Tôi thỉnh thoảng tiếp xúc với người Nepal trong công việc và cũng có nhiều bạn bè ở Kathmandu. Không ít lần tôi gặp những người có tên Siddhartha và vài người khác có họ Gautam hoặc thỉnh thoảng họ phiên âm ra Anh văn là Gautama hoặc Gautami. (Thỉnh thoảng Gautam cũng được gọi là Laxmi).
Siddhartha सिद्धार्थ là một tên gọi khá phổ biến ở Nepal, dễ dàng bắt gặp những khách sạn, nhà hàng, ngân hàng, công ty... có tên Siddhartha trên khắp Nepal. Còn Gautam/Gautama/Gautami cũng không hiếm và vẫn được dùng thông dụng tới ngày nay, không chỉ riêng ở Nepal mà cả ở Ấn Độ.
Siddhartha trong tiếng Nepal có nghĩa là "Người hoàn thành được mục tiêu". Nếu so sánh với tên người trong tiếng Việt thì gần giống với tên "Đạt". Sau này khi phiên âm sang tiếng Hán Việt, Siddhartha được đọc thành Tất Đạt Đa - nghĩa đen có thể hiểu là 'chắc chắn nhiều thành đạt'. Tuy là phiên âm nhưng cũng có chỗ giống nghĩa với tên gốc, đây là một điều rất thú vị về mặt ngôn ngữ và chắc chắn không phải trùng hợp nhưng là do sự thông tuệ siêu đẳng của những vị tăng đã truyền giáo sang Đông thổ trong thuở ban đầu..
Gautam गौतम trong tiếng Nepal có nghĩa là "Xoá đi bóng tối", trong chừng mực có thể có thể hình dung nó giống chữ "Quang" trong tiếng Việt. Gautam được phiên âm thành Cồ Đàm (hoặc Cù Đàm).
Chúng ta biết Gautam Siddhartha là họ và tên thật của đấng sáng lập nên Phật giáo, theo cấu trúc họ+tên, và thường được viếc ngược lại trong Anh văn là "Siddhartha Gautam", được đọc trong âm Việt là "Tất Đạt Đa Cồ Đàm". Trong các câu truyện Phật giáo, ta thường được nghe cách gọi thẳng tên rất thân thiết là "thái tử Tất Đạt Đa", hoặc trong văn chương Hán ngữ lại gọi bằng họ một cách trịnh trọng là "Cồ Đàm cư sĩ". Đây là tên và họ của vị Phật trong lịch sử mà mọi người cũng gọi ngài là Đức Thích Ca Mâu Ni.
Tôi tin rằng đọc tới đây chắc là sẽ có người đặt câu hỏi: vậy thì người ta nói đức Phật họ "Thích" là sao?
Đây là một câu hỏi rất đúng trọng tâm mà cần đi ngược về lịch sử Nepal một chút. Dựa trên các bản văn Pali cổ xưa, người ta biết được có một Thị tộc (clan) tên là Sakya (hoặc Shakya) đã thống trị vùng Bắc Ấn Độ dọc theo chân dãy núi Hymalaya từ thời đại đồ sắt. Thị tộc là một hình thức phát triển cao hơn của bộ tộc nguyên thuỷ, mà khi này những người chung thị tộc không nhất thiết là chung một dòng họ trực hệ, nhưng là những người có họ hàng xa, chia sẻ các giá trị phổ quát hơn như là chung một vị thuỷ tổ từ nhiều đời, nhưng cũng đủ xa về huyết thống để có thể kết hôn với nhau. Những người chung một thị tộc cũng có ràng buộc với nhau về quan hệ kinh tế và tự vệ trước sự tấn công của các thị tộc khác.
Thị tộc Sakya này có nền văn minh phát triển cao về học thuyết, chính trị và nghệ thuật, họ sinh sống bên ngoài phạm vi văn minh sông Hằng và có tôn giáo riêng, gần như không bị ảnh hưởng nhiều bởi hệ thống thần linh của đạo Hindu. Thủ phủ của thị tộc Sakya là thành phố Kapilavastu. Kinh sách Hán tạng đã phiên âm Sakya thành "Thích Ca" và Kapilavastu thành "Ca Tỳ La Vệ". Ngày nay vùng lãnh thổ cũ của thị tộc Sakya nằm chồng lên Nepal và Bắc Ấn Độ.
Vào cuối thời đại Đồ Sắt, người lãnh đạo thị tộc Sakya là Śuddhodana Gautam, tên gọi này nghĩa là "Người trồng gạo thuần khiết", và Hán tạng đã dịch khá thanh thoát là vua "Tịnh Phạn". Khi này, thị tộc Sakya phát triển gần như thành một tiểu quốc và Kapilavastu sầm uất như một kinh đô. Vua Śuddhodana Gautam sanh hạ con trai thừa kế là Siddhartha Gautam - người sau này từ bỏ quyền thừa kế và đi tu rồi sáng lập ra một nền tảng mới chính là Phật giáo ngày nay.
Như vậy, cách nói họ "Thích" là một cách giản lược của họ "Thích Ca", phiên âm từ chữ Sakya. Để cho dễ hình dung mối liên hệ giữa Sakya và Gautam, có thể diễn đạt như thế này: "Vị thái tử tên Siddhartha thuộc dòng họ Gautam, dòng họ Gautam này là một trong nhiều chi tộc thuộc thị tộc Sakya".
Riêng danh hiệu của ngài Sakyamuni - Thích Ca Mâu Ni, có thể dễ dàng hiểu được thông qua tiếng Pali, Sakyamuni là từ ghép bởi hai yếu tố Sakya và Muni. Trong đó, Sakya là tên thị tộc, Muni nghĩa là "Minh sư" hoặc "Nhà hiền triết"; Sakyamuni - Thích Ca Mâu Ni không phải là một danh từ tên riêng nhưng là một danh từ ghép dùng để kính xưng, danh xưng này có nghĩa là "Nhà hiền triết của thị tộc Thích Ca".
Các danh hiệu khác: Đức Phật, Thế Tôn, Như Lai, Phật Tổ... là các danh hiệu do hậu thế dùng để kính gọi ngài.
Trở lại với anh em Nepal, thì việc tên Siddhartha và họ Gautam phổ biến tới ngày nay là một minh chứng cho tính lịch sử của việc Đức Phật đản sanh tại Nepal vậy.
Hy vọng biên khảo nho nhỏ này giải đáp phần nào cho anh em về những thắc mắc quanh tên và danh hiệu của ngài.
Comments
Post a Comment