang lễ này.
Ngày 16 tháng 8, HT Tiêu Diêu tự thiêu tại chùa Từ Ðàm lúc 4 giờ sáng.
Ðáp lời kêu gọi của lãnh đạo Phật Giáo, toàn thể chợ, trường học, xí
nghiệp, công tư sở tổng đình công. Chính quyền Huế bao vây các chùa,
ban hành lệnh thiết quân luật và giới nghiêm toàn diện. Năm ngàn Phật
Tử túc trực tại chùa Từ Ðàm bảo vệ nhục thân ông vì sợ chính quyền sẽ
cướp đi. Viện trưởng Ðại Học Huế, Linh Mục Cao Văn Luận bị bãi chức vì
phản đối chính phủ. Năm Khoa Trưởng và Giám Ðốc Học Vụ Ðại Học Huế
cùng 30 nhân viên giảng huấn và toàn thể giảng viên Viện Hán Học Huế
ra thông cáo từ chức tập thể. Tại Sài Gòn, Ủy Ban Liên Phái gởi điện
cho Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và các tổ chức Phật Giáo nhiều nước Á
Châu lời kêu gọi can thiệp để chấm dứt sự ngược đãi tôn giáo đã trở
thành dã man.
Ðêm 20 tháng 8, chính quyền sử dụng Lực Lượng Ðặc Biệt tấn công đồng
loạt các chùa tham gia phong trào Phật Giáo trên toàn quốc. Khoảng 250
tăng ni bị bắt trong cuộc tấn công chùa Xá Lợi, nhưng TT Trí Quang đã
trốn qua cơ quan Mỹ USOM ở kế đó và xin tị nạn. Vì các nhà lãnh đạo
Phật Giáo được mật báo từ chiều hôm đó, nên TT Trí Quang có thể thông
báo cho báo chí ngoại quốc về kế hoạch tấn công Phật Giáo này. Mãi tới
sáng ngày 2 tháng 11, ông mới rời khỏi nơi đây trở về chùa Ấn Quang.
Sáng 21 tháng 8, lệnh thiết quân luật được ban hành trên toàn lãnh
thổ, xe phóng thanh và truyền đơn loan báo khắp nơi "chính phủ đã diệt
xong bọn phản động". Trong cuộc họp nội các sáng đó, Tổng Thống Diệm
thông báo về việc đánh chiếm các chùa và bắt giữ "bọn tăng ni làm
loạn". Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu bỏ phòng họp, về cạo đầu và nạp đơn từ
chức. Sau đó ông đi tìm các bạn bè trong giới giáo sư đại học, vận
động thành lập Phong Trào Trí Thức Chống Ðộc Tài. Chiều 21, sinh viên
Trung Tâm Kỹ Thuật bãi khóa. Chiều 22, bác sĩ Phạm Biểu Tâm, Khoa
Trưởng Y Khoa Sài Gòn, nạp đơn từ chức và bị bắt ngay. Nghe tin đó,
toàn thể sinh viên Y Khoa lập tức lên đường một mặt vận động giáo sư
của Viện Ðại Học Sài Gòn từ chức tập thể, mặt khác vận động toàn thể
sinh viên thành lập được Ủy Ban Chỉ Ðạo Sinh Viên Liên Khoa gồm 18
sinh viên đại diện tất cả các khoa. Ngay trong ngày 23, Ủy Ban quyết
nghị bản Tuyên Ngôn gồm 4 điểm yêu cầu chính quyền tôn trọng và bảo vệ
tự do tín ngưỡng, chấm dứt khủng bố Phật Giáo, trả tự do cho những
người bị bắt bớ, giải tỏa các chùa, ban bố tự do ngôn luận. Ủy Ban
được đổi tên thành Ủy Ban Chỉ Ðạo Sinh Viên Và Học Sinh. Bản Tuyên
Ngôn này được công bố sáng ngày 24 trước sự hiện diện của trên 3 ngàn
sinh viên học sinh đón tiếp giáo sư Vũ Văn Mẫu tại trường Luật Khoa
Sài Gòn. Mặc dù ngay trong cuộc biểu tình ngày 25 tháng 8 của sinh
viên,học sinh trước chợ Bến Thành, Cảnh Sát Chiến Ðấu đã bắn vào đám
biểu tình (nữ sinh Quách Thị Trang bị trúng đạn tử thương), học sinh
các trường Kỹ Thuật Cao Thắng, Mỹ Thuật Gia Ðịnh, Chu Văn An, Trưng
Vương, Gia Long liên tục là tiên phong trong phong trào bãi khóa và
tranh đấu. Số học sinh Sài Gòn bị chính quyền bắt tới gần 2 ngàn
người. Phong trào này lan nhanh tới học sinh các tỉnh.
Ðầu tháng 9, chính phủ cử một phái đoàn Dân Biểu do bà Ngô Ðình Nhu
hướng dẫn đi nhiều nước (kể cả Nam Tư) để "giải độc dư luận thế
giới"là chính quyền Ngô Ðình Diệm không khủng bố, không bắt bớ, không
giam cầm, không tra tấn Phật Giáo Ðồ, không kỳ thị đàn áp Phật Giáo.
Tới ngày 1 tháng 11, phái đoàn này vẫn còn ở ngoại quốc.
Ngày 7 tháng 10, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc họp thảo luận về tình
hình Việt Nam và quyết định đề cử một phái đoàn qua điều tra về tình
trạng đàn áp Phật Giáo. Sư ông Nhất Hạnh lúc đó đang ở New York đã chỉ
dẫn cho phái đoàn các phương pháp thu thập được chính xác các sự
kiện. Phái đoàn này tới Sài Gòn rạng sáng 24 tháng 10.
Ngày 1 tháng 11, quân đội đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm. Ngay
từ tháng 7, nhiều nhóm quân đội đã có ý tổ chức đảo chánh lật đổ Tổng
Thống Diệm.
Ngày 31 tháng 12, các hội đoàn Phật giáo họp tại chùa Xá Lợi thành
lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và soạn thảo bản Hiến
Chương. Các đoàn thể và người đại diện gồm: Ủy Ban liên Phái Phật
Giáo, TT Tâm Châu – Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt, TT Tâm Giác - Thiền
Tịnh Ðạo Tràng, TT Minh Trực – Giáo Hội Nguyện Thủy Việt Nam, TT Pháp
Tri – Giáo Hội Theravada, Lục cả Lâm Em – Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt
tại miền Nam, TT Thanh Thái – Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, TT Huyền
Quang – Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, TT Thiện Hoa – Hội Phật Học Nam
Việt, cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền – Hội Phật Giáo Nguyên Thủy, cư
sĩ Nguyễn Văn Hiếu – Hội Phật Giáo Trung Phần, TT Trí Quang – Hội Việt
Nam Phật Giáo, cư sĩ Vũ Bảo Vinh – Ðại diện Phật tử Theravada, cư sĩ
Sơn Thái Nguyên. HT Thích Tịnh Khiết được suy tôn là Thượng Thủ Hội
Chủ.
Ngày 12 tháng 1. 1964, TT Tâm Châu được bầu làm Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo.
Năm 1966 ngày 21 tháng 10 TT Tâm Châu với tư cách Viện Trưởng Viện Hóa
Ðạo triệu tập Ðại Hội Ðại Hội GHPGVNTN tại Việt Nam Quốc Tự (Sài Gòn).
Chiều ngày 22, Ðại Hội mới duyệt xong chương trình nghị sự. Ba giờ
sáng ngày 23, một số tăng sĩ chức sắc trong GHPGVNTN dưới sự vận động
của TT Trí Quang họp tại chùa Ấn Quang (Sài Gòn) họp thành lập Hội
Ðồng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN, đề cử TT Thiện Hoa làm Viện Trưởng Viện
Hóa Ðạo. Vì Ðại Hội tại Việt Nam Quốc Tự vẫn tiếp tục và thông qua
bản Hiến Chương Giáo Hội mới nên có tới hai Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất dưới ảnh hưởng của TT Trí Quang (Ấn Quang, dùng bản
Hiến Chương 1964) và TT Tâm Châu ( Việt Nam Quốc Tự, dùng bản Hiến
Chương 1966). Những dấu hiệu trầm trọng của sự phân hóa đã bắt đầu
xuất hiện từ tháng 5, tuy chỉ liên hệ tới vài cá nhân lãnh đạo Phật
giáo. Sự phân hóa này trở thành tệ hại hơn khi có những cuộc bạo động
giữa hai phe diễn ra nhắm vào việc nắm quyền sử dụng Việt Nam Quốc Tự.
Sự phân hóa này lan tới các tăng ni sinh du học tại Nhật và các nước
khác. Ða số nghiêng về phe Ấn Quang. Gần 20 năm sau, qua các bản tiểu
sử tự thuật, cả hai vai chủ động trong sự phân hóa này vẫn còn những
lời lẽ không được nhẹ nhàng khi nói về phe bên kia (xin xem các bản tự
thuật này nơi trang nhà Internet www.quangduc.com, phần Nhân Vật Phật
Giáo Việt Nam).
Năm 1971 ngày Phật Ðản (8 tháng 4 âm lịch) thiền sư THÍCH THANH TỪ
(Trần Thanh Từ) khai giảng khóa 1 đào tạo thiền sinh theo đường lối tu
hành mới, tại tu viện Chơn Không, Núi Lớn Vũng Tàu. 10 tăng sinh theo
học. Các tăng sinh được dạy Kinh, Luận Sử theo tinh thần Thiền Giáo
đồng hành, được học các pháp tọa thiền bắt đầu từ đếm hơi thở (sổ
tức). Ðường lối tu của HT Thanh Từ được ông trình bày chủ yếu trong
hai tác phẩm: Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20 ( viết cuối năm 1991)
và Ba Vấn Ðề Trọng Ðại Trong Ðời Tu Của Tôi ( viết đầu năm 1997)
Ông xuất gia năm 1949 (25 tuổi), đệ tử của HT Thiện Hoa. Năm 1961 tập
sự tu Thiền, ẩn tu tại rừng Phương Bối Am, Lâm Ðồng, ngộ đạo trong
thời gian nhập thất tại Vũng Tàu cuối tháng 7.1968 qua tham cứu công
án "không bằng, không trắc", ngay sau đó sáng lý Thiền khi đọc "Thiền
Nguyên Chư Thiên Tập Ðô Tự " của Khuê Phong Tông Mật. Ông đã từng là
giảng sư trong Giảng sư đoàn lưu động tại miền Nam 1953- 1960, Giảng
sư Viện Ðại Học Vạn Hạnh, trường Cao Ðaàu7843?ng Phật Học Huệ Nghiêm
và Phật Học Viện Dược Sư 1964- 1966.
Ðường lối tu Thiền của HT Thanh Từ tổng hợp pháp tu An tâm của Huệ Khả
(tổ Thiền Tông Trung Hoa thứ 2), pháp tu Sáu căn không dính mắc sáu
trần của Huệ Năng (tổ thứ 6 Thiền tông Trung Hoa) và pháp tu Hằng sống
thật với Thiền của Trúc Lâm sơ tổ Trần Nhân Tông. Phương pháp tu gồm 4
chủ đề :1- Biết vọng không theo, 2- Ðối cảnh không tâm, 3- Không kẹt
hai bên, 4- Hằng sống với cái thật không theo cái giả.
Sau giai đoạn khó khăn 1975- 1986 Phật giáo VN phải chịu dưới chế độ
Cộng Sản, hệ thống thiền viện của HT Thanh Từ bắt đầu phát triển từ
1987. Tới nay, hệ thống này đã có 10 thiền viện, trong đó có 2 thiền
viện ở Mỹ ( Ðại Ðăng ở California và Ngọc Chiếu ở Texas). Trụ sở trung
ương là Thiền viện Trúc Lâm, Ðà Lạt. Sinh hoạt của các thiền viện trên
tuân theo Bách Trượng Thanh Quy: sáng lao động, chiều học kinh luận
sử, đầu hôm tụng kinh Bát Nhã, tọa thiền, khuya tọa thiền. Ngoài ra
một số đệ tử của HT Thanh Từ cũng đang làm trú trì tại một số chùa tại
Mỹ nhưng không trực thuộc hệ thống thiền viện trên.
Tại hải ngoại, khoảng 50 tựa sách và rất nhiều băng giảng của HT Thanh
Từ được in và phổ biến rộng rãi qua hệ thống được công bố là phát miễn
phí của cư sĩ Minh Trung Lê Văn Hai và nhiều đệ tử của thầy tại Mỹ.
Hầu hết các trang nhà Internet Việt ngữ tại hải ngoại đều đưa lên mạng
lưới nhiều bài pháp của ông.
Ðường lối tu của HT Thanh Từ có người phê bình là rập khuôn theo Thiền
Trung Hoa, không mang bản sắc dân tộc của Thiền VN, và TT Ðại Lãn cho
rằng lối tu của thầy là lối tu sai lạc nguy hiểm (xin xem các bài của
TT Ðại Lãn trên trang nhà Internet www. daophatngaynay.com). Các đệ tử
tại Mỹ và Canada in và phổ biến sách của ông theo kiểu tràn ngập nên
có vẻ lãng phí và đã giới hạn phần nào hiệu năng hoằng pháp của các
sách.
Năm 1978 Thượng Tọa THIỆN MINH (Trí Nghiễm, 1921- 1978) bị bắt ngày 13
tháng 4 về tội danh "tổ chức chống phá cách mạng", bị công an tra tấn
chết tại số 258 Nguyễn Trãi, Quận 1 Thành phố HCM ngày 17 tháng 10 năm
1978. Ðể che dấu nội vụ, Công An đem thi hài ông ra trại cải tạo Hàm
Tân, Bình Tuy lập hồ sơ khai tử chết vì bệnh. Công An không cho HT Trí
Thủ lãnh xác ông làm lễ mai táng theo nghi thức Phật Giáo.
Trong cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963, ông là Trưởng phái đoàn
Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo họp với Ủy Ban Liên Bộ của chính phủ để
giải quyết năm nguyện vọng của Phật Giáo Ðồ VN về bình đẳng tôn giáo.
Sau đó, ông làm Tổng Vụ Trưởng Thanh Niên rồi Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo
GHPGVN Thống Nhất. HT Mãn Giác ca ngợi ông là một trong những vị lãnh
đạo tài ba nhất của Phật Giáo VN. Sư ông Nhất Hạnh (VNPGSL 3, tr. 252)
ca ngợi tài tổ chức và hành chánh của ông. Là người thông minh và ứng
xử mau lẹ, ông thường được chư tăng đề cử làm chủ tọa trong những buổi
đại hội có nhiều khó khăn. Năm 1949, sau khi Hội An Nam Phật Học tái
hoạt động ở miền Trung, ông được chỉ định xây dựng lại các cơ sở Tỉnh
Hội ở Cao Nguyên và Nam Trung Phần và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
này. Năm 1958- 1962 ông được tôn cử làm Tổng Trị Sự Hội Phật Giáo Việt
Nam
Năm 1983 Sư Ông NHẤT HẠNH (sinh năm 1926, xuất gia năm 16 tuổi) mở
khóa tu mùa hè đầu tiên với 117 thiền sinh tham dự tại Làng Hồng. Làng
Hồng, sau đổi tên thành làng Mai vì trồng nhiều cây mận, được thành
lập vào cuối năm 1982 ở gần tỉnh Bordeax nước Pháp. Gồm 3 nông trại
cách xa nhau, làng Mai bắt đầu với Xóm Hạ cuối tháng 9 năm 82. Hiện
nay làng Mai gồm 7 xóm: Xóm Thượng, Trung, Ðoài (một nông trại) – Xóm
Hạ (một nông trại) – Xóm Mới, Mới Ðầu Thôn, Mới Lưng Ðồi (một nông
trại). Mỗi xóm được thiết trí gần gũi với khung cảnh VN, có một ngôi
chùa thờ Phật Thích Ca và Khương Tăng Hội (được Sư Ông Nhất Hạnh coi
là sơ tổ Thiền Tông Việt Nam). Chi phí điều hành Làng Mai phần lớn
được đài thọ bởi tiền tác quyền các sách của sư ông Nhất Hạnh và lệ
phí thu từ các người tham dự các khóa tu. Có lẽ vì vậy mỗi năm ông đều
ra mắt ít nhất một tác phẩm Anh (thường do Parralax Press xuất bản) và
Việt Ngữ (do Lá Bối xuất bản). Sư cô Chân Không là đệ tử phụ tá đắc
lực của ông và là một nhà quản trị nhiều tài năng qua các giai đoạn
điều hành và phát triển Làng Mai.
Làng Mai thực hiện chương trình 4 năm đào tạo người xuất gia và sau tu
học 5 năm sẽ trở thành Giáo Thọ. Hiện nay làng có 70 giáo thọ xuất gia
và 30 giáo thọ tại gia. Ngoài ra có 700 người ở nhiều nơi gia nhập
dòng tu Tiếp Hiện do Sư Ông Nhất Hạnh chủ xướng. Dòng Tiếp Hiện có 14
giới, ngũ giới thông thường được gọi là 5 chánh niệm, được thành lập
tại Việt nam vào năm 1962 với 6 đệ tử đầu tiên (trong đó có sư cô Chân
Không và Nhất Chi Mai). Tác phẩm Bước Tới Thảnh Thơi do Lá Bối xuất
bản giới thiệu về giới luật của Làng Mai và dòng Tiếp Hiện (bản tiếng
Anh Interbeing , Parallax Press xuất bản).
Sư ông Nhất Hạnh sinh năm 1926, xuất gia năm 16 tuổi. Ông tự học Anh
và Pháp Ngữ từ 1950. Ðầu năm 1964, ông khởi xướng Phong Trào Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội trong giới sinh viên Phật Tử với 2 làng thí điểm
Cầu Kinh và Thảo Ðiền gần Sài Gòn (gọi là làng hoa tiêu). Năm 1966,
chính quyền VNCH không cho phép ông trở về VN và không cho phép xuất
bản các tác phẩm ký tên Nhất Hạnh. Tuy nhiên, nhà xuất bản Lá Bối ở
Sài Gòn vẫn xuất bản nhiều tác phẩm của ông dưới các bút hiệu khác
nhau. Ông được mục sư Luther King ( giải Nobel Hòa Bình 1964) đề nghị
ông là ứng viên tranh giải Nobel Hòa Bình năm 1966. Năm đó không có
ứng viên nào được Quốc Hội Na Uy trao giải này. Năm 1976- 1978, ông nỗ
lực trong việc vận động quốc tế cứu giúp các người tị nạn VN, và đã
thuê tầu ra biển Ðông vớt thuyền nhân lén đưa vào bờ, được ít lâu thì
nhóm của ông bị chính phủ Singapore trục xuất. Ông đã được mời giảng
pháp tại 35 quốc gia, quốc gia sau cùng là Trung Cộng vào năm 1999.
Năm 1983 Ðại giới đàn Thiện Hòa tổ chức từ ngày 2 tới 4 tháng. 1983
tại Phật Học Viện Quốc Tế ở California. Ðây là đại giới đàn đầu tiên
được tổ chức cho giới tử VN tại hải ngoại. Thành phần tam sư gồm có:
HT Huyền Vi (tu viện Linh Sơn, Pháp, Hòa thượng đầu đàn), HT Thiền
Ðịnh (Pháp, Yết Ma A Xà Lê), TT Ðức Niệm ( Phật Học Viện Quốc Tế, Giáo
Thọ A Xà Lê). Bảy tôn chứng sư theo thứ tự: TT Thiện Thanh (chùa Phật
Tổ, California), TT Thắng Hoan (hội Phật Giáo Arizona ), TT Minh Tâm
(chùa Khánh Anh, Pháp), TT Trí Chơn (chùa Vạn Hạnh, California), TT
Nguyên Ðạt (Phật Học Viện Quốc Tế), TT Thiện Trí (chùa Kim Quang,
California) và TT Bảo Lạc (chùa Pháp Bảo, Úc). Trưởng ban tổ chức là
TT Ðức Niệm, giám đốc Phật Học Viện Quốc tế, California. Chứng minh
đạo sư là TT Mãn Giác, Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam,
California.
Giới tử gồm có: 3 nam thọ giới Tỳ Kheo tuổi từ 23 tới 33, 11 nam nữ
thọ giới Sa Di tuổi từ 12 tới 71, 1 nữ thọ giới Thức Xoa Mạt Na, 27
nam nữ thọ Bồ tát giới tuổi từ 20 tới 74.
Trong đại giới đàn này, 5 Ðại Ðức được tấn phong lên Thượng Tọa: Thích
Minh Tâm (chùa Khánh Anh, Pháp), Thích Nguyên Ðạt (Phật Học Viện Quốc
Tế), Thích Thiện Trì (chùa Kim Quang, California), Thích Bảo Lạc (chùa
Pháp Bảo, Úc) và Thích Tín Nghĩa ( Tổ đình Từ Ðàm, Texas). Tác phẩm
Ðại Giới Ðàn Thiện Hòa do Kiêm Ðạt viết, Phật Học Viện Quốc Tế xuất
bản năm 1983 giới thiệu khá rõ về sự kiện này.
Năm 1983 bản nghiên cứu về tôn giáo của Thượng Viện Hoa Kỳ công bố vào
tháng 10.83 cho biết các hệ phái Phật Giáo VN tại hải ngoại gồm có:
Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Thế Giới – Hội Ðồng Lãnh Ðạo Phật Giáo VN
tại Hải Ngoại – Tổng Hội Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ – Cộng Ðồng Phật Giáo
VN tại Mỹ – Giáo Hội Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ – Giáo Hội Phật Giáo Nam
Tông – Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn ( tại Pháp).
Năm 1984 ngày 11 tháng 11, Ðại Hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam trên Thế giới và thông qua bản Hiến Chương. HT Tâm Châu được suy
tôn làm Thượng Thủ. Cơ quan trung ương với nhiệm kỳ 3 năm gồm Hội Ðồng
Lãnh Ðạo, Ban Chấp Hành và các Tổng Vụ. Hầu hết thành phần Hội Ðồng
Lãnh Ðạo và Ban Chấp Hành là cư sĩ. Tuy nhiên các quyết định của họ
phải được hợp thức hóa bằng giáo chỉ do HT Tâm Châu, được coi là người
có thực quyền. Nhiều cư sĩ liên tục thuyết giảng trong các khóa an cư
kiết hạ của Giáo Hội. Trụ sở trung ương đặt tại Tổ Ðình Từ Quang,
Montréal, Canada.
Giáo hội PGVNTTG chủ trương " tứ chúng Tăng Già" và có một lập trường
chống Cộng rõ rệt.
Năm 1988 ngày 28 tháng 8 Tòa Án Nhân Dân Thành Phố HCM xét xử đại đức
TUỆ SỸ (Phạm Văn Thương), TRÍ SIÊU (Lê Mạnh Thát) và nhiều tăng ni
(trong đó có HT Thích Ðức Nhuận và ni sư Trí Hải) và cư sĩ khác (tất
cả 21 người) về tội danh " tổ chức Lực Lượng Việt Nam Tự Do lật đổ
chánh quyền, lập các mật khu Núi Bể (Bình Tuy), Sông Lanh (Ðồng Nai),
Cây Gáo (Ðồng Nai) tàng trữ lương thực, vũ khí, tài liệu và huấn luyện
quân sự từ giữa năm 77 tới cuối 82 ". Họ bị bắt giam từ ngày 1 tháng
4.84. Ngày 9 tháng 10 Tòa án Cộng Sản tuyên án tử hình Tuệ Sỹ và Trí
Siêu và án tù những người khác. Hai đại đức Tuệ Sỹ và Trí Siêu cương
quyết không xin ân xá. Tuệ Sỹ tuyên bố: Lập trường của chúng tôi là
lập trường của Phật Giáo và Ðại Khối Dân Tộc. Lê Mạnh Thát khẳng định
trước tòa: Chúng tôi tranh đấu cho Tự Do, Nhân Quyền, cho cơm no áo
ấm của đồng bào. Chúng tôi không cần xin một sự khoan hồng nào cả. Các
hội đoàn người Việt và các tổ chức Phật giáo VN tại hải ngoại đã cấp
thời và tích cực vận đọâng được nhiều chánh phủ và nhân sĩ quốc tế làm
áp lực yêu cầu chính quyền Hà Nội phải hủy bỏ hai án tử hình trên.
Ngày 15 tháng 11, nhà cầm quyền VN giảm án Tuệ Sỹ và Trí Siêu còn 20
năm tù, các người khác cũng được giảm án. Ðây là cuộc vận động dư luận
được coi là đoàn kết nhất, cấp thời nhất, tích cực nhất và hiệu quả
nhất của Phật Giáo VN tại hải ngoại.
Ðược giới trí thức Phật Giáo coi là hai nhà sư uyên bác nhất của Phật
Giáo Việt Nam hiện đại, hai đại đức Tuệ Sỹ và Trí Siêu được HT Trí Thủ
giao phó việc biên soạn bộ Bách Khoa Phật Học Ðại Tự Ðiển. Công tác
này tiến hành từ năm 1981 tới 1984 còn ở giai đoạn sưu tập tài liệu
thì hai người bị chính quyền Cộng Sản bắt, tài liệu nghiên cứu bị tịch
thâu. Sau đó không lâu, HT Trí Thủ cũng tịch một cách bí ẩn, dư luận
cho rằng ông bị Công An Cộng Sản đầu độc vì liên hệ thân thiết với Tuệ
Sỹ và Lê Mạnh Thát.
Sau khi được trả tự do năm 1999, Tuệ Sỹ được HT Quảng Ðộ đề cử làm
Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo và tích cực trong nhiệm vụ này, Lê Mạnh Thát
trở về Viện Nghiên Cứu Phật Học miệt mài nghiên cứu kho tài liệu đồ sộ
ông đã cố công sưu tập trong thời gian 1966- 1972 khi du học tại Mỹ và
biên soạn một loạt tác phẩm về lịch sử Phật Giáo VN.
Theo một bài viết của Lý Ðại Nguyên phổ biến trên nhiều tờ báo Việt
ngữ tại Mỹ cuối tháng 1. 2002, sau khi được HT Ðôn Hậu tới thăm và
tường trình về tình trạng bi đát của Phật Giáo tại miền Bắc trong 20
năm dưới chế độ Cộng Sản, HT ÐỨC NHUẬN (Ðồng Văn Kha) vận động một số
tu sĩ trẻ thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Phật Giáo Và Cứu Nguy Dân Tộc. Ngay
sau đó, ông lại vận động giới trí thức và thanh niên thành lập một tổ
chức khác hoạt động biệt lập lấy tên là Lực Lượng Dân Tộc Kháng Chiến
Giải Cứu Việt Nam. Dưới bí danh Lý Vạn Thắng, ông soạn thảo và công bố
bản tuyên ngôn của Lực Lượng này ngày 20 tháng 7. 1977. Nhà cầm quyền
Cộng Sản tuy nghi ngờ về vai trò của ông nhưng không điều tra được nên
kết án ông 10 năm tù, sau đó vì áp lực quốc tế giảm án còn 9 năm tù.
Ông được thả vào năm 1993, có tiếp xúc ngay với HT Huyền Quang (XLTV
Viện Tăng Thống GHPGVNTN) nhưng sau đó lui về chùa Vĩnh Nghiêm viết
sách. Ông tịch vào tháng 1. 2002.
Năm 1989 TT THIỆN THANH ( Không Sắc, Nguyễn Văn Sắc 1935- 1995, sáng
lập chùa Phật Tổ Long Beach, California) mời gọi chư tăng ni và học
giả Phật giáo hải ngoại tham gia dự án phiên dịch Ðại Tạng Kinh ra
tiếng Việt. Ông đề nghị chùa Phật Tổ sẽ đài thọ các chi phí và cung
cấp chỗ làm việc trong công tác phiên dịch này. Lời kêu gọi không được
sự đáp ứng sốt sắng. Ông đành tiến hành việc phiên dịch một mình và
dịch được vài phẩm đầu của bộ kinh Hoa Nghiêm thì tịch. Chùa Phật Tổ
sau đó in hai tập Kinh Hoa NGhiêm do ông dịch và chú giải vào năm
1995. TT Thiện Thanh xuất gia năm 8 tuổi với HT Huệ Hòa tại Phước Long
Cổ Tự ở Sa Ðec, thọ đại giới năm 20 tuổi tại Trung Tâm Ấn Quang, Sài
Gòn. Năm 1965 du học tại Thái lan. Năm 1967 du học tại Ấn Ðộ. Ngoài
các bằng Cao Học Cổ Ngữ và Anh Văn, năm 1976 ông tốt nghiệp Tiến Sĩ
Phật Học tại đại học Magadha Gaya, Ấn Ðộ, với luận án So sánh Trường
Bộ Kinh và Kinh A Hàm. Ông lập chùa Phật Tổ tại Long Beach đầu thập
niên 1980.
Năm 1990, một Hội Ðồng Phiên Dịch Kinh Tạng thuộc Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam được thành lập, bắt đầu xúc tiến việc in các bản dịch Kinh
Tạng Pali ( do HT Minh Châu dịch từ thập niên 60) và các bản dịch kinh
tạng từ Hán Văn (do HT Thiện Siêu cũng dịch từ thập niên 60). Tới nay
đã in xong trọn bộ Kinh Tạng Pali (gồm Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh,
Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ Kinh) do HT Minh Châu và Giáo Sư
Trần Phương Lan dịch, và trọn bộ Kinh Tạng Hán Văn ( gồm Trường A
Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm) do HT Thiện Siêu dịch.
Mặc dù in một ngàn bộ xong đã khá lâu, tới nay nhiều chùa ở trong
nước vẫn chưa đặt thỉnh.
Năm 1994, HT Tịnh Hạnh, một pháp sư tại Ðài Loan bắt đầu tổ chức
một nhóm học giả Việt và Ðài Loan phiên dịch Ðại Tạng Kinh ra tiếng
Việt. Tới nay đã dịch xong 190 tập (trong tổng số dự trù 220 tập của
Ðại Tạng Kinh). Công tác kế tiếp của tổ chức này là xuất bản các tập
trên, hoàn thành việc dịch Ðại Tạng Kinh và dịch tiếp 800 tập Tục Tạng
Kinh. Việc làm này được báo cáo trên trang nhà
www.phapviet.com/linhson. Gần đây HT Tịnh Hạnh lên tiếng kêu gọi mọi
người góp phần cúng dường yểm trợ cho Phật sự vĩ đại này.
Năm 1990 sau nhiều phiên họp sơ bộ, ngày 27 tháng 12, đại hội thành
lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại AÂu Châu họp tại
Kongsvinger, Na Uy. Bản Nội Quy gồm 11 chương, 33 điều được thông qua.
Thành phần lãnh đạo với nhiệm kỳ 3 năm: HT Thiền Ðịnh (chùa Pháp Hoa,
Pháp, Chứng Minh – TT Minh Tâm ( chùa Khánh Anh, Pháp) Trưởng ban Ðiều
Hành – TT Như Ðiển (chùa Viên Giác, Ðức) Tổng Thư Ký – Ni Sư Diệu Tâm
(chùa Bảo Quang, Ðức) Thủ Quỹ...
Năm 1992 tháng 1 (ngày 14 tháng chạp Tân Mùi) tại nơi bị quản thúc ở
xã Vũ Ðoài, Thái Bình, HT THÍCH QUẢNG ÐỘ, với tư cách Tổng Thư Ký Viện
Hóa Ðạo GHPGVNTN, viết xong bản giác thư Nhận Ðịnh Về Những Sai Lầm
tai Hại Của Ðảng Cộng Sản Việt Nam Ðối Với Dân Tộc và Phật Giáo. Ngày
19 tháng 8. 1994, ông gởi bản giác thư này cho Ðỗ Mười, Tổng Bí Thu
Ðảng Cộng sản Việt Nam. Sau ba tháng không được trả lời, theo lệnh của
ông, Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (tại Paris, Pháp) thuộc Văn
Phòng II Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN cho phổ biến bản nhận định này vào
tháng 2.1995. Bản Nhận Ðịnh này thực chất là một bản cáo trạng, gồm 2
phần:
1- Ðối với dân tộc, đảng Cộng Sản Việt Nam phạm phải 6 sai lầm tai hại:
Dùng dân tộc VN để truyền bá chủ nghĩa Cộng Sản như một tiền đồn của
phe Xã Hội Chủ Nghĩa làm cho 3 triệu người chết, 4 triệu người bị
thương, nửa triệu trẻ em sinh ra quái thai và tàn phế, hàng triệu tấn
bom và thuốc khai quang tàn phá đất nước mà hậu quả di hại tới nhiều
thế hệ.
Thiết lập chế độ độc tài làm nhân tài thui chột, đất nước nghèo đói,
lạc hậu nhất thế giới.
Kích động căm thù đấu tranh giai cấp bằng chiến dịch đấu tố năm 1956
khiến 700 nghìn người mất mạng và tiêu tài sản.
Chính sách Hợp Tác Xã Nông Nghiệp làm hao tổn bao nhiêu công của sức
lực của nhân dân trong 26 năm (1960- 1986).
Phát động căm thù giai cấp đánh tư sản mại bản tại miền Bắc năm 1954
và miền Nam 1975 làm hàng triệu người phải bỏ trốn ra nước ngoài, nay
lại rước tư bản ngoại quốc vào làm ăn khai thác.
Lấy học thuyết Mác Lê làm nền tảng cho mọi sinh hoạt, bỏ hết và phá
hoại các di sản tinh thần và vật chất của tổ tiên, coi là tàn dư của
phong kiến.
2- Ðối với Phật Giáo Việt Nam Cộng Sản phá hủy hoặc mượn tay Pháp phá
hủy các chùa và truy diệt tăng ni từ thời kháng chiến chống Pháp. Ðến
năm 1954, chính quyền Cộng Sản miền Bắc trưng dụng các chùa và rỡ vật
liệu các chùa làm cơ sở Hợp Tác Xã, làm ngơ cho dân chúng chiếm các
nhà phụ cận của chùa, ngăn cấm tăng sinh tu học, phát động chiến dịch
sư tố sư, tín đồ tố sư. Chính sách này được Cộng Sản áp dụng tại miền
Nam từ năm 1975. Ðảng ra tay thành lập Giáo Hội công cụ cho nhà nước
để hợp thức hóa chủ trương tiêu diệt Phật Giáo.
HT Quảng Ðộ ( Ðặng Phúc Tuệ) sinh năm 1928 tại Thái Bình, xuất gia năm
14 tuổi, từng du học tại Tích Lan và Ấn Ðộ. Làm Tổng Thư Ký Viện Hóa
Ðạo Giáo Hội PGVNTN từ trước 1975. Bị chính quyền Cộng Sản bắt giam
từ tháng 4. 1977 tới tháng 12. 1978. Sau đó vào tháng 2. 1982 bị áp
giải đi quản chế ở Xã Ðoài, Thái Bình. Ngày 22 tháng 3. 1992 ông tự ý
trở về Sài Gòn sau khi thông báo cho Bộ Công An ở Hà Nội. Ngày 20
tháng 4. 1992, Sở Công An Thành Phố HCM ra lệnh trục xuất ông về miền
Bắc, nhưng ông không thi hành, cho tới nay vẫn ở tại Sài Gòn và hoạt
động với tư cách Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo. Ông được các nhà hoạt động
nhân quyền tại nhiều nước đề nghị là ứng viên giải Nobel Hòa Bình năm
2000 và 2001. Sư Ông Nhất Hạnh tôn vinh ông là Bồ Tát Vô Úy. Ông là
dịch giả nhiều tác phẩm Phật Giáo được ưa chuộng như : Phật Quang Ðại
Tự Ðiển ( 9 tập, 7 ngàn trang), Ðại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Tiểu
Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Thoát Vòng Tục Lụy (tiểu thuyết), Dưới
Mái Chùa Hoang (tiểu thuyết).
Năm 1992 HT THÍCH ÐÔN HẬU, Ôn Linh Mụ (Diệp Trương Thuần, 1905- 1992)
viên tịch ngày 23 tháng 4 tại chùa Linh Mụ, Huế. Môn đồ và hiếu quyến
với sự yểm trợ tích cực của các HT Huyền Quang và Quảng Ðộ, cương
quyết không chấp nhận cho nhà nước đứng ra tổ chức tang lễ. Trước hơn
30 ngàn tăng ni và Phật tử hiện diện trong tang lễ ngày 3 tháng 5 tại
tổ đình Linh Mụ, tập thể tăng ni tổ chức lễ trao ấn tín của Giáo Hội
PGVNTN cho HT Thích Huyền Quang, Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo. HT
Huyền Quang khi đó đang bị giam lỏng ở Quảng Ngãi, đã tìm cách hiện
diện trong tang lễ và nhận chức Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống.
HT Ðôn Hậu bị Việt Cộng bắt tại chùa Linh Mụ (Huế) vào dịp Tết Mậu
Thân (17.2. 1968) đưa ra Bắc với mục đích dùng uy tín của ông làm bình
phong cho Giáo Hội Nhà Nước. Mãi tới năm 1976, được phép vào Nam, ông
tìm gặp HT Ðức Nhuận, Cố Vấn Viện Tăng Thống, trình bày thực trạng bi
đát của Phật Giáo tại miền Bắc. HT Ðức Nhuận đã khẩn khoản yêu cầu ông
giúp cho Phật Giáo miền Nam qua được pháp nạn hiện nay. Vì vậy, ông đã
nhận sự tôn cử làm Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống trong Ðại Hội 7
GHPGVNTN ( cuối tháng 1. 1977) và vào năm 1979, ông lại chấp nhận sự
tôn cử của Hội Ðồng Lưỡng Viện làm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống sau
khi Tăng Thống Thích Giác Nhiên viên tịch. Nhờ vậy ấn tín của Giáo Hội
PGVNTN đã được gìn giữ cho tới khi ông viên tịch. Năm 2000, GHPGVNTN
tại Hải Ngoại, theo lệnh của HT Huyền Quang, họp Ðại Hội truy tôn cố
HT Ðôn Hậu chính thức là Ðệ Tam Tăng Thống GHPGVNTN, vì Giáo Hội trong
nước bị khủng bố không có điều kiện họp Ðại Hội để làm việc này. Cũng
vì lý do này, HT Huyền Quang cho tới nay vẫn chỉ là Xử Lý Thường Vụ
Viện Tăng Thống, theo Hiến Chương Giáo Hội năm 1964 ( để phân biệt
Hiến Chương 1966 của Giáo Hội do HT Tâm Châu lãnh đạo).
Chính do sự đôn đốc, thuyết phục của HT Ðôn Hậu mà có Ðại Hội Thống
Nhất Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ họp cuối tháng 9. 1992 tại San Jose,
California. Ðại Hội này thành lập Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất Tại
Hoa Kỳ với 4 cơ cấu điều hành: Hội Ðồng Ðại Diện- Hội Ðồng Giám Luật,
Hội Ðồng Giám Sát và Hội Ðồng Ðiều Hành. HT Thích Hộ Giác được đề cử
làm Chủ Tịch Hội Ðồng Ðiều Hành. Theo nghị quuyết củaHội Ðồng Lưỡng
Viện GHPGVNTN trong nước, ngày 10 tháng 12. 92, HT Quảng Ðộ ký quyết
định số 27 VPLV-VHÐ công nhận GHPGVNTN tại Hoa Kỳ là đại diện toàn
quyền GHPGVNTN quốc nội và là Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo trong vô thời
hạn. Nội quy Hội Ðồng Ðiều Hành được ban hành ngày 26.1.93.
Bốn năm sau, tháng 10. 1996, Giáo Hội này họp Ðại Hội Khoáng Ðại kỳ I
tại Phật Học Viện Quốc Tế , California với gần 300 đại biểu tăng ni và
Phật tử thuộc 92 đơn vị tham dự. Ðại Hội lưu nhiệm tất cả các thành
phần thuộc 4 Hội Ðồng và tăng cường thêm một số người. Ðại Hội kêu
gọi: tiếp thu các phương pháp tu học của các truyền thống tu tập thiền
định ở các nước khác nhau như Vipassana (Thiền Minh Sát), Djochen và
Mahamudra (trong Mật giáo Tây Tạng), Chỉ quán hay pháp môn Tịnh độ
Thiền Tịnh song tu.
Năm 2000 26 tháng 6, trên 100 tăng ni VN lần đầu tiên tương hội với
đức Ðạt Lai Lạt Ma. HT Hộ Giác đại diện cho các tăng ni VN, TT Giác
Ðẳng thông dịch. Mở đầu buổi tương hội, tăng ni VN đồng tụng Bát Nhã
Tâm Kinh bằng tiếng Việt, đức Ðạt Lai Lạt Ma và chư tăng Tây Tạng đồng
tụng Tâm Kinh bằng tiếng Tây Tạng. Trong buổi tương hội này, hai bên
đồng ý việc thiết lập một văn phòng liên lạc để củng cố và phát triển
thêm những quan hệ.
Kể từ thập niên 1980, Mật Tông Tây Tạng bắt đầu được Phật Tử VN chú ý.
Ni sư Trí Hải đã dịch ra tiếng Việt nhiều tác phẩm Phật học của các vị
Lạt Ma. Ni sư Như Thủy, một đệ tử kiệt xuất của HT Thanh Từ, theo học
với HT Trạm Nhiên Tịch Chiếu chùa Tây Tạng Bình Dương. Nguyên Phong
cũng dịch một số tác phẩm giới thiệu Huyền Môn Tây Tạng. Trần Ngọc Anh
dịch bộ kinh quan trọng nhất của Mật Tông là Kinh Ðại Nhật, TT Phụng
Sơn, Nguyên Giác Phan Tấn Hải, Mật Nghiêm, Phương Dung và Pram Nguyễn
viết nhiều bài giới thiệu về Phật Giáo Tây Tạng. Cư sĩ Như Hòa dịch
28 bản kinh Mật Tông phổ biến trên trang nhà Viêtnamese Buddhist Sutra
Hall. Một số chùa VN tại California vàWashington DC cũng thường mời
các vị Lạt Ma làm lễ điểm đạo. Nữ cư sĩ Phương Dung (không phải ca sĩ
Phương Dung) với sự cộng tác tích cực của một nhóm thân hữu, đã tổ
chức hai buổi đức Ðạt Lai Lạt Ma tiếp xúc và thuyết giảng cho đại
chúng Phật Tử VN vào năm 1997 và 2000.Nhiều ngàn Phật tử VN đã tham dự
hai buổi này.
Năm 2000 Từ ngày 1 tới 7 tháng 2, tại chùa ni Kiều Ðàm Di ở vườn
Lâm Tì Ni, Nepal, Ðại Hội Phụ Nữ Phật Giáo Thế Giới họp kỳ 6 với 200
thành viên tham dự. Sư cô Thuần Ðịnh thuộc Thiền Viện Thường Chiếu
(Vũng Tàu) thuyết trình bằng Anh ngữ về đề tài: Người phụ nữ và Ni
chúng Việt Nam trong thời hiện đại. Một số ni sinh Việt Nam du học
tại Ấn Ðộ cũng tham dự Ðại Hội này bằng phương tiện tự túc. Có lẽ đây
là lần đầu tiên Ni chúng Việt Nam có đại diện tham dự Ðại Hội, vì Ðại
Hội 5 họp tại Nam Vang từ 29 tháng 12. 1997 tới 4 tháng 1. 1998 không
có sự tham dự của đại diện Ni chúng Việt Nam.
Trong Ðại Hội kỳ 7 họp tại trường Ðại Học Hoa Phạn ở Ðài Bắc từ 11
tới 17 tháng 7 năm 2002, phái đoàn Ni chúng Việt Nam tham dự gồm 5 ni
sinh du học ở Delhi, Ấn Ðộ và 3 sư cô từ thiền viện Linh Chiếu, Vũng
Tàu. Sư cô Hạnh Huệ thuyết trình về Ni Giới Phật Giáo Việt Nam và sư
cô Minh Huệ trình bày về Bản chất và vị trí của người nữ trong lời dạy
của đức Phật. Hy vọng Ðại Hội 8 năm 2004 sẽ có đại diện Ni giới Việt
Nam tại hải ngoại tham dự.
Hội Phụ Nữ Phật Giáo Thế Giới SAKYADHITA là tổ chức kết hợp các nữ
Phật tử xuất gia cũng như tại gia trên khắp thế giới, thành lập năm
1987. Hội quy tụ hơn 60 ngàn Ni chúng trong số 1.3 triệu hội viên, tổ
chức Ðại Hội mỗi 2 năm tại một trong các quốc gia hội viên.
*TRẦN TRI KHÁCH (tháng 9.2002)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Phạm Văn Sơn (1960), Việt Sử Toàn Thư (viết tắt VSTT),
California: Ðại Nam in lại, không ghi năm tái bản.
2- Nguyễn Quốc Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ Ðiển Nhân Vật Lịch Sử
Việt Nam (viết tắt TÐNVLS), thành phố HCM: nhà xuất bản Văn Hóa in lần
thứ tư, 1997
3- Lê Mạnh Thát , Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (viết tắt LSPGVN),
tập 1, Huế: nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999. Tập 2 , thành phố HCM: nhà
xuất bản thành phố HCM, 2000.
4- Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh (viết tắt TUTA),
thành phố HCM: nhà xuất bản thành phố HCM, 1999.
5- Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Minh Châu Hương Hải (viết tắt MCHH),
thành phố HCM: nhà xuất bản thành phố HCM, 2000.
6- Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông (viết tắt TTTNT), thành
phố HCM: nhà xuất bản thành phố HCM, 2000.
7- Nguyễn Lang (Nhất Hạnh), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận (viết tắt
VNPGSL). Tập 1 (1973), Paris: Lá Bối in lần thứ hai năm 1977. Tập 2,
Paris: Lá Bối, 1978. Tập 3, Paris: Lá Bối, 1985.
8- Trần Hồng Liên, Phật Giáo Nam Bộ từ thế kỷ 17 đến 1975 (viết
tắt PGNB), thành phố HCM: nhà xuất bản thành phố HCM, 1996.
9- Thích Ðức Nhuận , Ðạo Phật và Dòng Sử Việt (viết tắt ÐPVDSV)
10- Kiêm Ðạt, Ðại Giới Ðàn Thiện Hòa, California: Phật Học Viện Quốc Tế, 1983.
11- Thích Mật Thể (1943), Việt Nam Phật Giáo Sử Lược , California:
Phật Học Viện Quốc Tế in lại 1984.
12- Ðông Tiến, Việt Nam 20 Năm 1975- 1995, San Jose: Cơ Sở Ðông Tiến, 1996.
13- Phúc Trung , Lược Sử Gia Ðình Phật Tử, trang nhà Người Cư Sĩ :
http://membres.lycos.fr
14- Cung Ðình Thanh, Nguyễn Văn Tuấn và Nguyễn Ðức Hiệp, Một Vài Ghi
Chép Thêm Về Văn Minh Cổ Và Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam, trang nhà
www.giaodiem.com, tháng 8. 2002.
PHỤ LỤC 1:
CÁC DANH TƯỚNG CỦA HAI BÀ TRƯNG ÐƯỢC THỜ TẠI CÁC ÐỀN MIẾU NƯỚC TA CHO
TỚI NGÀY NAY
(Tham khảo: Ðông Tiến, Nước Tôi Dân Tôi, San Jose: Cơ Sở Ðông Tiến,
1989 - Nguyễn Quyết Thắng & Nguyễn Bá Thế, Tự Ðiển Nhân Vật Lịch Sử
VN, Thành phố HCM: nhà xuất bản TP/HCM in lần thứ 4, 1997 )
- Ðền thờ ở làng Ðồng Nhân, Hà Nội: thờ tượng Hai Bà và tượng
12 vị nữ tướng.
- Ðền Hai Bà Trưng ở huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên (kinh đô Mê Linh cũ).
- Ðền thờ Hai Bà Trưng ở làng Hát Môn, tỉnh Phú Thọ, các đồ
thờ đều sơn màu đen tuyền. Trước đền là bàn thờ bà hàng bán bánh trôi
đã đi theo phò giúp Trưng Vương.
- Các huyện gần sông Hát Giang (sông Ðáy) như Phú Thọ, Thạch
Thất, Quốc Oai tỉnh Sơn Tây có đền miếu thờ các vị anh hùng liệt nữ
thời Trưng Vương như: Thượng Cát, Bạch Hoa Công Chúa, Ðào Khang, Hoàng
Ðạo, Ðỗ Năng Tế, Giám Sát Ðại Vương, Ả Tú, Ả Huyền, Nhất Trung Á, Mai
Thi Trang, Chàng Năm, Nàng Năm, Thủy Hải Công Chúa ...
- Các huyện gần sông Ðáy (Hát Giang) tỉnh Hà Nam như Thanh
Liêm, Kim Bảng có đền miếu thờ các anh hùng thời Trưng Vương như: Cao
Bà Văn Tổ, Hảo Nương, Lưu Nương, Quách Thị, Khoan Nhân Ðại Vương,Vạn
Phúc Phu Nhân, Lê Hằng Nghị, bà Tái Kênh, Linh Bảo Nương, Ngọc Dung
Công Chúa, Ngọc Nhân, Nguyễn Phúc, Nguyễn Dung, Nguyễn Phúc Tính,
Nguyệt Nga, Ông Ðốc, Quỳnh Anh Phu Nhân ...
- Ðền làng Trung Am, tỉnh Hải Dương thờ một vị tướng của Trưng
Vương tử trận ở Lạng Sơn.
- Ðền thờ ông Tam Giang, một tướng giỏi của Hai Bà tại làng
Bần Yên Nhân, tỉnh Hưng Yên.
- Ðền thờ bà Lê Chân ở Ngõ Nghè, Hải Phòng (nên còn gọi là Ðền Nghè).
- Ðền làng Tiên La, tỉnh Thái Bình, thờ bà Bát Nàn ( còn gọi
là Bát Nàn Công Chúa, Bát Nàn Phù Tướng).
- Ðền làng Hiền Quan, tỉnh Phú Thọ thờ bà Hoàng Thiếu Hoa (
còn gọi là bà Thiều Hoa, Ðông Cung Tướng Quân).
- Ở tỉnh Phú Thọ cũng thờ danh tướng Ðô Dương. Ông có công lớn
nhất trong việc giải phóng 65 thành trì năm 39. Năm 43, ông là người
chỉ huy chiến tuyến sau cùng chống lại đại quân của Mã Viện ở Thanh
Hóa sau khi Trưng Vương trầm mình xuống sông Hát.
- Ở Sơn Tây thờ Thị Nội Tướng Quân Phùng Thị Chính và chồng bà
là Ðinh Lượng. Bà Phùng Thị Chính võ nghệ cao cường, đánh giặc hăng
say, sanh con ngay trên mình ngựa, quân địch khâm phục tôn là Mã Thị
Nam Chinh. Khi Trưng Vương trầm mình xuống sông Hát, bà cũng tử tiết.
Chồng bà là Ðinh Lượng, một hào kiệt giỏi võ nghệ theo phò Trưng Vương
cũng bỏ mạng trong trận chiến cuối cùng với Mã Viện
Tại năm tỉnh miền Nam Trung Quốc (Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý
Châu và Tứ Xuyên) có hơn 100 đền miếu thờ các danh tướng của Hai Bà
Trưng, theo kết quả quan sát thực địacủa bác sĩ Trần Ðại Sĩ. Bản báo
cáo này của ông được phổ biến trên trang nhà Internet
www.thuvienvietnam.org mục tạp chí Thư Viện Việt Nam số 3. Vùng đất
này, trong nhiều thế kỷ qua, chiến tranh xảy ra liên miên, gương hào
hùng hẳn nhiên phải có mà đền miếu thì không sao tránh khỏi bị tàn
phá,sụp đổ. Nếu các anh hùng liệt nữ thời Trưng Vương không tạo được
chiến công hiển hách, oai hùng, sẽ chẳng ai nghĩ tới chuyện tu bổ lại
đền miếu để thờ phượng tới ngày nay.
Thời Trưng Vương là thời thịnh trị của nhà Hán, sau khi Hán
Quang Vũ thống nhất được Trung Quốc. Mã Viện (17 BC- 44) là một tướng
giỏi, nhiều kinh nghiệm chiến trường của nhà Hán, vậy mà ông phải
chuẩn bị lực lượng từ mùa xuân năm 42 tại các Quận phía Nam Trung
Quốc và phải một năm sau mới hoàn thành cuộc tấn công. Một điểm cần
nói thêm: Mã Viện thọ 62 tuổi, cho nên không có chuyện ông cầm quân
đánh bại Trưng Vương vào năm 70 tuổi như ghi trong một số sử sách nước
ta.
PHỤ LỤC 2:
BƯỚC ÐẦU ÐẠO PHẬT DU NHẬP VÀO NƯỚC TA
Vì quan niệm lầm lẫn cho rằng nước ta bắt đầu có văn hiến
là nhờ hai thái thú Tích Quang (năm 2) và Nhâm Diên (năm 24), lại thấy
kinh điển Phật Giáo và nghi thức tụng niệm ở nước ta mang gốc gác chữ
Hán, một số đáng kể các nhà biên khảo Phật giáo kết luận vội vã là đạo
Phật du nhập vào nước ta từ Trung Quốc, bắt đầu vào thời Sĩ Nhiếp
(cuối thế kỷ 1).
Thực ra mãi tới năm 67, khi vua Hán Minh Ðế (58- 76) nằm mộng thấy
người vàng, cận thần Trương Nghị giải thích người vàng thân thể có hào
quang bay trên không đó là người đắc đạo ở nước Thiên Trúc gọi là
Phật; vua mới cử một phái đoàn qua nước Ðại Nhục Chi thỉnh được kinh
Tứ Thập Nhị Chương và mời được hai vị tăng Ma Ðằng Ca Diếp và Trúc
Pháp Lan. Trong mấy thế kỷ đầu, hoạt động của Phật Giáo Trung Quốc chủ
yếu là dịch kinh, xây chùa. Mãi tới năm 258 sư Châu Tử Hàng khai đàn,
giảng kinh Bát Nhã ở kinh đô Lạc Dương, việc giảng pháp cho đại chúng
Trung Quốc mới bắt đầu.
Ở nước ta, người Phật tử đầu tiên là Chử Ðồng Tử, đời Hùng Vương thứ
18 (chấm dứt vào năm 258 BC) được nhà sư Phật Quang (còn gọi là sư
Bần, người gốc Ấn Ðộ) truyền pháp, trao cho cây gậy và chiếc nón. Tích
này được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái. Chử Ðồng Tử được thờ ở đền
Trung, trong cụm đền thờ vua Hùng tại núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ và
ở phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Chử Ðồng Tử là thương gia buôn bán
đường sông, quen biết nhiều. Sau khi truyền pháp cho vợ là công chúa
Tiên Dung, hai người bỏ hẳn việc buôn bán mà lo mở rộng việc truyền
pháp.
Mặt khác, cũng có những bằng cớ về việc phái đoàn truyền giáo dưới sự
hướng dẫn của Sona và Uttara do vua A Dục phái đi đã tới nước ta. Nhân
dân ta đã dựng tháp tại thành Nê Lê ở núi Mẹ tại Ðồ Sơn để tạ ơn vua A
Dục (269 BC- 232 BC) đã truyền Phật pháp tới Luy Lâu. Cho tới những
năm 380- 420, những người lượm củi ở vùng núi Mẹ (Mẫu Sơn) còn thấy
tháp này. Thiền sư Mật Thể trong Việt Nam Phật Giáo Sử Lược (tr.69)
cho biết từ năm 245 BC Trung Quốc và Ấn Ðộ đã giao thương với nhau qua
cửa ngõ nước ta. HT Ðức Nhuận trong Ðạo Phật Và Dòng Sử Việt: vào thế
kỷ 3 BC, phong trào di dân rộng lớn tại Ấn từ Kalinga sang phía Ðông
rồi xuống Nam vì "cơn sốt " mua bán vàng có thể đưa một số tăng sĩ Ấn
Ðộ theo thuyền buôn tới nước ta. Có thể sự thông thương giữa Ấn Ðộ và
nước ta đã xảy ra trước đó khá lâu. Năm 135 BC, Hoài Nam Vương Lưu An
dâng thư can ngăn vua Hán đừng đem quân đánh Nam Việt, có viết: Từ
thời Tam Ðại, đất Hồ đất Việt không theo lịch pháp Trung Quốc. Thời
Tam Ðại gồm nhà Hạ (2140 BC- 1711 BC), nhà Thương hay nhà AÂn (1711
BC- 1066 BC) và nhà Chu (1066 BC- 256 BC). Theo Lê Mạnh Thát (LSPGVN
1) và Nhất Hạnh (VNPGSL 1), thời đó nước Văn Lang theo lịch pháp Ấn Ðộ
(năm có 4 mùa, 12 tháng, tháng có 30 ngày).
Sự kiện dân ta gọi Thích Ca là BỤT, phổ thông trong ca dao còn truyền
tụng tới ngày nay, là bằng chứng vững chắc khác cho thấy Phật Giáo du
nhập vào Việt Nam trước tiên qua ngả Ấn Ðộ. Phật là một từ do pháp sư
Trung Quốc Huyền Tráng tạo ra khi dịch kinh Phật vào thế kỷ 7. Lê Mạnh
Thát ( Lịch Sử Phật Giáo VN tập 1) còn đi xa hơn, đưa ra giả thuyết
Lục Ðộ Tập Kinh trước tiên được dịch từ chữ Phạn qua chữ Việt cổ,
Khương Tăng Hội đã tham chiếu bản dịch chữ Việt này để dịch qua chữ
Hán.
Bằng chứng nữa: khi vua Tùy Văn Ðế (589- 601) phục hưng đạo Phật Trung
Quốc rồi, muốn truyền bá Phật pháp tới Giao Châu, sư Ðàm Thiên tâu :
Giao Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc.Khi đạo Phật mới tới
Giang Ðông chưa đầy đủ thì ở Luy Lâu của Giao Châu đã có hơn 20 ngôi
bảo sát (chùa), độ được hơn 500 vị tăng, dịch 15 cuốn kinh. Năm 255,
Khương Tăng Hội (sau khi thọ đại giới tại nước ta) vào đất Ðông Ngô,
lập am tranh thờ tượng Phật, bị quan chức Trung Quốc cho là kỳ lạ báo
cho vua Ðông Ngô là Tôn Quyền. Nếu đạo Phật đã có mặt tại đây vào thời
điểm này, có lẽ Khương Tăng Hội không bị những thử thách có thể mất
mạng mới được phép hoằng dương Phật pháp.
Phật Giáo tại nước ta đã có chùa Liên Trì đã được xây từ thời Hùng
Vương ( trước 258 BC). Năm 544, vua Lý Nam Ðế dựng chùa Khai Quốc trên
nền cũ của chùa Liên Trì. Chùa Trúc Viên ở núi Sài Sơn (tỉnh Sơn Tây)
đã có mặt từ thời tể tướng Lữ Gia của nhà TRiệu (năm 110 BC). Ngôi
chùa đầu tiên tại Trung Quốc là chùa Bạch Mã ở kinh đô Lạc Dương xây
cất khoảng năm 68 để làm chỗ Ma Ðằng Ca Diếp và Trúc Pháp Lan chứa
kinh và dịch kinh do ngựa trắng chở từ nước Ðại Nhục Chi về.
Năm 39, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng đứng lên đánh đuổi tên
thái thú nhà Hán tàn bạo Tô Ðịnh, sư cô Thiều Hoa rời khỏi chùa, mộ
được 500, trở thành tướng tiên phong của Trưng Vương. Trưng Vương dẹp
xong 65 thành trì, thâu hồi độc lập cho đất nước, sư cô Thiều Hoa lại
trở về chùa làng Hiền Quan tiếp tục tu. Bà sinh năm 3, xuất gia năm 16
tuổi sau khi cha mẹ đều mất. Bà tịch năm 40. Năm 43, sau trận đánh
cuối cùng ở Cẩm Khê, Hai Bà trầm mình xuống sông Hát, cuộc khởi nghĩa
của TRưng Vương chấm dứt, một số tướng lãnh của Hai Bà nương mình nơi
cửa Phật. Trong đó có Bát Nàn Phu Nhân. Tướng nhà Hán là Mã Viện tiến
hành một cuộc thanh trừng quy mô, thậm chí bắt lưu đày dân cả một vùng
Ðông Việt vào đất Giang Hoài và tìm bắt các người có khả năng lãnh đạo
mà y gọi là "chủ soái" lưu đày ra Linh Lăng. Phật Giáo nước ta thời đó
hẳn có tổ chức chặt chẽ mới che chở được những tăng ni mới và tồn tại
được sau chiến dịch đồng hóa quy mô và gắt gao của Mã Viện, một kẻ
chưa hề nghe nói tới Phật.
Như vậy Ni giới nước ta đã có mặt từ trước năm 39. Hẳn nhiên khi sư
cô Thiều Hoa (còn gọi là Hoàng Thiếu Hoa) rời chùa đi cứu nước mà chỉ
trong thời gian ngắn mộ được 500 quân thì phải hiểu là đạo hạnh của bà
đã có sức thuyết phục đại chúng từ trước đó. Tại Trung Quốc, mãi tới
năm 429 mới có một ni đoàn từ Tích Lan tới Kiến Nghiệp học chữ Hán để
hướng dẫn ni chúng người Hoa.
Tăng đoàn nước ta cho tới cuối thế kỷ 2 đã được phát triển khá mạnh.
Các đại sư và kinh sách của trung tâm Luy Lâu ít nhất đã đào tạo được
hai nhân vật kiệt xuất là Mâu Tử và Khương Tăng Hội.
Mâu Tử (khoảng 160- khoảng 230) người Thương Ngô, ham đọc đủ loại
sách, thường đem Ngũ Kinh của Nho giáo ra vặn hỏi các Nho gia. Năm
180, thiên hạ loạn lạc, Mâu Tử đưa mẹ tới Giao Chỉ lánh nạn. Có lẽ ông
bắt đầu để ý tới Phật pháp tại Luy Lâu từ năm 183. Năm 26 tuổi về
Thương Ngô cưới vợ, lộ trình dài tới 5 ngàn dặm. Ít lâu sau mẹ mất,
nghĩ thời thế nhiễu nhương, bèn dốc chí nghiên cứu đạo Phật tại Luy
Lâu. Ông viết Lý Hoặc Luận năm 198 để trả lời những người quen biết
chỉ trích ông phản bội Nho mà theo Phật. Theo Lê Mạnh Thát (Tổng tập
Văn Học Phật Giáo Việt Nam 1, tr. 26) Lý Hoặc Luận từng là sách gối
đầu giường của giới học Phật ở Trung Quốc và Nhật Bản. Ðây là sáng tác
lý luận Phật Giáo đầu tiên bằng Hán văn, trình bày khả năng của Phật
Giáo có thể thay thế Nho Giáo trong mọi lãnh vực xử thế.
Khương Tăng Hội (khơảng 200- 280) sinh ra, lớn lên, xuất gia và được
thọ giới theo nghi thức "Tam Sư, Thất Chứng"tại Giao Châu. Mối liên hệ
thầy trò trong tăng đoàn thắm thiết tới mức nhiều năm sau khi ba thầy
tịch, Khương Tăng Hội vẫn còn thương tiếc. Tại Trung Quốc, tới năm 258
sư Ðàm Ma Ca La từ Trung Ấn tới Lạc Dương tổ chức truyền giới theo
nghi thức "Tam Sư Thất Chứng", nghi thức này mới được bắt đầu tại
Trung Quốc. Năm 247 Khương Tăng Hội chống gậy, vân du qua Ðông Ngô
(Trung Quốc) hoằng pháp. Pháp sư An Thế Cao, dịch giả kinh An Ban Thủ
Ý, ca ngợi ông là người giảng kinh Thiền xuất sắc. Năm 258, vua Ðông
Ngô Tôn Lâm phá chùa, giết sư, bị Tôn Hạo giết rồi nối ngôi. Khương
Tăng Hội góp công lớn phục hồi Phật Giáo Ðông Ngô. Tại Ðông Ngô, ông
dịch 14 quyển kinh ra Hán văn, trong đó có Lục Ðộ Tập Kinh. Sư ông
Nhất Hạnh suy tôn Khương Tăng Hội là tổ Thiền Tông Việt Nam, mặc dù
phần đóng góp chính yếu của ông là cho Phật Giáo Trung Quốc.
Khương Tăng Hội không phải là thí dụ duy nhất cho thấy từ khởi nguyên,
Phật Giáo VN đã là chỗ dựa của Phật Giáo Trung Quốc. Ðầu thế kỷ 4,
nhiều tăng sĩ Trung Quốc tìm đến chùa Tiêu Sơn ( Bắc Ninh) cầu học về
Tịnh Ðộ, sau đó trở về Trung Quốc hoằng dương pháp môn này. Sư Ðàm
Thiên (542- 607) sau khi thâu đạt về Duy Thức Học và Nhiếp Ðại Thừa
Luận tại Luy Lâu đã giúp vua Tùy Văn Ðế phục hồi Phật Giáo Trung Quốc.
Tóm lại, từ khởi nguyên Phật Giáo du nhập vào nước ta từ Ấn Ðộ. Phật
Giáo Ấn Ðộ đã truyền tới nước ta trước khi tới Trung Quốc. Trong những
thế kỷ đầu, Phật Giáo VN đã là chỗ dựa cho Phật Giáo Trung Quốc.
*TRẦN TRI KHÁCH
Comments
Post a Comment