Khi những phi cơ Nhật tiến gần đến mục tiêu thì phi đội chiến đấu cơ Zero đã đuổi kịp những oanh tạc cơ bay trước họ . Saburo Sakai , người chiến sĩ phi công dạn dày kinh nghiệm với thành tích bắn hạ 56 phi cơ địch trong đó có cả một pháo đài bay của Colin Kelly . Từ trên cao độ anh nhìn xuống , một quang cảnh hết sức ngoạn mục , ít nhất cũng có 70 chiến hạm địch đang nằm cách xa bờ biển . Phi đội oanh tạc cơ vội rời khỏi đội hình bung ra chọn mục tiêu cho mình . Bỗng ngay lúc ấy 6 chiếc phi cơ lạ của địch từ đâu lao xuống như những vật thể lạ từ ngoài bầu khí quyển rơi vào . Sakai trố mắt ngưng thần , anh chưa bao giờ được trông thấy loại phi cơ này xuất hiện . Anh nghĩ có lẽ nó là Grumman Wildcats , một loại phi cơ chiến đấu thuộc thế hệ mới của Hoa Kỳ mà anh cũng vừa được nghe qua .
Phi đội Wildcat lao vun vút về phía những khu trục cơ đang bắt đầu ném bom xuống những chiến hạm trong khu vực bờ biển Savo . Sakai lấy làm thất vọng khi nhìn thấy những trái bom rơi trật mục tiêu rớt bì bõm xuống mặt biển nước văng tung tóe . Anh chợt nghiếng răng chữi thề õm tỏi “Mấy cái thằng phi công ngu bỏ mẹ chẳng biết cách ném bom vào một mục tiêu đang di động hay sao . Ủa mà tại sao chúng không mang theo thủy lôi nhỉ ?”
Phi đội Wildcat vừa xả loạt đạn đầu tiên tấn công vào đội hình khu trục cơ thì bị những chiếc zero phóng tới tấn công tới tấp . Sakai tuy là một phi công đầy kinh nghiệm nhưng cũng phải một giây lúng túng trước sự dũng mảnh phi thường của loại chiến đấu cơ mới lạ này . Và anh càng ngạc nhiên hơn há hốc miệng mà nhìn khi chính mắt trông thấy có cả 3 chiến đấu cơ Zero đuổi theo một chiếc Wildcat nhưng vẫn không bắn hạ được nó để cuối cùng rồi chính nó quay lại tấn công họ . Mỗi lần chiếc Zero đuổi theo kịp thì nó chỉ nghiêng cái thân mình to lớn rồi chao ngay lại phía sau của phi cơ địch . Sakai thật sự kinh hoàng vì anh chưa bao giờ làm được những pha chao liệng tuyệt đẹp đến như thế . Một chiếc đang lù lù xuất hiện ngay phía trước Sakai , nhanh tay anh xiết cò , một loạt đạn lao thẳng vào chiếc phi cơ . Trong nháy mắt anh thấy nó lộn vòng rồi quẹo thật gắt ra sau rồi bỗng chốc cất lên cao ngay phía sau lưng anh . Sakai hoảng hốt cũng lộn luôn mấy vòng nhưng chiếc Wildcat như bóng với hình vẫn bám sát theo anh . Và với kinh nghiệm nhiều năm bay lộn , Sakai mang hết bình sinh tuyệt nghệ ra khéo léo điều khiển chiếc Zero để tìm sinh lộ và quyết phải lật ngược được tình thế bất lợi này . Sau nhiều pha nhào lộn chao liệng tuyệt đẹp cuối cùng rồi thì tay phi công Hoa Kỳ này cũng phải chào thua cái anh chàng phi công Nhật Bản ngoại hạng . Chỉ trong một cái tích tắc ngưng thần để thán phục tài năng của kẻ địch khiến cho anh phi cơ Hoa Kỳ phải rơi vào thế hạ phong ngay , tức là chiếc Zero vừa chao đi nửa vòng và nó trở lại với tư thế nằm ngửa . Khi nhận thấy chiếc Wildcat nằm gọn trong tầm đạn của mình , Sakai không chậm một giây quạt luôn hàng trăm viên đạn quất thẳng vào mục tiêu . Nhưng lạ thay , anh chẳng thấy nó bị bốc cháy hoặc xé ra thành từng mảnh . Sakai tự hỏi “Làm thế nào mà nó không rơi nhỉ ? Tại sao tụi Mỹ lại có được những loại phi cơ lạ lùng và những phi công cừ khôi đến thế chứ ?” Anh ngạc nhiên đến độ phải tiến lại gần để quan sát kỹ hơn . Một anh chàng phi công to lớn đang đưa đôi mắt căm hờn nhìn sang người phi công Nhật , người đã vừa tặng cho mình một loạt đạn . Có lẽ anh ta đã bị trọng thương sau loạt đạn vừa rồi nên cho dù Sakai đưa tay làm dấu ra hiệu “Có ngon thì cứ chơi xả láng coi ai hơn ai” , anh chàng phi công Hoa Kỳ vẫn lầm lì nhìn trừng trừng về phía trước . Bất giác Sakai cảm thấy chùn lòng , thầm thán phục sự gan lì quả cảm của anh phi công cừ khôi Hoa Kỳ . Nhưng đây là chiến trường , ta không giết địch ắt địch sẽ giết ta . Một hành động gần như miễng cưởng , khẩu đại liên 20 ly hướng về phía chiếc Wildcat khạt đạn . Sakai vội cất lên cao độ trong khi chiếc Wildcat nổ tung . Từ trên tầng mây , Sakai quay nhìn lại chiếc phi cơ địch vừa lâm nạn , một bóng dù theo gió đong đưa . Anh phi công vừa rồi đã thoát nạn và đang điều khiển cánh dù rơi từ từ xuống một hòn đảo gần đó .
Phi đội khu trục và oanh tạc cơ vừa rồi từ khi xuất hiện , đánh bom rồi rút lui , vần vũ cả hơn hai mươi phút mà chẳng gây được một thiệt hại nào cho những chiến hạm của Hoa Kỳ . Những hải vận hạm lại tiếp tục cập sát vào bờ biển tiếp tục đổ quân như trước . Nhưng một tiếng đồng hồ sau đó , đợt oanh tạc thứ nhì của Nhật lại kéo đến , và những hải vận hạm lại phải rút lui khỏi bờ biển tự phân tán mỏng lần nữa . Sau hai cuộc không kích của Nhật , kết quả đơn thuần chỉ là làm cho cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ phải đình trệ đi đến nhiều giờ sau đó . Cũng là một dịp may cho Hoa Kỳ , nếu cùng với một số lượng bom mà hai đợt không kích vừa rồi các phi công Nhật chẳng dùng đánh bì bõm xuống biển giết tôm giết cá mà để đánh vào những đụn hàng tiếp liệu và đạn dược đang chất thành đống như kim tự tháp trên bờ biển hoặc đánh vào những cánh quân đã đổ bộ được lên bờ còn phơi lưng trần chưa hầm chưa hố , thì hậu quả của nó thật không thể lường trước được .
Ở bộ chỉ huy tại Rabaul , tin đổ bộ của quân đội đồng minh ở hai hòn đảo phía Nam Solomon đã không làm cho Tướng Hyakutake , chỉ huy trưởng lộ quân 17 thay đổi quyết định . New Guinea vẫn là mục tiêu chính và ông chỉ đặc hết trọng tâm vào kế hoạch hành quân xuyên qua dãy núi có tên là Owen Stanley để tấn công chiếm lấy Port Moresby mà thôi , ngoài ra không dùng dù chỉ một người lính vào bất cứ một chiến trường nào khác . Phó Đô đốc Gunichi Mikawa lên tiếng phản đối dữ dội . Ông đơn phương ra lệnh cho một hạm đội vừa mới chuyển tới căn cứ Rabaul , đó là hạm đội thứ Tám , với hai nhiệm vụ cùng một lúc là dàn thành mũi xung kích tiến về phía Nam để bảo vệ quần đảo Solomon và chống lại mũi tiến quân của đồng minh .
Theo những báo cáo gửi về thì không còn nghi ngờ gì nữa , đây hẳn là một cuộc đổ bộ qui mô của đồng minh . Nhưng tranh cãi với phe lục quân chỉ tổ làm mất thì giờ quí báu mà thôi , Mikawa nghĩ như thế nên chỉ liên hệ với cánh Hải quân trực thuộc của mình đơn phương hành động mà thôi . Ông tập họp được 410 thủy thủ , trang bị cho họ súng trường và đại liên và ra lệnh cho hải vận hạm Meiyomaru chuyển nhóm binh sĩ bất đắc dĩ này ngay đến đảo Guadalcanal . Sau đó ông liên lạc về Bộ tham mưu Hải quân ở Đông kinh để xin được toàn quyền điều động hạm đội đang có mặt tiến đến vùng biển Guadalcanal tấn công hạm đội Hoa Kỳ vào đêm sau .
Đây có thể gọi là một hành động quá táo bạo đối với Tham mưu trưởng Hải quân Nhật là Nagano-Mikawa sẽ xông vào một chiến trường quá hiểm nghèo với một lực lượng thật hùng hậu của địch đang chờ sẳn , và mặt trận ấy lại ở một nơi quá xa mọi căn cứ , khó bề tiếp ứng khi cần thiết . Ông không dám tự quyết định , vội chuyển đến chỉ huy trưởng hạm đội liên hợp là Đô đốc Yamamoto . Yamamoto biết rõ con người của Mikawa nên ông đặc trọn niềm tin vào vị phó Đô đốc gan dạ có thừa nhưng khi hành động thì rất cẩn trọng . Một bức điện ngắn gọn được gửi đến Mikawa từ soái hạm Đại Hòa của Yamamoto “Chúc may mắn-Mã đáo thành công” (Yamamoto xổ nho hihihi) .
Chiều hôm ấy Mikawa đã có mặt trên chiếc tuần dương hạm nặng tên Chokai , lệnh cho một hạm đội gồm 4 tuần dương hạm nặng , hai tuần dương hạm nhẹ và một khu trục hạm cùng theo một đội hình sau ông nhắm hướng Nam tiến phát .
Vùng biển xa lạ này vốn ít được những nhà thám hiểm chiếu cố nên rất hiếm thấy vị trí của nó trên hải đồ . Và có đi nữa cũng chỉ là một nét vẽ phát đơn sơ rất khó phân biệt . Nhờ vào những tấm hải đồ từ những thế kỷ trước và sau này , tất cả mang ra đối chiếu với nhau nên Mikawa và những chuyên viên hàng hải có nhiều kinh nghiệm mới có được chút ít khái niệm về vùng biển còn quá xa lạ cho hải quân của mình . Bấy giờ ông mới thấy ra rằng mình hơi liều , nhất là đang trên đường tiến vào một vùng biển cam go với hạm đội dày đặc của địch mà phương hướng còn chưa nắm rõ hết .
Mikawa quyết định cho hạm đội của mình men theo một hải lộ ngoằn ngoèo dựa vào những hòn đảo ở phần giữa của quần đảo Solomon để tiến dần xuống phía Nam . Nên nhớ quần đảo Solomon nằm theo tuyến Bắc Nam nhưng đầu của nó tức căn cứ Rabaul nơi Mikawa xuất phát lại chênh chếch về hướng Tây , và đuôi của nó , tức đảo Guadalcanal nằm ở vị trí nơi cuối cực Nam . Ở giữa là những hòn đảo mọc theo hình một dãy đảo , đó là một điểm tựa lý tưởng để hạm đội Mikawa len lõi trong chuyến hành quân hầu tránh những phi cơ quan sát của Hoa Kỳ . Rồi khi đến gần được mục tiêu ông sẽ tung toàn lực ra mà tấn công , dựa trên nguyên tắc “xuất kỳ bất ý công kỳ vô bị” trung quân đánh bất thần khi địch quân chưa chuẩn bị ắt phần thắng sẽ nằm trọn trong tay .
Nhưng âm mưu thình lình phục kích của phó Đô đốc Mikawa coi ra khó có thể thành công vì hạm đội của ông đã bị Hoa Kỳ phát giác . Dù có khôn khéo lòn lách tránh né được con mắt của phi cơ tuần thám nhưng vẫn không qua mặt được những tiềm thủy đỉnh đang nằm im dưới mặt nước rình mò . Chiếc tiềm thủy đỉnh S-38 đang nằm ở cửa eo biển St.George (eo biển này nằm giữa hai đảo New Britain và đảo New Ireland , rộng 30 dặm và sâu khoảng 600 dặm) . Vì lúc ấy nó không nằm ở độ quá sâu dưới mặt nước nên bị dao động mạnh bởi đội hình của hạm đội Mikawa đi ngang qua , và vì tiềm thủy đỉnh lắc lư chòng chành và hạm đội địch lại quá gần nên không thể phóng thủy lôi tấn công ngay được . Chỉ huy trưởng là Trung Úy Munson , một cựu sĩ quan hải quân từng dự trận chiến ở biển Java liền lên máy gọi báo cáo về hạm đội .
Chiều tối cùng ngày đã có đến 11 ngàn thủy quân lục chiến đổ bộ an toàn lên Guadalcanal . Trên bãi biển , khối hàng tiếp liệu , quân nhu và đạn dược cũng được chuyển lên chất thành những đống to đùng nằm đầy dẫy cả một khu . Chiều hôm sau , một tiểu đoàn tiến sâu vào lục soát khu phi trường nhưng cũng chẳng có một sự chống cự nào của địch quân . Họ tìm được một bãi đáp đang xây dựng còn dang dở . Toàn thể quân đồn trú của địch đã rút đi vội vã , bỏ lại đồ ăn còn đổ vương vải trên bàn . Tất cả thực phẩm , nhiên liệu , máy móc vẫn còn trong tình trạng rất tốt , nghĩa là chẳng có ai phá hủy trước khi rút bỏ . Thậm chí súng đạn , xăng dầu , máy móc truyền tin , gạo , trà , bia , rượu Sa kê vẫn còn đầy ắp trong kho . Hai cái máy phát điện , một nhà máy sản xuất thủy lôi , nhà máy sản xuất nước đá với cái tên của vị đương nhiệm thủ tướng là Tojo thảy đều trong tình trạng quá tốt .
Bây giờ chúng ta nên trở lại với hạm đội của phó Đô đốc Mikawa , lúc hoàng hôn vừa buông xuống thì họ đã tới được vùng biển của đảo Bougainville . Ông vội cho phóng bốn chiếc thủy phi cơ thám thính cũng như cho các chiến hạm tách rời đội hình bung ra tản mát xung quanh khu vực để đề phòng phi cơ dọ thám của địch .
Đúng 10 giờ hai mươi tối hôm ấy , một khu trục cơ của Úc xuất hiện và đảo quanh trên đầu của chiếc soái hạm Chokai . Mikawa vội ra lệnh cho Chokai quay đầu trở lại như là sẽ trở về căn cứ Rabaul . Nhưng sau đó một khu trục cơ khác xuất hiện . Mikawa biết hành tung của mình đã bại lộ nên đâm ra liều lĩnh cứ mặc kệ , quyết định dứt khoát là mang con cái quay trở lại tìm mục tiêu . Thế là đội hình được tiếp tục gom lại và cùng hướng về mũi Nam , xuyên qua hải lộ ngoằn ngoèo eo hẹp như ông đã vẽ ra từ trước .
Thời gian trôi đi lặng lẽ đến một lúc lâu sau đó , một báo cáo gửi về từ chiếc không thám . Họ phát giác 18 hải vận hạm , 6 tuần dương hạm và 19 khu trục hạm và nhiều chiến hạm khác của địch đang có mặt chung quanh vùng biển gần đảo Savo . Hình như hạm đội của địch chia thành hai lực lượng : mũi chính bảo vệ những hải vận hạm ở Guadalcanal và mũi phụ ở Tulagi .
Mikawa thầm nghĩ , địch hiện đang có 26 chiến hạm trong khi ta chỉ có 8 . Làm cách nào ta có thể diệt bớt một lực lượng của họ trước khi họ liên minh hai lực lượng lại với nhau . Và ông vẫn còn cắng đắng , chỉ chú tâm vào một mục tiêu quan trọng hơn , đó là lực lượng hàng không mẫu hạm của địch . Chúng đang ở đâu nhỉ ?
Ngay lúc ấy Đô đốc Turner , phía Hoa Kỳ vẫn chưa hay biết gì về một hải đội địch đang trên đường tiến về phía mình . Bản báo cáo từ tiềm thủy đỉnh có vẻ lửng lơ không xác định rõ và phi cơ không thám của Úc , nguyên vì anh chàng phi công này chẳng biết vì lý do nào mà không hề gửi báo cáo về .
Đến chiều , đúng ngay thời gian mà Thủy quân lục chiến xâm nhập vào khu vực phi trường của đảo Guadalcanal thì đội hình của phó Đô đốc Mikawa đã tiến hơn ba phần tư đoạn đường . Nghĩa là họ không còn cách lực lượng hạm đội Hoa Kỳ bao xa . Mikawa tiên liệu vào khoảng nửa đêm thì chạm địch . Vì trong số 8 chiến hạm dưới quyền chỉ huy của ông có hơn một nửa là những chiếc vừa mới được chuyển tới , họ chưa bao giờ cùng nhau diễn tập nên e rằng khi lâm trận sẽ mất đi yếu tố đồng nhất , nhịp nhàng . Ông vẽ ra một kế hoạch tấn công rất đơn giản . Lúc 4 giờ 40 chiều , từ trên soái hạm Chokai , Mikawa cho phát gửi tín hiệu đến cho toàn hạm đội . Hiệu lệnh của ông ban ra như sau “Chúng ta tiến ra theo mặt Nam của đảo Savo , dùng thủy lôi triệt tiêu lực lượng chính của địch ngay trong vùng biển Guadalcanal . Sau đó chuyển hướng sang Tulagi , pháo và thủy lôi sẽ được sử dụng tối đa để tiêu diệt toàn bộ hạm đội địch ở đây . Từ đó chúng ta sẽ rút lui theo hướng Bắc của đảo Savo” .
Ngay lúc soái hạm Chokai lọt vào vùng biển của Guadalcanal , mối lo ngại sợ địch phát giác càng lúc càng tăng dần , trong một vùng biển nhỏ hẹp như thế này nếu bị phi cơ thình lình tấn công thì chẳng biết nơi nào mà lủi . Vì thế mỗi một phút trôi qua là mỗi một phút Mikawa cảm thấy thêm lo sợ phập phòng .
Trở lại phía Đồng minh , Đô đốc Turner cũng đâu phải là tay mơ . Tuy không mấy tin vào những báo cáo khá mơ hồ của tiềm thủy đỉnh nhưng ông cũng tiên đoán được không sớm thì muộn Hải quân Nhật ở căn cứ Rabaul sẽ tiến xuống tấn công mình . Một căn cứ quân sự còn đang xây dựng dở dang , một điểm chiến lược quan trọng thế này lẽ nào họ dễ dàng bỏ qua cho được .
Ông ra lệnh cho thủy phi cơ PBY bung ra tuần thám mạn Bắc , nơi hải đội của Mikawa sang rẽ sóng tiến tới . Nhưng một việc mà Turner không ngờ là đội thủy phi cơ PBY tuần thám này không hề cất cánh . Lại một biến cố xảy ra gây bất lợi cho đoàn quân đổ bộ . Đến chiều tối thì một bức điện của Fletcher báo cho biết phần xăng dự trử đã sắp hết nên phải mang lực lượng mẫu hạm về để được tiếp tế . Turner bàng hoàng , như thế có nghĩa là từ đây chỉ có những chiến hạm trần trụi đưa mình ra tự lực , sẽ không có phi cơ yễm trợ nếu trường hợp bị địch tấn công . Ông vội ra lệnh cho những vị chỉ huy trưởng của tuần dương hạm và khu trục hạm chia ra thành ba đội hình ở phía Bắc , Nam và Đông để bảo vệ cho những đơn vị hải vận hạm ở trung ương . Mặc cho sự mệt mỏi của quân lính, Turner quyết định tiếp tục công việc chuyển hàng cho đến ban đêm. Ông muốn bằng mọi giá phải chấm dứt công việc trước bình minh hôm sau . Đến 21 giờ, kết quả bốc dỡ dở tệ đến nỗi ông được báo cho biết rằng hơn một nửa quân dụng của Sư đoàn 1 thuỷ quân lục chiến còn nằm trên hải vận hạm và tàu chở hàng . Turner thấy mình bị đặt trước một thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc là bỏ rơi thuỷ quân lục chiến với quân dụng rút xuống còn một nửa, hoặc là phơi bày toàn diện lực lượng đổ bộ cho địch quân phá huỷ hoàn toàn .
Quyết định sẽ có hậu quả lớn lao đến nỗi ông phải cho mời Crutchley và tướng Vandegrift đến chiếc soái hạm McCawley . Crutchley trên chiếc Australia cùng với sáu tuần dương hạm đang tuần tiễu không xa mũi Espérance. Vừa nhận được hiệu lệnh của Turner, ông đến bỏ neo cạnh chiếc McCawley. Hai vị Đô đốc thảo luận tình hình trong khi chờ đợi Vandegrift vì phải cho người mò mẫm trong đêm tối tìm ông ta tại bộ chỉ huy sư đoàn giữa các hàng rào kẽm gai. Họ hoàn toàn đồng ý là khó có thể nào quân Nhật tấn công ngay trong đêm. Căn cứ Rabaul cách xa đến năm trăm sáu mươi lăm hải lý, tức là hai mươi giờ hải hành và các phi cơ không thám chẳng có báo hiệu trông thấy hải lực địch nào trong ngày cả (Ít ra họ cũng tin thế… thật ra từ sáng, một phi cơ thám thính của Úc đã phát giác hạm đội Mikawa ngoài khơi Bougainville nhưng tiếp theo những sơ sót không tha thứ được, tin tức chỉ được đưa đến Melbourne lúc 18 giờ, quá chậm không khai thác gì được nữa). Trái lại, địch có thể đến vào sáng ngày 9, được che chở bởi một lực lượng khu trục hùng mạnh và được oanh tạc cơ tại Bougainviille hộ tống. Nếu không có hậu thuẫn của các mẫu hạm của Fletcher, hy vọng chống lại một lực lượng như thế là vô ích. Giải pháp duy nhất là rút lui toàn diện các hải vận hạm vào bình minh hôm sau
Khi tướng Vandegrift đến, hai vị Đô đốc giải thích chi tiết các lý do bắt buộc họ phải chọn giải pháp bi đát này và hỏi ông ta liệu có thể cầm cự đến khi họ trở lại không . Vandegrift gật đầu bảo rằng được .
Đội hình của hạm đội Mikawa tiến vào lãnh hải Savo với vận tốc 26 hải lý . Soái hạm Chokai dẫn đầu đội hình , theo sau là 4 tuần dương hạm nặng . Kế đến là 2 tuần dương hạm nhẹ , một khu trục hạm đi áp chót . Tất cả đã sẳn sàng trong tư thế chiến đấu , sàn tàu trống rỗng , những vật liệu dễ bắt lửa đều được vứt bỏ hết . Mikawa chỉ e ngại có mỗi lực lượng mẫu hạm của địch . Ông cũng đánh hơi biết được là họ đang lẩn quẩn gần đâu đây .
Không xa lắm nơi vùng biển tối đen phía trước , toàn tuần phòng của đoàn tuần dương hạm dưới quyền chỉ huy mặt Bắc của Crutchley đang cho tàu chạy chầm chầm một cách uể oải nơi vùng biển phía Bắc đảo Savo . Họ đã quá mệt mỏi sau 48 tiếng đồng không ngừng nghỉ từ khi có lệnh báo động . Sau khi bị hai đợt phi cơ Nhật oanh kích thình lình đến giờ thì vùng biển tạm lắng yên , công việc đổ bộ vẫn tiếp diễn . Toán thủy thủ tuần phòng tiếp tục công việc một cách mệt nhọc và buồn tẻ . Biển về đêm mênh mông một màu huyền bí , gió nhẹ sóng đưa , sao giăng nhấp nháy . Một bức tranh u ám chán chường cứ kéo dài ra khiến cho họ cảm thấy chán nản và buồn ngủ khôn tả . Từ thuyền trưởng đến anh binh nhì đều ngủ gà ngủ gật .
Trên chiếc soái hạm dẫn đầu của Mikawa , hình ảnh sừng sững của ngọn núi lửa , tức đảo Savo nhô lên cao ngất khỏi mặt đại dương tạo thành một cái bóng đen to lớn dị thường . Trong phòng chỉ huy mọi người nín thở không ai nói với ai một lời , họ cố giương mắt như cố chọc thủng màng đêm để nhìn cho rõ phía trước mặt họ , vì Hải quân Nhật không như Hải quân Hoa Kỳ , họ không có ra-đa . Bởi vậy với những đôi mắt sáng quắc tinh tường đã trãi qua nhiều tháng ngày tập luyện , họ có thể nhìn rõ sự vật ngay cả trong những đêm tối trời nhất . Có một tiếng ai đó thốt lên ngay trong căn phòng chỉ huy “Tàu của địch xuất hiện 30 độ phía cánh phải” . Đó là chiếc khu trục hạm Blue của Hoa Kỳ , nó cùng khu trục hạm Ralph Talbot đang tuần tra khu vực 6 dặm phía Tây Bắc . Nhưng không hiểu tại sao hệ thống ra đa và sô-na lại không phát giác ra đội hình của Mikawa đang hướng thẳng vào đội hình của họ . Mikawa phát lệnh “Chậm lại 20 hải lý và hướng về phía trái – Chuẩn bị tấn công” . Đội hình âm thầm rẻ sang phía trái , tất cả những hỏa lực từ phía hông hướng thẳng vào phía cái bóng đen của chiếc khu trục hạm Blue chuẩn bị khạc đạn . Nhưng bất thần ngay trong lúc ấy , chiếc Blue thay đổi phương hướng , nó quay lại phía chiếc Ralph Talbot và hai chiếc cùng rút lui về phía Nam . Để lại một vùng biển trống rỗng , nơi mà đội hình của Mikawa đang tiến vào mục tiêu chính . Thế là Hải quân Nhật bắt lấy dịp may tiến thẳng vào trung ương . Những may mắn nối tiếp chính Mikawa dù có nằm mơ cũng không thể thấy được , có lẽ sau thất bại nặng nề ở Midway sự may mắn lại trở lại mĩm cười với Hải quân Nhật lần nữa chăng . Những tưởng đã có đến ba lần bị địch quân phát giác nhưng ba lần đều vô sự . Một là chiếc tiềm thủy đỉnh , hai là 2 chiếc thủy phi cơ thám thính của Úc và ba là chiếc khu trục hạm Blue . Có thể nói phía đồng minh Hoa Kỳ quá chủ quan rằng Nhật không thể nào dám đưa quân để tấn công một hạm đội thật hùng hậu của họ . Các vị Đô đốc và sĩ quan chỉ huy thì không hề có những ý nghĩ nông cạn ấy nhưng chính những kẻ thừa hành thì ngược lại . Một vài ví dụ nêu ra để chứng minh cho chúng ta thấy rằng họ rất lỏng lẻo trong việc tuần phòng . Khi Turner ra lệnh cho toán thủy phi cơ cất cánh thám thính mặt Bắc thì họ đã âm thầm cưỡng lại thượng lệnh không bao giờ cất cánh , và trớ trêu thay Turner cũng chẳng hay biết gì cả . Chiếc khu trục hạm Blue có nhiệm vụ đứng mũi phía Bắc để canh chừng và phát giác địch quân thì lại lơ đễnh đến không ngờ là khi phát giác ra hạm đội của địch đang ào ào tiến vào thì họ lại lầm tưởng là hạm đội của phe ta , vì thế mới rút lui trở về dụm lại với nhau ăn nhậu . Cũng vì những nguyên nhân quá hớ hênh của những kẻ thừa hành đó mà vô tình đã là một cái may không ngờ đem đi tặng không cho Mikawa , thế là một cuộc tấn công bất thần của Nhật đã xảy ra thật giống y như một Trân châu cảng ngày nào .
Chiếc soái hạm dẫn đầu hạm đội Nhật đã tiến sâu vào tận phía Nam của đảo Savo mà vẫn chưa bị phía đồng minh phát giác . Trước những cặp mắt sáng ngời trong đêm của những thủy thủ Nhật , họ xuyên qua cánh phải của một chiếc tuần dương hạm to đùng . Không có gì xảy ra . Một chiếc khu trục hạm khác cũng đang di chuyển chầm chậm , nó là chiếc khu trục hạm Jarvis vừa bị trúng bom lúc ban sáng , bây giờ đang trên đường trở lại căn cứ ở Úc đại lợi để sửa chửa . Sự may mắn vẫn còn bám sát lấy Mikawa vì đã đi sâu vào vùng biển của địch rồi mà chẳng ai phát giác ra sự hiện diện của họ cả . Và ngay lúc ấy trời lại nổi phong ba , mưa như trút nước . Lệnh tấn công bắt đầu . Những trái thủy lôi được phóng ra từ 8 chiến hạm , chúng như đàn cá mang theo hàng ngàn ký thuốc nổ lao đi vun vút tìm mục tiêu . Đây là loại thủy lôi có tầm hoạt động rất xa , có thể lên đến 11 dặm và di chuyển với vận tốc 49 knot . Nhắm hướng hai tuần dương hạm khổng lồ là Canderra và Chicago tiến thẳng đến .
Ngay lúc ấy bỗng từ đâu hai tuần dương hạm to dềnh dàng như hai quả núi tiến chầm chậm lên phía Bắc , với hai khu trục hạm hộ tống hai bên . Lúc ấy là 1 giờ 43 sáng , cuối cùng thì Hải quân Hoa Kỳ trên một trong hai chiếc khu trục hạm đã phát giác ra sự có mặt của một hạm đội lạ bên trong vòng biển trung ương của phe đồng minh . Thế là một cuộc báo động loan ra nhanh chóng trên toàn hạm đội .
Sự báo động muộn màng này coi như không cần thiết nữa . Một cột lửa phụt tỏa bừng lên như một cái dù chói lòa trong đêm tối ngay chiếc tuần dương hạm phía sau những hạm đội đang di chuyển ấy . Đó là trái hỏa châu do một trong 3 chiếc thủy phi cơ Nhật vừa thả xuống để phe ta nhận rõ mục tiêu .
Thủy thủ trên chiếc tuần dương hạm Canberra cũng nhốn nháo sau hồi còi báo động . Trong lúc họ đang chen nhau ùn ùn lao vào vị trí chiến đấu thì đã có hai trái thủy lôi đánh trúng vào phần mũi tàu . Sức công phá của hai quả thủy lôi thật kinh khủng . Nó đánh tung cả phần trước mũi và trên tầng chỉ huy , giết chết vị hạm trưởng và một sĩ quan Hải quân . Chiếc tuần dương hạm khổng lồ chỉ trong giây lát đã nghiêng hẳn về một bên , nước tràn vào dữ dội . Lửa bắt đầu cháy lan từ trong cầu thang ra những phòng cách ly gần đó và càng lúc càng cháy bừng lên kinh khủng . Thủy thủ hãi kinh cố xông vào hầm đạn để quăng bỏ nó trước khi ngọn lửa quái ác kia tấn công tới . Nhưng đã quá trễ , lửa đã liến tới chân họ rồi . Chỉ trong một khoảnh khắc sau , một tiếng nổ long trời bẻ gãy chiếc tuần dương hạm ra làm đôi , nó từ từ chìm dần vào lòng đại dương lạnh giữa đêm đen lạnh lùng . Chiếc khu trục hạm hộ tống nhanh nhẹn vọt ra phía trước truy tầm kẻ địch , trong khi thủy thủ hấp tấp lo chuẩn bị thủy lôi để tấn công , nhưng rồi họ lại bỏ cuộc vì thủy lôi thì có sẳn đầy hầm nhưng ngòi nổ thì hởi ôi , đã quên mang theo nên tìm hoài mà chẳng có!
Hạ xong Canberra , hạm đội Nhật quay sang tấn công tuần dương hạm Chicago . Vị thuyền trưởng tạm trên Chicago là Bode , ông đang ngủ bỗng bị đánh thức bởi lệnh báo động . Khi mới đặt chân lên tới đài chỉ huy thì vừa lúc trái thủy lôi đánh trúng vào phần mũi tàu . Dù bị sức công phá quá khủng khiếp của cú thủy lôi vừa rồi nhưng Chicago vẫn tri trì được , nó quay mình cố truy tìm kẻ đã đánh mình một cú đau điếng . Phát giác lờ mờ nơi phía Tây , một khu trục hạm lẻ loi của địch nên Chicago phóng thẳng đến rượt theo quyết rửa hận cho bằng được . Vô tình hạm trưởng đã thoát ra khỏi vòng chiến và ông đã phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng là với trách nhiệm chỉ huy tạm lực lượng mặt Nam , ông quên không báo động cho toàn lực lượng của mình và lực lượng mặt Bắc biết địch đã xuất hiện và đã tấn công ông .
Trên chiếc soái hạm McCawley , Đô đốc Turner chỉ biết đã có một cuộc đụng độ xảy ra ở vùng biển phía Bắc qua những tiếng nổ vang dội từ xa đưa lại . Mối ưu tư hàng đầu của ông mới là những Thủy quân lục chiến ở trên đảo Guadalcanal và Tulagi cùng sự an nguy những thủy thủ lẻ loi đang có mặt trên những dương vận hạm , những chiếc hạm chuyên chở mong manh đang bỏ neo thành từng đoàn , họ sẽ dễ bị kẻ thù tiêu diệt vì không có ai bảo vệ hộ tống trong lúc sống còn này . Riêng Đô đốc Crutchley thì ông đang có mặt trên soái hạm Australia , quá xa trận chiến nên ông chỉ biết ra lệnh cho bảy khu trục hạm nếu không phải đang giao tranh cùng Hải quân Nhật thì hãy cùng tháp tùng theo chiếc soái hạm của mình mở một cuộc tấn công . Lệnh ban ra nhưng trong lúc lộn xộn thành thử có nhiều hiểu lầm , 4 chiếc khu trục hạm rời khỏi chiến trường khi phát súng của địch quân vừa mới bắt đầu .
Hạm đội Mikawa tung hoành như chỗ không người , trong sáu phút đầu làm mưa làm gió gây biết bao kinh hoàng cho hạm địch trong khi 8 chiến hạm dưới quyền của ông chỉ huy thì vẫn bình an vô sự , tiếp tục vòng quanh đảo Savo để tìm và diệt những mục tiêu kế tiếp . Ba chiếc tuần dương hạm nặng theo sát soái hạm Chokai , nhưng đội hình thứ hai , Furutaka nằm ở khá xa phía sau nên đi chếch theo một hướng khác , 2 chiếc hạm phía sau nó cũng bám theo thành thử hạm đội 8 chiếc của Mikawa bây giờ vô tình đã chia ra làm hai . Sự lạc hướng không tính toán này lại giúp cho Mikawa tạo được một vị trí chiến đấu quá tốt , phía bên ông đang có 4 tuần dương hạm đang di chuyển ngay phía Tây của một hạm đội Hoa Kỳ đang án ngữ mặt Bắc , phần còn lại đang tiến lên về phía bên cánh Đông . Tức là bao vây lấy 5 chiến hạm Hoa Kỳ vào giữa gồm 3 tuần dương hạm và hai khu trục hạm . Và kém may mắn cho 5 chiến hạm này hoạt động dưới quyền chỉ huy của hạm trưởng Bode , người đang trên tuần dương hạm Chicago đã bị một trái thủy lôi đánh trúng và đang đuổi theo một khu trục hạm địch (chẳng biết ông ta có hoa mắt không vì những chiến hạm của Nhật vẫn còn trong đội hình của họ) ra khỏi chiến trường từ lâu . Vì lo mãi mê săn giặc nên hạm trưởng Bode quên khuấy không gửi báo động đến cho 5 chiến hạm này biết để đề phòng .
Lúc này là 1 giờ 48 phút sáng . Những thủy thủ trên tuần dương hạm Astoria của Hoa Kỳ vô tình phát giác nhiều thủy lôi bắn ra từ một chiến hạm đang di chuyển gần đó . Nó chính là soái hạm Chokai . Nhưng may mắn cho họ là những trái thủy lôi này đều đi sai mục tiêu . Thế là tiếng còi báo động hụ vang và những ụ súng bắt đầu khai hỏa . Hạm trưởng là William Greenman đang ngủ ngon thì bị tiếng còi báo động đánh thức . Ông chạy thẳng lên đài chỉ huy và hầm hầm nét mặt , chỉ muốn lôi đầu tên lính dại dột nào dám to gan cho hụ còi báo động inh ỏi phá giấc ngủ của ông . Và đám lính chết tiệt kia sao lại nổ súng , họ muốn làm phản hay sao mà dám nã đạn vào những chiến hạm của phe nhà . Ông quát tháo ra lệnh cho bọn thủy thủ ngưng bắn ngay . Miệng ông vừa há ra để định quát tiếp thì toàn thân như trời trồng đứng nhìn chòng chọc vào chiến hạm Vincennes đang bị trúng thủy lôi bốc cháy dữ dội . Greenman kinh hoàng mồm há hốc , chiếc lưỡi vẫn thè ra lâu lắm vẫn chưa rút vào được . Và khi vị hạm trưởng đầy dũng khí ấy đã lấy lại được bình tỉnh thì lại lấy gân cổ cố hét to nhưng giọng lại run run ra lệnh cho thủy thủ đổi phương hướng rút lui ngay .
Từng loạt từng loạt đạn từ soái hạm Chokai quét thẳng vào tuần dương hạm Astoria . Đạn cày nát hệ thống phát điện trên chiến hạm và tiêu diệt tất cả thủy thủ đang có trên pháo tháp số 2 . Trên sàn tàu , lửa đã bắt đầu cháy lan ra , gió biển càng thổi phồng thêm ngọn lửa khiến chỉ trong phút chốc hình dáng đồ sộ của nó giống như một cây đuốc khổng lồ soi sáng cả một vùng biển bao la . Chiếc tuần dương hạm nặng mang tên Quincy gần đó cũng chịu cùng một số phận . Đạn bắn trúng vào một chiếc phi cơ thám thính đang đậu trên sàn bị bốc cháy , vài phút sau bình xăng phi cơ phát nổ dữ dội . Và trong đêm đen , nó vô tình trở thành một mục tiêu quá rõ ràng cho tất cả hỏa lực của những chiến hạm Nhật đồng loạt quạt vào một chỗ . Kết quả của nó thì khỏi cần phải nói đến .
Nói về vị chỉ huy trưởng lực lượng mặt Bắc là Riekohl , hạm trưởng Vincennes . Đến lúc này ông cũng chưa biết diễn biến của chiến trường đã xảy ra như thế nào . Theo lời của một bản báo cáo từ khu trục hạm Talbot thì có một phi cơ xuất hiện trên vùng trời họ ngay trước lúc nửa đêm . Rồi mọi việc vẫn im lặng thì cứ tưởng đấy là phi cơ bạn , không có gì đáng lo cả nên cũng như những hạm trưởng và thủy thủ khác , đều bỏ đi ngủ .
Lúc nghe tiếng súng nổ thì ông đang thiu thiu giấc nồng lại đoán già đoán non rằng chắc đó chẳng qua là những tàu chiến nhỏ của Nhật lẻn đến mặt Nam quấy phá . Lại nghe hai tiếng nổ phát ra từ phía dưới mặt nước , ông mò ra phía cửa nhìn vào màn đêm thì thấy có nhiều khẩu súng khạc đạn bay lửa đỏ trời . Lại đoán già đoán non một lần nữa là hạm đội của lực lượng phía Nam đang bắn vào những phi cơ địch . Bực tức vì cứ bị những thứ âm thanh chiến tranh của bom đạn rì rầm , ông tức tốc lên đài chỉ huy để theo dõi tình hình . Nhận thấy có 3 chiếc tuần dương hạm của lực lượng phía Bắc đang soi đèn pha chói sáng cả một vùng , lúc này là 1:50 sáng . Ông dùng radio ra lệnh cho họ tắt ngay ánh đèn quái ác chỉ tổ cho địch càng dễ nhận diện mục tiêu (thật sự thì ánh đèn ấy từ hạm đội của Mikawa , họ đang tìm hạm địch để tiêu diệt và Riefkohl lại lầm tưởng là phe ta nên mới ra nông nỗi) . Lúc ấy nhiều loạt đạn không biết từ đâu bay đến tới tấp , hạm trưởng Riefkohl mới giật mình bật ngửa , thì ra địch đã ở sát một bên mà mình chẳng hay biết gì ráo . Tức thì lệnh phản công ban ra , súng chưa kịp nhả đạn thì chiếc phi cơ tuần thám đang nằm trên sàn chiến hạm Vincennes bị trúng đạn bốc cháy . Không bao lâu bình xăng lại nổ tung và lửa cháy lan ra sáng cả một vùng . Cũng giống như tình trạng chiếc Quincy , Vincennes bây giờ đã trở thành một cây đuốc sáng rực , là một mục tiêu nỗi bật để hứng tất cả hỏa lực của hạm đội địch . Hoảng hốt cho nên Riefkohl ra lệnh cho chiến hạm của mình rút lui theo hình chữ chi hầu tránh né hỏa lực kinh người của địch quân . Nhưng đã quá trễ , đã có hai hoặc ba trái đánh trúng mạn tàu , nước tràn vào dữ dội trong khi phía trên phần sán tàu thì đạn bay vào tới tấp phá nát bất cứ thứ gì trên ấy . Chiếc tuần dương hạm bây giờ không còn là một tuần dương hạm đồ sộ uy nghi nữa mà nó đã như một đuốc bị dìm dần vào thau nước , toàn thân của nó giật ngược lên phần mũi chìm dần . Hạm trưởng Riefkohl hoảng kinh ra lệnh rời bỏ chiến hạm . Đèn pha của hạm đội Nhật lại tắt hết từ bao giờ và tiếng súng cũng đã im bặt . Bây giờ là 2:15 sáng .
Lệnh rút lui của Mikawa ban ra cho toàn thể hạm đội . Ở cả hai phía phải và trái cùng sau lưng ông , màu đen bất tận của thế giới về đêm bị chiếm cứ bởi một vừng ánh sáng in đậm trên mặt đại dương loang loáng màu dầu , những xác chiến hạm còn đang cháy dang dở trôi nổi bập bềnh , những tiếng súng lẻ loi từ đâu đó vọng lại và những tiếng kêu la thất thần của những thủy thủ lâm nạn vẫn cứ vang lên khắp nơi tưởng không bao giờ chấm dứt . Mikawa gật gù cho một chiến tích vẻ vang mà chính ông vừa đạt được . Trong một giây say sưa với men chiến thắng , vị Đô đốc háo thắng lại muốn quay trở lại tấn công vào những đoàn hải vận hạm nhưng người ta đã can gián , viện lẻ yếu tố bất thình lình đã giúp cho ông trong nhiều phút đầu làm mưa làm gió và nếu bây giờ quay trở lại , một chiến trường mà địch quân đã có chuẩn bị thì rất nguy hiểm , vã lại ở vùng biển này chắc chắn là đang có mặt của vài hàng không mẫu hạm địch , một lực lượng đáng ngại nhất là những phi đội của họ . Trong khi chiếc soái hạm Chokai cũng bị trúng đạn đến 3 lần , phòng bản đồ bị thiệt hại nặng nề và những chiến hạm bạn cũng tương tự . Mikawa vẫn nhớ mãi lời dặn dò của vị Đô đốc già khả kính là Nagano , ông đã ân cần nhắc đi nhắc lại cho Mikawa trước khi từ giả để đi vào chiến trường miền Nam , Nagano nói “Hải quân Nhật khác với Hải quân của Hoa kỳ . Nếu như mình bị thiệt mất một chiến hạm thì phải mất cả mấy năm mới có thể hoàn thành một chiếc khác để bù đấp vào” . Và Mikawa cũng nhớ lại được những lời tuyên bố đầy tự tin của các vị sĩ quan chỉ huy lộ quân thứ 17 ở căn cứ Rabaul rằng quân Hoa Kỳ chiến đấu rất tồi , họ có thể dễ dàng đánh bại chúng bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu . Thế thì tại sao ta phải mạo hiểm để đánh chìm họ làm gì , cứ để mai này lục quân làm thịt họ có còn hơn không . Mikawa quyết định dứt khoát là lui về căn cứ Rabaul . Mối quan ngại của Mikawa về sự có mặt của hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ và hỏa lực hùng hậu của những phi đội thật ra thì cũng hợp lý , nhưng ông vốn không phải để tâm lo ngại điều ấy bởi lẽ Đô đốc Fletcher đã quyết định quay lưng lại với vùng biển Solomon rồi , và chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa thôi , khi nhận được lời chấp thuận của Ghormley thì ông tức khắc cho rút lui toàn bộ hạm đội đang có mặt ở đây ngay mặc dù vẫn còn một nửa số tiếp liệu quân nhu , đạn dược vũ khí chưa kịp chuyển lên bờ .
Quả thật Mikawa đã ra tay quá nặng , ông đã giáng một đòn chí tử cho Hải quân Hoa Kỳ khiến cho sự thất bại này càng làm cho họ bẽ mặt hơn từ sau sự kiện Trân châu cảng . Chỉ vài phút sau khi Hải quân Nhật lẻn vào được vùng biển mà Hoa Kỳ đang làm chủ thì chiếc tuần dương hạm mang tên Quincy bị đánh chìm , hai mươi lăm phút sau , lại thêm một tuần dương hạm nữa là Vincennes cũng cùng chung số phận . Rồi kế đến là Astoria và Canberra cũng tiếp tục nằm lại dưới đáy đại dương . Tất cả có đến 4 chiếc tuần dương hạm bị đánh chìm và nhiều chiếc khác bị thiệt hại . Thất bại này nguyên nhân có thể đổ lỗi cho phía Hải quân Hoa Kỳ quá chủ quan , coi ra bài học Trân châu cảng cũng chưa làm cho họ mở mắt .
Vào lúc rạng đông khi mặt trời vừa nhô lên ở phía chân trời . Ánh dương quan đỏ thẫm càng làm nổi bật những cảnh tượng thật hãi hùng nơi vùng biển chung quanh đảo Savo , lớp nước loang loáng trên mặt đặc quánh màu dầu . Mảnh vụn từ các xác chiến hạm trôi nổi lềnh bềnh khắp đó đây , những thủy thủ dở sống dở chết bám cứng vào bất cứ thứ gì nổi được trên mặt nước . Họ lạnh cóng lịm đi đi từ lâu , có kẻ còn thoi thóp và cũng có người đã trút hơi thở tự bao giờ nhưng thân xác vẫn còn bám chặc vào vật cứu tinh của mình từ lúc nửa đêm , lúc mà giấc nồng đang ngon rồi những kinh hoàng từ đâu ập đến . Ở đây người ta có thể so sánh nó còn kinh khiếp hơn cả trận thủy chiến hãi hùng ở biển Nam dương độ nào . Hải quân Nhật không bị thiệt hại nhưng ngược lại họ đã xóa tên tất cả bốn chiếc tuần dương hạm nặng tối tân nhất cùng một ngàn không trăm hai mươi ba thủy thủ , số thương vong lên đến 709 người . Mặc dù Mikawa không tấn công đoàn hải vận hạm nhưng ông ta đã để lại sau lưng mình một nỗi kinh hoàng đến cho toàn hạm đội đồng minh , từ chiến hạm đến hải vận hạm , từ đoàn công-voa đến khu trục giải mình . Họ thất kinh nên quyết định rút lui toàn bộ về Noumea để lại chơ vơ với hơn mười ngàn thủy quân lục chiến trên hai hải đảo Guadalcanal và Tulagi với một số ít đạn dược và thực phẩm thì chỉ đủ dùng cho thời gian hơn một tháng mà thôi .
Một trận đánh chớp nhoáng , một thất bại chua cay khiến cho Hải quân Hoa Kỳ quá mất mặt . Khi những sĩ quan cao cấp đến để điều tra và tổng kết lại hậu quả của trận chiến , không một ai bị mang ra phạt vạ . Nhưng hạm trưởng Riefkohl , người chỉ huy lực lượng mặt Bắc và hạm trưởng chiếc tuần dương hạm vừa bị Nhật đánh chìm là Vincennes , ông cố làm ra vẻ như một người quá đau khổ cứ kể tới kể lui , dường như muốn kể công với họ rằng chiến hạm Vincennes đã chu toàn nhiệm vụ là dám đơn thân một mình hiên ngang tiến ra ngăn trở không cho hạm đội Nhật tiến vào phá hủy đoàn hải vận hạm . Những quả đạn trên Vincennes đã không ngừng rót vào hạm đội địch từ lúc cuộc chiến bắt đầu cho đến khi bị chìm hẳn . Bởi vì thế mà hạm trưởng Bode , chỉ huy trưởng lực lượng mặt Nam , người hạm trưởng chiếc tuần dương hạm Chicago bị hai trái thủy lôi đánh trúng và vô tình đã vì săn đuổi hạm địch nên quên không báo động cho phe mình biết là giặc đã đến sát nách . Ông quá hỗ thẹn , vì trách nhiệm không tròn và vì Riefkohl cứ lãi nhãi kể công như để đổ hết mọi tội lỗi về mình , Bode liền rút súng tự sát .
Comments
Post a Comment