Skip to main content
TẠI SAO CHÚNG TA LẠI BỎ MIỀN TRUNG?

Xin gửi lại một bài viết cũ.

Trước hết, chúng ta cần biết về nhân vật đã đưa ra kế hoạch bỏ hẳn miền Trung cho cộng sản. Đó là Thiếu Tướng Ted Serong của Quân Đội Hoàng Gia Úc Đại Lợi. 
Serong là một trong những sĩ quan Úc rất am tường về du kích chiến của cộng sản cũng như biện pháp đối phó. Vì thế nên sau khi phiến cộng tại Mã Lai Á bị đánh tan thì ông sang giúp chính phủ Phi Luật Tân đánh quân phiến cộng tại đảo Mindanao. Sang đầu thập niên 1960, Serong mang cấp bậc đại tá, và khi Chính Phủ Hoàng Gia Úc Đại Lợi quyết định gửi một huấn luyện đoàn sang Việt Nam hướng dẫn một số đơn vị về chiến tranh chống du kích thì Đại Tá Serong được bổ nhiệm vào chức vụ đoàn trưởng. Ông đến Việt Nam vào ngày 31 tháng Bảy 1962. Sau khi mãn hạn phục vụ tại Việt Nam, ông giữ nhiều chức vụ khác nhau. Cuối cùng, ông giải ngũ với cấp bậc thiếu tướng rồi sang Việt Nam giữ vai trò cố vấn cho Dinh Độc Lập về chiến thuật chống du kích chiến của giặc cộng.
Sau khi Hiệp Định Ba Lê 1973 được ký kết và có hiệu lực, Thiếu Tướng Serong bỏ ra một thời gian để quan sát tình hình. Sau đó, ông trình lên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu một đề nghị mà theo đó, trọn miền Trung nên bỏ hẳn cho phía quân thù. Tướng Serong có nhiều lý do để đề nghị như thế. 
Nói chung thì miền Trung không đóng góp nhiều cho nền kinh tế của Việt Nam Cộng Hoà. Thế mà Việt Nam Cộng Hoà phải dành một lực lượng quân sự rất lớn để bảo vệ cái miền đó trong khi dân địa phương, kể cả ở thành thị chứ không phải chỉ ở thôn quê hẻo lánh, lại có truyền thống tiếp tay cho quân thù. Vì thế, để cho họ sống với cộng sản là hợp lý. Bỏ đi miền Trung, Việt Nam Cộng Hoà giảm được một phần quân phí rất đáng kể, nhất là trong lúc quân viện bị Hoa Kỳ cắt bớt đến độ Việt Nam Cộng Hoà không thể guồng máy quân sự trong tương lai gần.
Lẽ đương nhiên, Tướng Serong cũng nhìn thấy việc Việt Nam Cộng Hoà cần phát triển kinh tế. Điều này, Việt Nam đã cố gắng thực hiện ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, khi mà bọn Mặt Trận Giải Phóng Việt Nam được thừa nhận và rồi cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ra mắt vào năm 1969. Kể từ thời điểm đó, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà thúc đẩy việc phát triển kinh tế để khỏi lệ thuộc vào ngoại viện. Trên lãnh vực này, Việt Nam Cộng Hoà đã bắt đầu thành công, và chúng ta cũng nên nhìn sang lân quốc Cao Miên để gọi là "xem người, biết ta".

Khác hẳn với đám lãnh đạo Bắc Việt thất học, bất nhân, tàn ác và hạ cấp, đám lãnh đạo của Khmer Đỏ khá hơn nhiều. Năm 1958, Khieu Samphan trình luận án tiến sĩ tại Đại Học Sorbonne nổi danh của Pháp mà trong đó, y ta trình bày làm thế nào để Cao Miên có thể thoát khỏi việc lệ thuộc vào ngoại viện bằng cách phát triển nền công nghiệp tự túc tự cường. Sau đó, Khieu bảo vệ thành công luận án này.
Việt Nam chúng ta không những có thể phát triển nền nông nghiệp tự túc tự cường giống như Cao Miên mà còn hơn thế nữa. Ngoài ra, chúng ta còn có lãnh hải rộng hơn Cao Miên nên phát triển ngư nghiệp cũng dễ dàng. Nói tóm lại, nền nông nghiệp sẽ phát triển mạnh tại miền Tây, miền Đông thì có lâm nghiệp, và các tỉnh duyên hải thì có ngư nghiệp. 
Như vậy, việc Tướng Serong đưa ra kế hoạch bỏ hẳn miền Trung là một điều tuy rằng làm đau lòng quân dân Việt Nam Cộng Hoà nhưng chúng ta cần nhìn vào thực tế để thấy rằng có những trường hợp chúng ta phải áp dụng hạ sách, thay vì tìm cách thực hiện thượng sách mà không có một chút hy vọng thành công. 
Cho đến nay, chúng tôi đã bỏ thời gian ra đọc nhiều sách của các nhân vật quan trọng của Việt Nam Cộng Hoà viết sau ngày chúng ta mất nước. Rất tiếc là chúng tôi chỉ thấy có hai vị nhắc tới việc chúng ta cắt bỏ miền Trung.
Vị thứ nhất là nhà biên khảo Phạm Kim Vinh, một sĩ quan cấp trung đoàn trưởng kỳ cựu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Tác giả Phạm Kim Vinh có viết rằng kế hoạch rút bỏ miền Trung đã được Tướng Serong đề nghị từ lâu, nhưng vì nó vừa bi thảm vừa táo bạo nên giới lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hoà không dám bàn đến việc chuẩn bị cho kế hoạch đó. Vì thế, đến khi cần phải thực hiện kế hoạch đó thì chúng ta đã làm một cách vội vàng, thiếu chuẩn bị. Hậu quả như thế nào thì mọi người đã thấy.
Vị thứ hai là Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hoà. Khi sắp từ giã dương thế, ông đã viết vài hàng tâm sự cuối đời, chỉ dài hơn 1 ngàn 600 chữ. Trong đó, Trung Tướng có viết, nguyên văn như sau:
"Tôi coi như sách lược của Tổng Thống Thiệu là bỏ rơi vùng Cao Nguyên sau khi mất Ban Mê Thuột là một chiến thuật hay. Nhưng nếu chúng ta được tiếp vận hợp lý, thì tinh thần chiến đấu của chúng ta vẫn còn, và chúng ta có thể tái phối trí quân đội để tiếp tục chiến đấu."

Như thế, chúng ta có thể tin rằng việc bỏ hẳn miền Trung hay ít ra là vùng Cao Nguyên cho cộng sản không phải là một điều thất sách. Ở đây, chúng ta cần hiểu tại sao kế hoạch không được chuẩn bị để thực hiện sớm hơn.
Khi Tướng Serong đưa ra đề nghị bỏ hẳn miền Trung và kế hoạch thực thi thì tình hình chưa đến nỗi bi đát. Theo như đã ghi trong Hiệp Định Ba Lê 1973 thì một khi chúng ta bị thiệt hại về chiến cụ thì Hoa Kỳ sẽ lập tức gửi sang thay thế để bù vào con số đã bị thiệt mất. Đó là một trong những lý do khiến Việt Nam Cộng Hoà vững tin và giữ vững lập trường Bốn Không mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã công bố rõ ràng. Đó là:
1. Không trung lập,
2. Không liên hiệp với cộng sản,
3. Không cắt đất cho cộng sản,
4. Không cho cộng sản hoạt động chính trị tại bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà.
Để có thể hiểu được tại sao giới lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà lúc đó vững tin như thế, chúng tôi giới thiệu đến các bạn thêm một nhân vật nữa, Sir Robert Thompson của Liên Hiệp Vương Quốc Anh.

Sir Thompson là một thiên tài về chống du kích chiến. Ông là cha đẻ của kế hoạch ấp chiến lược tại Bán Đảo Mã Lai Á, đưa đến việc quét sạch quân phiến cộng ra khỏi quốc gia này. Sau đó, ông cũng đưa ra kế hoạch tương tự giúp Chính Phủ Phi Luật Tân đánh lại phiến quân cộng sản. Sau cùng, ông là người đã giúp Chính Phủ Ngô Đình Diệm thực hiện chương trình Ấp Chiến Lược khiến bọn giặc cộng điêu đứng. Sau khi Ngô Tổng Thống bị lật đổ, Sir Thompson tiếp tục giữ vai trò trưởng phái bộ của Quân Đội Hoàng Gia Anh Quốc tại Việt Nam cho đến năm 1965 thì từ chức, về nước và không bao lâu sau, ông xin nghỉ việc.

Sir Thompson là một trong những người chỉ trích chính sách quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhất là về việc dùng phi cơ oanh kích những nơi tình nghi có giặc cộng ẩn náu. Ông tin rằng chiến thuật của giặc cộng là luôn luôn bắt dân làm bia đỡ đạn và do đó, có thể sẽ có thường dân chết lây trong những vụ oanh kích như thế. Tuy vậy, khi chương trình Việt Nam Hoá Chiến Tranh bắt đầu được thực hiện thì Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon mời Sir Thompson làm cố vấn riêng cho ông về bình định và phát triển nông thôn Việt Nam. Lúc đó, 1969, Chiến Dịch Phượng Hoàng đang ở vào thời kỳ hoạt động mạnh nhất nên Sir Thompson còn đóng góp nhiều trong cách lãnh vực khác. Đến khi Chiến Dịch Phượng Hoàng bị bãi bỏ thể theo yêu cầu của Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ, Sir Thompson vẫn tiếp tục vai trò của mình. Ông còn cố vấn cho Tổng Thống Nixon về việc chống du kích tại nông thôn Việt Nam. Những vị nào có mặt ở An Lộc vào tháng Sáu 1972 thì có lẽ còn nhớ Sir Thompson có lên đây vào lúc đó. Ông cần quan sát tại chỗ chiến thuật của địch quân, quân dụng và vũ khí cũng như quân trang của địch để biết thêm về tiềm năng quân sự cũng như tình hình kinh tế của địch.
Mãi đến năm 1974, tôi còn thấy Sir Thompson lên Cao Nguyên quan sát tình hình trên đó. Lúc bấy giờ, thỉnh thoảng tôi có phụ giúp cho mấy sĩ quan cấp tá trong một số công tác liên quan đến chương trình phân chi khu nên được phép có mặt. Sau trận Chương Nghĩa, Kontum, ông có đến tận nơi này tìm hiểu. Có thể vì vai trò của Sir Thompson cùng với sự hiện diện thường xuyên của ông tại Việt Nam khiến cho giới lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hoà thêm tin tưởng vào tinh thần trách nhiệm của Hoa Kỳ và do đó, cho rằng việc đem kế hoạch bỏ miền Trung ra bàn thảo vẫn còn quá sớm. Thế nhưng với vụ Watergate đưa đến việc Tổng Thống Nixon phải từ chức và tiếp theo là việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ đến mức gần như không còn gì, tương lai của Việt Nam Cộng Hoà hết sức đen tối.
Nói tóm lại, việc cắt bỏ miền Trung là giải pháp bất đắc dĩ cho một tình hình mà Việt Nam Cộng Hoà chúng ta không ngờ rằng sẽ xảy ra. Do đó, chúng ta không quan tâm vì không muốn thực hành. Đến lúc phải thực hành thì vì quá cấp bách, chúng ta không kịp chuẩn bị. Nếu chúng ta chê trách những người có trách nhiệm trong cuộc triệt thoái này thì chúng ta cũng nên nhớ rằng trong cuộc lui binh Dunkirk vào tháng Sáu 1940, đã có hơn 40 ngàn quân Pháp và hơn 40 ngàn quân Anh bị quân Đức bắt sống. Đó là họ không phải bảo vệ dân chúng đi theo như đoàn quân của Quân Đoàn II vào tháng Ba tang tóc năm 1975.

Phần cuối của bài này, tôi viết về tuần lễ sau cùng của tôi tại Pleiku, tháng Ba 1975 với những điều mắt thấy, tai nghe.
Pleiku di tản đợt chính và cũng là đợt sau cùng vào lúc 7 giờ sáng Thứ Hai, ngày 17 tháng Ba 1975, nhưng tại thị xã Pleiku đã có những dấu hiệu xáo trộn ít nhất 10 ngày trước đó. Lý do là Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II và Quân Khu 2, một mực tin rằng đại binh Bắc Việt sẽ đánh vào Pleiku. Điều này khiến cho dân chúng hoảng sợ trong khi giới quân sự thì hết sức bất mãn, và một số thì cố giấu sự phẫn uất vì thái độ của Tướng Phú trước tình hình. 
Thiếu Tướng Phú mới nhậm chức được vài tháng. Ông mù tịt về Quân Khu 2. Trong khi đó, các sĩ quan giữ những chức vụ quan trọng, thông thạo tình hình địa phương thì lần lượt bị thay thế mà theo lời bàn tán là do họ không có tiền đóng hụi chết cho bà Tướng Phú. Riêng tại Tiểu Khu Pleiku, chỉ trong vòng một tháng đã có tới ba ông tham mưu trưởng khác nhau. Đó là Trung Tá Lê Thường, rồi đến Thiếu Tá Đàm Văn Từ, và sau cùng là Trung Tá Trần Hữu Tác. Vì họ toàn là người mới, chưa nắm vững tình hình nên Tướng Phú chỉ biết tin vào chính ông, và ông đã phán đoán sai. Trong số các sĩ quan đơn vị trưởng, có đến hơn 90 phần trăm tin rằng cộng quân sẽ đánh vào Ban Mê Thuột thì Thiếu Tướng Phú lại tin rằng chúng sẽ đánh vào Pleiku. Các toán tình báo của rất nhiều đơn vị đã tìm ra những dấu hiệu, những chứng cớ cho thấy chúng chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, và họ báo cáo như thế. Tướng Phú lại cho rằng họ đã bị cộng quân đánh lừa. Tướng Phú quá khinh thường các đơn vị tình báo thuộc quyền, cho rằng họ là những đứa trẻ nên quân Bắc Việt đánh lạc hướng một cách dễ dàng. Quân Bắc Việt không điên gì mà đem đại binh đánh Pleiku, bởi vì từ các địa điểm tập trung quân, chúng phải băng qua những khu vực trống trải mới tiến vào đến thị xã. Chẳng lẽ chúng không nhìn thấy điều đó? Đến khi chúng đánh Ban Mê Thuột thì Tướng Phú bổ ngửa, trong khi các đơn vị trưởng thì do lệnh chuẩn bị tử thủ Pleiku của ông trước đó, lại phải đối phó với tình hình mới. Thế là có chuyển quân, đưa đến việc dân chúng hoang mang rồi có hỗn loạn.
Tôi nhớ rất rõ rằng Thứ Hai, ngày 10 tháng Ba 1975, tôi phải theo một sĩ quan cấp tá đi thăm một số đơn vị quanh thị xã. Sang ngày hôm sau, chúng tôi ở nhà nên tôi theo trách vụ mà làm bản phúc trình. Tôi sang Trung Tâm Hành Quân để lấy toạ độ các đơn vị mà ghi vào bản phúc trình thì thấy có khá đông người tụ tập ở gần đó. Tôi ghé lại xem thì đó là Linh Mục Đại Uý Phan Hữu Hậu vừa từ Ban Mê Thuột thoát về. Ngài đang kể lại về tình hình ở đó, chiến hữu các cấp đứng nghe rất đông. Tôi thì vì bận việc nên chỉ đứng nghe và xem chưa tới một phút thì phải bỏ đi.
Cũng từ lúc đó, tình hình thêm hỗn loạn. Dân chúng hầu hết bỏ ngang công việc thường ngày để nghe ngóng và chuẩn bị ra đi. Một số đông chạy về Nha Trang để từ đó họ sẽ tiếp tục cuộc hành trình. Những đồng bào này, nếu là gia đình quân nhân thì người chồng có thể xin phương tiện di chuyển bằng trực thăng về Nha Trang. Nếu họ là dân sự hoàn toàn thì có thể nhờ vả. Lúc đó, tôi cũng có quyền xin phương tiện di chuyển cho thân nhân một lần duy nhất nên qua giới thiệu và chấp thuận của thượng cấp, tôi xin cho một bà goá có ba đứa con nhỏ bán thuốc lá lẻ gần nhà. Tôi nghe nói đã có những gia đình bỏ ra cả trăm ngàn đồng để nhờ những quân nhân mà họ quen biết xin giùm phương tiện di chuyển. Tôi không rõ những ai có quyền cấp giấy vào phi trường Cù Hanh để đáp phi cơ rời Pleiku nhưng giấy của tôi do Thiếu Tá Bảo Đồng, Sĩ Quan Chuyển Vận thuộc Phòng 4 của Quân Đoàn II ấn ký.
Trưa ngày 13, tôi được lệnh theo hai sĩ quan cao cấp vào Phi Trường Cù Hanh để kiểm soát một phần trong hệ thống an ninh phòng thủ. Chúng tôi thấy đồng bào đứng, ngồi ở bên ngoài cổng rất đông. Tôi thấy lo cho họ, vì cộng quân đã bắt đầu pháo kích vào đây. Lúc xe chạy ngang qua Đường Phạm Phú Quốc trong căn cứ, tôi thấy có hai quân nhân Không Quân, bạn của anh tôi, vẫy tay chào. Họ chẳng có gì phải lo, vì muốn đem gia đình đi lúc nào cũng có phương tiện sẵn sàng. 
Ngày 14, như chúng ta đều biết, có một phiên họp tại Cam Ranh và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Thiếu Tướng Phú dời Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II về Nha Trang. Tôi cũng nghe nói rằng theo lệnh này thì các đại đơn vị Chủ Lực Quân tại Pleiku cũng di chuyển theo Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn trong khi các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân cũng như các cơ quan dân chính thuộc Tỉnh Pleiku phải ở lại. Lại cũng có lệnh rằng việc di chuyển phải được bảo mật. Tôi không rõ họ bảo mật như thế nào mà ngay tối hôm đó tôi đã được biết. 
Tôi không nghĩ rằng một ai đó có thẩm quyền mà lại ngây thơ đến việc ra lệnh bảo mật. Các đại đơn vị di chuyển rầm rầm, không lẽ không ai nhìn thấy, không lẽ không ai thắc mắc. Hơn nữa, nhiều gia đình có anh phục vụ bên Chủ Lực Quân trong khi em thì phục vụ bên Địa Phương Quân, không lẽ họ không báo tin cho nhau.
Ngày 15, Thứ Bảy, tất cả anh em chúng tôi đều có mặt tại nhiệm sở nhưng hầu như chẳng làm việc gì ngoài mấy sĩ quan trực. Tôi nghe nhiều người nói rằng họ đã chuẩn bị cho gia đình họ để sáng sớm mai theo đoàn quân dân rời Pleiku về Phú Bổn rồi từ đó về Phú Yên. Tôi không rõ do ai mà có việc di chuyển khỏi Pleiku vào ngày giờ đó. 
Quá trưa, tôi có nghe một vài chiến hữu nói với nhau rằng Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng Pleiku là Đại Tá Hoàng Thọ Nhu đã bỏ nhiệm sở bay về Sài Gòn. Người được chỉ định thay thế là Trung Tá Trần Thanh Tâm, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Pleiku. Khoảng sau 2 giờ, tôi đi bộ về nhà để chuẩn bị một ít đồ cá nhân. Khi đi ngang qua Trung Tâm Điều Hợp, tôi không thấy chiếc xe Jeep của Trung Tá Tâm.
Khoảng gần 5 giờ chiều, tôi đang nằm ngủ chập chờn trên chiếc ghế bố thì nghe có tiếng gọi nhau ra tập họp. Tôi và một số chiến hữu khác không phải có mặt nhưng cũng đứng trong này nhìn ra xem có chuyện gì. Chúng tôi thấy quân nhân các cấp tụ tập xếp hàng ở sân cờ, phía trước Phòng Tổng Quản Trị và Phòng 1. Người đứng ra điều động hàng ngũ là Thiếu Tá Trần Ngọc Phú, Trưởng Phòng 1. Tôi không thấy các vị trưởng phòng khác hiện diện. Một lúc sau thì Đại Tá Hoàng Thọ Nhu đến. Chúng tôi đứng khá xa, nên không nghe rõ tất cả những gì ông nói, nhưng có nghe một đoạn như sau: Không có lệnh nào cho chúng ta rút khỏi Pleiku cả. Ngay cả tôi cũng vậy, tôi vẫn ở đây, vợ tôi vẫn ở đây với tôi, chỉ có các con của chúng tôi là được gửi vào Sài Gòn.
Tuy rằng Đại Tá Nhu đã nói rõ ràng như thế, sang hôm sau quân dân Pleiku vẫn chuẩn bị và đến sáng Thứ Hai thì ồ ạt lên đường rời thị xã. Đoàn người và xe di chuyển rất chậm nên tôi đi bộ dọc theo mấy chiếc xe Jeep để nói chuyện với mấy người quen. Được một đoạn, tôi từ giã họ và trở về nhà. Sau hai ngày đêm thiếu ngủ, tôi nằm nghỉ cho đỡ mệt. Tôi chợp mắt ngủ chỉ được khoảng hơn 30 phút nhưng cảm thấy tỉnh táo hẳn lên. Vậy nên tôi làm vệ sinh cá nhân xong thì trở vào văn phòng. Không một ai ra lệnh cho tôi thiêu huỷ hồ sơ, nhưng cũng không một ai ra lệnh cho tôi làm ngược lại. Vì thế, tôi phải suy nghĩ để tự quyết định. Tất cả những hồ sơ điều tra mà chúng tôi đúc kết đều chỉ là bản lưu, còn bản chính đã gửi đi các nơi. Vì thế nên tôi đem tất cả các hồ sơ điều tra ra phía sau mà đốt. Trong lúc chờ đống giấy cháy hết, tôi nhìn sang Phòng 4 thì thấy có mấy chiếc GMC đang đậu ở đó, có mấy quân nhân đang chất đồ lên. Một vài người trong họ nhìn thấy tôi, vẫy tay chào. Thấy vậy, tôi bước sang hỏi thăm thì được biết rằng khoảng 10 giờ rưỡi họ sẽ khởi hành, nhưng còn đến nhà mấy chiến hữu khác để chở thêm người và thêm đồ đạc rồi mới rời Pleiku. Họ cho biết vẫn còn chỗ cho tôi, nhưng không được đến trễ. Tôi cám ơn họ.
Trở về văn phòng, tôi đứng ở cửa sổ nhìn ra, quan sát một vòng. Tôi thấy có một số quân nhân vẫn còn đứng nói chuyện với nhau. Một số trong họ mặc áo giáp, đội mũ sắt, vũ khí đầy đủ. Một số vẫn mặc quân phục như thường nhật, mũ lưỡi trai, không đeo vũ khí. Tôi cảm thấy cần ngồi hoặc nằm một mình một lúc. Tôi vừa cởi giày xong thì một thằng bà con xa chạy chiếc Yamaha Dame đến tìm. Nó khuyên tôi nên rời Pleiku, vì có ở lại cũng không làm được gì. Tôi đồng ý, và nó dặn tôi ra trước Rạp Diệp Kính chờ nó. Tôi ra đó được vài phút thì có mấy chiến xa M-48 chạy đến. Tôi đưa tay ra phía trước ra dấu, chiếc chạy sát chiếc sau cùng dừng lại. Tôi nhìn lên xe, thấy có một vị đại uý rất trẻ tươi cười gật đầu ra dấu cho chúng tôi lên xe. Tôi đưa tay chào kính rồi nhanh nhẹn nhảy lên. Tôi nghĩ vị này có lẽ là chi đoàn phó và ông đã ra lệnh cho viên tài xế ngừng xe lại để chở hai đứa chúng tôi. 
Đoàn chiến xa chạy rất mau, không bao lâu đã đến Hàm Rồng. Chúng tôi quay đầu nhìn lại, thấy trên khu vực Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II có mấy cột khói đen bốc lên rất cao. Thỉnh thoảng, chúng tôi còn nhìn thấy ánh lửa loé lên, có lẽ vẫn còn một đơn vị chiến xa ở đó, đang dùng đại bác để phá huỷ các kho quân trang, quân dụng. Như vậy là đã có lệnh phá huỷ tất cả những gì có thể phá để không lọt vào tay địch quân.
Một lúc khá lâu sau, chúng tôi chạy đến một đoạn đường vắng. Viên đại uý nói lớn, "Anh em, chúng ta giã từ Pleiku một lần cuối." Nói xong, ông buồn bã lắc đầu. Chúng tôi biết đã sang lãnh thổ Tỉnh Phú Bổn. Lúc đó là 11 giờ 40, Thứ Hai, ngày 17 tháng Ba 1975.

Hình đính kèm là Sir Robert Thompson và Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh tại Kontum, 1974.

Comments

Popular posts from this blog

PI IS NOT FREE MONEY

Đôi lời gởi tới các bạn Pioneers, Vốn dĩ mình đã ở ẩn từ lâu từ sau vụ PNG , Trang Trại Pi Nodes , CVG 314k vừa ngu vừa ngáo quá thắng thế thành công tẩy não cộng đồng Pioneers và khiến cộng đồng luôn mang tư duy Pi lên sàn phải có giá cao để bán ( xả ) Pi để lấy tiền tiêu nên kể từ đó đến giờ 2 năm mình chọn ở ẩn và chẳng quan tâm tới các cộng đồng ngáo đá nữa . Nay có một thằng em FB hỏi thăm về Pi và mang hy vọng Pi có trong danh sách Quỹ Dự Trữ Chiến Lược Kỹ Thuật Số ( Strategic Crypto Reserver - SCR ) của Tổng Thống Trump ngày 7 tháng 3 sắp tới nên mình có đôi đều phải nói rõ cho các bạn hiểu . Thứ nhất : Quỹ Dự Trữ Chiến Lược Kỹ Thuật Số là sáng kiến mang lại cho Dân Mỹ , giúp trả nợ công và đặt nước Mỹ là trên hết , nên các bạn đừng có mơ tưởng hay tư tưởng ăn bám vào tiền thuế của dân Mỹ như nhóm PNG , CVG . Nước Mỹ bây giờ không còn như ngày xưa luôn lo chuyện bao đồng rồi nhận lại là sự phản bội của các nước được nước Mỹ giúp . Nước Mỹ bây giờ là nước Mỹ của DÂN MỸ ! Pi Netw...

​Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế

Trong mỗi gia đình, luôn có một người như thế… Người ấy không hỏi nhiều, không kể lể, chẳng tranh phần đúng, cũng chưa từng đòi phần hơn. Nhưng lạ lắm – cứ mỗi lần nhà có chuyện, thì chính người ấy lại là người đầu tiên chao đảo. Khi ai đó gặp hạn, người ấy lại ốm. Khi cả nhà cùng lo âu, người ấy lại gánh thêm những điều chẳng ai thấy. Không phải vì người đó yếu. Mà bởi trời đất đôi khi có một cách sắp đặt kỳ lạ: Để một người chịu nhiều hơn một chút – Để những người còn lại, được bình yên hơn một chút. co là con út trong một gia đình năm người. Chị gái lấy chồng xa, anh trai có công việc ổn định, bố mẹ vẫn khỏe mạnh ở tuổi về chiều. Chỉ riêng Co – đi đâu cũng lận đận, làm gì cũng va vấp. Đã có lúc, cô ngồi một mình và hỏi: "Hay là mình là đứa gánh nghiệp cả nhà?" Và rồi cô để ý – rất rõ – Mỗi lần trong nhà có người gặp chuyện: mẹ ốm, bố té xe, hay chị gái buồn bực chuyện chồng con… Thì chỉ vài hôm sau, Linh lại là người "đón hạn": xe hư, mất việc, hay bỗng dưng té ...

Khủng hoảng kinh tế 2008 và các sói già phố Wall

  Có lẽ nhiều người đã biết khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 xảy ra do bong bóng thị trường cho vay mua nhà (mortgage) của Mỹ sụp đổ, khi hàng loạt người có điểm tín dụng xấu – không có khả năng chi trả nợ - được cho vay mua nhà (subprime mortgage). Thời điểm 2000-2007, việc 1 người có thể sở hữu 2-3 căn nhà là hoàn toàn bình thường nhờ vay tiền từ các tổ chức tín dụng. Đến 1 thời điểm, khi người mua nhà không còn khả năng phát chi trả nợ, bong bóng này chắc chắn sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, việc tín dụng xấu có thể tồn tại trong 1 thời gian dài và tạo nên ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới chắc chắn không chỉ phụ thuộc vào những người có tín dụng xấu. Từ 1 đống rác, mortgage tín dụng xấu đã được hô biến thành 1 món hàng cực kỳ uy tín và chất lượng, tóm gọn lại trong hai yếu tố: 1. Biến subprime mortgage thành 1 sản phẩm hoàn toàn mới 2. Dát vàng cho sản phẩm mới này 1 trò chơi hoàn hảo đã được bày ra bởi các sói già phố Wall. Thay đổi nhận diện Yếu tố thứ...