Phần 2: 5. Những nhân công trong những thị trường tự do không bị "khốn cùng." Thay vào đó, họ được tốt hơn hẳn về mặt vật chất hơn là khi ở trong những xã hội không được tự do, hay được tự do ít hơn. Theo những tiêu chuẩn của chúng ta, những nhân công hãng xưởng vào thời của ông Marx đã lao động trong những điều kiện kinh khủng cho những mức lương bổng tội nghiệp. Tuy nhiên, công việc và lương bổng của hãng xưởng đã thường là tốt hơn nhiều (hay, ít nhất, ít tệ hại) hơn những chọn lựa thay thế mà đã có vào thời đó.
Những thị trường tự do đã khiến cho người ta quá hữu dụng đến độ họ cần làm việc ít giờ hơn để nuôi bản thân họ và những gia đình của họ. Thay vì làm việc sáu hay bảy ngày với 12 tiếng đồng hồ mỗi tuần, người ta thông thường làm việc năm ngày với 7 hay tám tiếng đồng hồ ở những xứ theo thị trường tự do. Hơn nữa, con trẻ không còn cần phải làm việc để sống còn nữa.
Những thị trường tự do cũng đã đặt phụ nữ trên một căn bản ngang bằng hơn với đàn ông. Trong một thế giới mà sức mạnh thô thiển là một yết tố quan trọng cho sự sống còn, phụ nữ là những công dân hạng hai. Nhưng trong một xã hội theo thị trường tự do, nơi mà trí não hệ trọng hơn hẳn sức mạnh bắp thịt, phụ nữ có thể cạnh tranh với đàn ông hơn.
Ông Marx đã hô rằng chủ nghĩa xã hội đã sẽ đặt những phương tiện sản xuất vào trong tay những nhân công, nhưng chính chủ nghĩa tư bản mà đã hoàn thành sự hứa hẹn của ông ta. Ngày nay, "những phương tiện sản xuất" ngày càng chuyển thành kiến thức của một nhân công, máy điện toán đặt trên lòng và điện thoại di động, và, có lẽ, máy in ba chiều của cô ta.
Ông Marx đã hình dung một thiên đàng xã hội chủ nghĩa mà trong đó ông ta "đã có thể câu cá vào buổi sáng, đi săn vào buổi chiều, và chăn bò vào buổi tối và thực hiện thuyết thiết yếu vào ban đêm, y như là tôi có đầu óc, không với việc trở thành thợ săn, ngư ông, mục đồng hay nhà phê phán bao giờ." Một lần nữa, đã chính là chủ nghĩa tư bản mà đã làm cho ước mơ của ông Marx thành hiện thực bằng việc gia tăng mức sản xuất/năng suất quá nhiều đến độ người ta không còn phải dành tất cả những thời giờ tỉnh thức của họ chỉ để cố cào ra một cuộc sống tối thiểu thôi nữa.
6. Những nhân công mà bất đồng với ông Marx không đang chịu "một tâm thức sai lạc" hay họ cũng không ngu đâu. Họ hiểu những quyền lợi của chính họ tốt hơn hẳn những kẻ hoạch định từ trung ương hay cả những lý thuyết gia sống trong tháp ngà.
Kết luận:
Ông Marx đã không hiểu, hay đã từ chối hiểu, những hấp lực được tạo ra bởi một xã hội dựa trên nguyên lý "từ mỗi người theo như khả năng của hắn ta, đến mỗi người theo như nhu cầu của hắn ta." Đến tầm mức mà nguyên lý này được tuân theo, nó tạo ra một thế giới trong đó người ta biểu hiện ra khả năng tối thiểu và nhu cầu tối đa.
Ông Marx đã không bao giờ xác định một "hệ thống thuộc chủ nghĩa Mác-xít" đã sẽ là gì hay nó đã sẽ vận hành ra sao. Ông ta đã từ chối diễn tả thiên đàng xã hội chủ nghĩa của ông ta nhiều hơn là bằng những định từ rất chung chung bởi vì ông ta đã tin rằng nó phải ló dạng một cách ngẫu nhiên và đã thật sẽ là, do vậy, ngu ngốc để tiên đoán dạng thức chung cuộc mà nó đã sẽ tiến hóa thành.
Cùng lúc đó, tuy nhiên, ông ta đã tin tưởng rằng một cuộc cách mạng đã là cần thiết để mang lại chủ nghĩa xã hội. Nhưng cuộc cách mạng hàm ý một sự tách rời hẳn hòi khỏi tình trạng hiện hữu của sự vật sự việc. Thay vì để cho một nền trật tự kinh tế xã hội mới ló dạng một cách tự nhiên, thì, ông Marx đã muốn thiết lập một cách cưỡng bách nền trật tự mới của ông ta lên trên đống tro tàn của nền trật tự cũ – một nền trật tự mới mà ông ta đã từ chối xác định bởi vì nó đã phải ló dạng một cách tự nhiên cơ mà.
Kết quả là, "chủ nghĩa Mác" đã là một cái gì đó thuộc về một cái xô trống rỗng mà những nhà cách mạng đã có thể tuôn vào bất cứ cái gì họ đã muốn.
Trong thực hành, những người theo chủ nghĩa Mác đã chứng tỏ là hay hơn nhiều đối với việc hủy hoại những xã hội và những nền văn hóa hơn là họ đã chứng tỏ đối với việc tạo ra những xã hội và những nền văn hóa mới thành công. Chủ nghĩa Mác vẫn còn đáng quan tâm tới chỉ trong chừng mực rằng nó vẫn còn là một lực phá hoại.
Richard W. Fulmer là một trước tác gia tự do từ Humble, tiểu bang Texas, và là người đoạt Giải Thưởng Tưởng Niệm Beth A. Hoffman Cho Trước Tác Về Kinh Tế lần thứ ba hàng năm cho bài "Cavemen và Middlemen" ["Những Người Sống Trong Hang và Những Kẻ Trung Gian"] của ông, từ tạp chí Freeman vào tháng Tư năm 2012.
Comments
Post a Comment