Tổng thống Hoa kỳ Roosevelt hân hoan ra mặt . Chỉ trong mấy ngày nay thôi tình hình phe đồng minh có nhiều tiến triển khả quan trên nhiều mặt trận từ Âu sang Á . Cuộc đổ bộ thành công ở Bắc Phi , Tướng Montgomery thắng lớn ở mặt trận Rommel , quân đội Liên sô chiến đấu dũng cảm và đang tổ chức phản công ở Stalingrad . Và bây giờ : đảo Guadalcanal . Ông hùng hồn tuyên bố một cách lạc quan “Sự co cụm của chúng ta đã đến tận điểm cuối cùng và bây giờ đã đến lúc vươn ra . Chiến tranh sẽ chấm dứt và chiến thắng sau cùng đó sẽ thuộc về chúng ta” .
Tại Đông kinh , bộ tổng tham mưu quân đội thì vẫn quyết tâm tái chiếm Guadalcanal cho bằng được mới nghe . Vì lệnh của Thiên Hoàng và vì mặt mủi của quân đội mà họ tự cho mình là bách chiến bách thắng , đâu lẽ nào phải rút lui trong nhục nhã chứ . Họ quyết định gới tới chiến trường này thêm một lộ quân nữa để tăng viện cho lộ quân thứ 16 của Tướng Hyakutake . Song song với chiến dịch tái chiếm phi trường , cánh quân mới còn phải mở rộng khu vực kiểm soát tận đến đảo New Guinea , đó là lộ quân thứ 18 đang trấn giữ Nam dương . Cả hai chiến dịch đều nằm dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Hitoshi Imamura . Một trong những vị Tướng được mọi người kính trọng . Chắc quí vị vẫn còn nhớ trong trận hải chiến trên vùng biển Java giữa Nhật và phe đồng minh . Một trái thủy lôi do Hải quân Nhật phóng ra bay trượt mục tiêu đánh đắm hải vận hạm của phe nhà , trong đó cũng có mặt Tướng Imamura khiến cho ông suýt chết phải ôm bó tre lội bán mạng vào bờ .
Sau khi chiếm được Java , ông đã nhanh chóng tổ chức nền móng cai trị và thành công trên mọi phương diện ở quốc gia này . Cũng giống với Tướng Homma , Tướng Imamura không sắt máu như nhà cầm quyền quân phiệt ở Đông kinh mong muốn , sự khoan dung độ lượng của ông đối với dân chúng ở Nam Dương đã khiến cho Đông kinh điên lên vì bực tức . Có lẽ sẽ có thêm một Homma ở Nam dương , sự nghiệp nhà binh của Tướng Imamura hiện tại coi như đang đứng bên bờ nguy hiểm .
Sau khi chiến thắng ở Nam dương , Imamura bắt tay vào công việc bình định và chiếm đóng . Ông cho thả Achmed Sukarno , một nhà lãnh đạo cách mạng đầy uy tín của Nam dương đã bị quân Nhật bắt khi tiến vào quốc gia này . Ở ngay trong một dinh thự lộng lẫy mà không lâu trước đó là tổng hành dinh của Toàn quyền Hòa Lan . Tướng Imamura gặp nhà cách mạng Sakarno , ở đây ông tuyên bố thẳng thắn “Tôi biết ông không phải là loại người chịu khuất phục mệnh lệnh của chúng tôi . Bởi vậy tôi sẽ không bảo ông phải làm gì cả . Tôi chỉ xin hứa rằng tôi sẽ cố gắng làm tất cả những gì có thể để dân tộc của ông được ấm no hạnh phúc dưới sự bảo vệ của quân đội và chính phủ đại Nhật chúng tôi . Họ sẽ được học tiếng Nhật và làm việc với người Nhật . Chính phủ Nhật sẽ đứng ra bảo vệ dân tộc các ông , nhưng tôi không hứa là sẽ có độc lập cho dân tộc Nam dương” .
Sự rộng lượng khoan hồng của Imamura đối với đại đa số nhân viên cũng như quân sự của chính quyền cũ đã bay đến tai tướng Terauchi , Tổng chỉ huy chiến trường Nam Á đại bản doanh đang đặc tại Sài Gòn . Terauchi bực tức khôn tả vội trình báo về Đông kinh . Tướng Akira Muto và Tominaga thuộc bộ chiến tranh được lệnh bay tận Batavia để điều tra vụ việc . Cũng giống như Tướng Homma ở Phi luật tân ngày nào , Imamura bào chửa cho hành động của mình rằng “Đây đơn thuần là tôi chỉ vâng theo thánh ý của Thiên Hoàng mà làm việc thôi . Các ông cứ tự nhiên đi ra ngoài công chúng mà nhìn xem kết quả những gì tôi đã làm ở đây . Nếu cho rằng đội quân chiếm đóng đã không tổ chức thành công thì các ông cứ việc bãi chức tôi , tôi không một lời phàn nàn” . Kết quả cuộc điều tra chẳng có gì để kết tội Imamura được , ngược lại những thành công đáng ca ngợi ở Nam dương đã khiến cho hai vị tướng của bộ chiến tranh càng đâm ra thán phục tài an bang tế thế của ông . Trong bản báo cáo với thủ tướng Tojo và bộ tổng tham mưu họ khuyên Đông kinh nên cứ để mặc cho Tướng Imamura được tự do hành động trong phạm vi quyền lực của mình .
Bây giờ , theo quyết định mới từ Đông kinh , Tướng Imamura được triệu về thủ đô để nhận nhiệm vụ mới . Hai lộ quân 16 và 18 được phối hợp chung và nằm dưới sự chỉ huy của Tướng Imamura . (lộ quân 18 do chính ông chỉ huy đang đóng ở Nam dương và lộ quân 16 vốn là lộ quân sứt càng gãy gọng của Tướng Hyakutake ở tại đảo Guadalcanal) .
Khi vào Hoàng cung chầu Thiên hoàng để nhận lệnh . Sau khi hành lễ Thiên hoàng xong . Hirohito nhìn thẳng vào tướng Imamura rồi nhỏ nhẹ phán “Imamura . Trẫm nghe tin binh sĩ của chúng ta đang khốn khổ cùng cực ở Guadalcanal nên truyền lệnh cho Trung Tướng hãy đến đó càng sớm càng tốt để cứu lấy những binh sĩ tội nghiệp ấy” . Giọng nói của Nhật Hoàng như nấc nghẹn và Imamura còn trông thấy những giọt nước mắt đang lăn dài xuống đôi má của vị Hoàng đế Đại Nhật .
Ngay tại tổng hành dinh quân đội , Imamura được cho biết là ông và Đô đốc Yamamoto sẽ hiệp lực cùng nhau mở những trận không kích bất tận lên mục tiêu trước khi cho bộ binh đổ bộ . Bắt đầu từ bây giờ Hải và lục quân sẽ cùng chung chiến đấu sát cánh bên nhau trên một mục tiêu duy nhất là quyết tái chiếm cho được phi trường Henderson và đảo Tulagi .
Imamura đến căn cứ Rabaul ngày 22 tháng 11 . Tại đây ông liên lạc với Tướng Hyakutake hiện tại đang ở trên đảo Guadalcanal , báo cho ông ta biết rằng trong vòng một tháng sẽ có 2 sư đoàn đổ bộ lên đảo . Để nắm chắc tình hình hiện tại , Imamura đòi những báo cáo cụ thể hơn và không giấu diếm bất cứ một điều gì đang xảy ra nơi ấy . Tướng Hyakutake cũng mới vừa thiệt mất cả ngàn quân trong một trận càn quét của thủy quân lục chiến ngay bên bờ sông Mataniko , ông đau khổ báo cáo rằng binh lính của mình đang uống nước lã và gậm cả cỏ để cầm hơi gần cả tháng nay . Ông còn nhấn mạnh cứ mỗi ngày trôi qua là có gần trăm người bị chết đói , nếu chờ trong vòng một tháng khi viện binh tới được thì trên đảo chắn hẳn không còn một người lính Nhật nào sống sót .
Tướng Imamura tuy được chính Thiên Hoàng đích thân giao trọng trách tái chiếm Henderson càng sớm càng tốt nhưng hiện tại thì bộ tổng tham mưu của quân đội ở Đông kinh vẫn chưa có một chuẩn bị nào mặc dù đây là một chiến dịch đầy tham vọng do chính họ đã vẽ ra và xúi giục Thiên Hoàng chấp thuận .Trước tình trạng quá thê thảm của binh sĩ ở Guadalcanal , những vị Tướng trong bộ máy chỉ huy chiến dịch tái chiếm còn biết làm gì hơn là gửi những bức điện đến xin chia buồn cùng binh sĩ và kêu gọi lòng dũng cảm chiến đấu đến trời đất còn phải động lòng , vì ý nguyện của Thiên Hoàng vạn tuế mà chúng ta phải chiến đấu và giữ vững niềm tin ở một ngày mai quyết thắng nhất định sẽ không xa .
Bộ tổng tham mưu quân đội dù thế nào cũng phải tiếp tục viện trợ cho chiến trường Guadalcanal và ủng hộ cho chiến dịch của họ cho đến kỳ cùng . Tăng viện quân sự là lẽ dĩ nhiên nhưng vấn đề trọng yếu là sự đòi hỏi cấp bách của nguồn lương thực và tiếp liệu , sự sống còn của đội quân chiến đấu đều tùy thuộc vào nó . Một con số quân sự tăng viện và tiếp liệu lên đến 370 ngàn tấn phải chuyển ngay đến Guadalcanal được giao cho bộ chiến tranh xét duyệt lại trước khi chính thức chấp thuận . Ông bộ trưởng chiến tranh lại tuyên bố rằng để chuyển vận một số lượng tiếp liệu khổng lồ này ắt cần phải trưng dụng rất nhiều thuyền bè , trong hoàn cảnh chiến tranh hiện tại ở khắp nơi thì dù những đoàn công voa của quân đội có nhiều đến đâu cũng không thể cáng đáng hết , thế nên phải tập trung những tàu thuyền hàng hải của tư nhân . Và như vậy nền kinh tế của quốc gia sẽ bị thiệt hại nặng , thiệt hại này còn trầm trọng hơn là bỏ mất Guadalcanal . Bộ tổng tham mưu không đồng ý , họ coi đó là một lối viện giải quá lố bịch . Đã trao trọng trách cho Tướng Imamura tái chiếm Guadalcanal mà chẳng lo chuyển quân đội và tiếp liệu đến thì ông ta có khác gì một người cụt cả hai tay làm sao đánh đấm chứ .
Khi cuộc bàn cãi ở Đông kinh còn kéo dài chưa ngã ngũ thì Hải quân đã nghĩ ra cách tiếp tế lương thực tạm thời cho binh sĩ ở đảo Guadalcanal . Lấy một cái thùng bằng kim loại rỗng , dồn vào trong thuốc men , lương thực và những thứ cần thiết khác và chỉ chừa một khoảng trống cho có không khí để nó nổi được trên mặt nước . Những thùng hàng này được cột dây treo hai bên những khu trục hạm , khi đến vùng cận duyên Guadalcanal tức thì những thủy thủ trên khu trục hạm sẽ cắt dây tung những thùng hàng xuống biển và binh lính trên đảo , sẽ được thông báo cho biết trước họ sẽ chờ đợi ở điểm xuống hàng mà lội ra kéo vào .
Ý kiến này được mang ra thực nghiệm đêm 29 tháng 11 . Đô đốc Tanaka trên soái hạm Naganami dẫn một đội hình khu trục hạm gồm 8 chiếc xuôi Nam theo hành lang Solomon . Sáu chiếc khu trục hạm trong đoàn đeo theo bên mình khoảng 240 thùng chứa hàng tiếp liệu , trong khi hai chiếc còn lại có nhiệm vụ bảo vệ . Chưa đến 11 giờ khuya thì họ đã qua khỏi đảo núi lửa Savo và đang tiến về mũi Tassafaronga . Bây giờ biển lặng gió yên , màu nước biển về đêm lặng lờ đen bóng như tấm gương soi . Sáu chiến khu trục hạm tiếp liệu đã đến đích và họ chuẩn bị cắt dây xô hàng xuống biển thì chiếc khu trục hạm hộ tống phía trước đã phát giác ra hạm đội địch đang tiến đến , họ vội báo cáo với Tanaka . Phó Đô đốc Tanaka vội ra lệnh đình hoãn thả tiếp liệu , dàn thành đội hình chuẩn bị chiến đấu .
Hải đội Hoa kỳ gồm 11 chiếc , năm tuần dương hạm dàn thành đội hình hàng ngang , hai cánh tả hữu là 6 khu trục hạm hộ tống . Hải đội này nằm dưới sự chỉ huy của phó Đô đốc Carleton Wright , ông đang có mặt trên chiếc tuần dương hạm chỉ huy Minneapolis . Mặc dù hệ thống radar đã báo cho biết có sự xuất hiện của địch rất gần vị trị của hạm đội mình nhưng ông còn lưỡng lự chưa vội ra lệnh cho những khu trục hạm xung phong lên tấn công giặc . Mãi đến 10 phút sau , thuyền trưởng chỉ huy là William Cole xin lệnh phóng thủy lôi tấn công nhưng Wright vẫn chưa đồng ý . Đến 11 giờ 20 , Cole cho phóng 10 trái thủy lôi . Đến khi ấy Wright mới hạ lệnh cho hạm đội khai hỏa . Những quả đạn đại bác xé gió lao vun vút trong đêm âm thanh rợn người cứ nhắm thẳng chiếc soái hạm Takanami của Tanaka mà dội xuống . Lửa bắt đầu cháy đỏ rực cả chiếc soái hạm nhưng những thủy thủ quá gan dạ ấy vẫn còn bám mãi với những khẩu đại pháo của họ để chống trả rất mãnh liệt . Nhưng không lâu sau đó nó đã bị nổ tung và chìm dần vào lòng đại dương . Những thủy thủ Hoa kỳ trên chiếc tuần dương hạm Minneapolis vỗ tay nhiệt liệt để tán dương cho chiến công đầu tiên , nhưng nụ cười của họ chưa tắt thì chiếc soái hạm bị trúng liền hai quả thủy lôi . Một trái khác đi trược qua khỏi và phóng thẳng đánh trúng chiếc tuần dương hạm New Orleans , hai chiếc hạm phát nổ cùng một lúc trong một khoảng cách quá gần khiến cho những thủy thủ đang có mặt ngay vùng biển này dù gan lì cách mấy cũng không khỏi rùn mình . Một tiếng nổ dữ dội nữa lại phát ra từ phía bên trái , lại thêm một tuần dương hạm nữa bị thủy lôi đánh trúng . Đó là chiếc Pensacola , phòng máy của nó đang bị nước tràn vào như vỡ bờ . Chiếc tuần dương hạm thứ tư là Northampton nhìn thấy tình trạng quá khủng khiếp nên nó quay mũi tháo chạy mong ra khỏi tầm hoạt động của thủy lôi địch nhưng một khu trục hạm của Nhật dường như đọc được chủ ý , nó liền phóng ra hai trái thủy lôi tấn công ngay . Hai tiếng nổ rềnh trời vang lên lại thấy Northampton nghiêng hẳn về một bên , lửa cháy rực sáng cả một góc trời . Tuy nó là chiếc tuần dương hạm bị thủy lôi đánh trúng sau cùng nhưng nó lại bị chìm trước hơn hết .
Bây giờ thì đoàn khu trục tiếp vận của Tanaka bắt buộc phải rút lui . Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ tung hoành ông đã loại khỏi vòng chiến một lực lượng hùng hậu của địch với một tuần dương hạm bị đánh chìm và 3 chiếc khác hư hại nặng , trong khi chỉ với một thiệt hại không đáng kể là một khu trục hạm không radar bị đánh chìm nhưng mục tiêu chính yếu là việc chuyển vận tiếp liệu cho những binh sĩ đói khát trên đảo thì đành phải gát lại .
Mặc dù vạn phần nguy hiểm nhưng chỉ hai đêm sau , vì quá nóng lòng mang lương thực đến cho những binh sĩ tội nghiệp đang chết dần chết mòn vì đói khát nên Tanaka quyết định trở lại đảo Guadalcanal lần nữa . Lần này với bảy khu trục hạm mang những thùng tiếp liệu , dù phi cơ Hoa kỳ không ngớt mở những cuộc bắn phá dai dẵng nhưng họ vẫn vượt qua được và mang đến cho đoàn quân ốm đói trên đảo gần 1200 thùng lương thực tiếp liệu , trong khi có hơn 300 thùng bị thất lạc vì sóng biển cuốn đi . Nhưng kết quả sơ khởi đáng khuyến khích này cũng làm cho Kanaka phấn khởi , ông tiếp tục thêm một chuyến nữa vào vài ngày sau đó nhưng phía phòng thủ Hoa kỳ quyết liệt cản ngăn , họ cho phi cơ và tàu phóng thủy lôi tấn công gắt quá nên Kanaka đành phải bỏ cuộc .
Tình hình của quân đội Nhật bản đang hiện diện trên đảo càng lúc càng xấu đi . Bây giờ kẻ thù chính của họ chẳng phải là thủy quân lục chiến Hoa Kỳ nữa , mà là đói khát và sốt rét . Hai mối hại này mới là chính lưỡi hái tử thần mà cũng là lý do để cho binh sĩ phải ngã lòng thối chí . Ở đây , chúng ta cứ nhìn về những tháng trước khi Nhật tiến vào bán đảo Batann ở Phi luật tân . Hãy nhìn những binh sĩ Hoa kỳ và Phi họ bị lâm vào tình trạng đói khát và bệnh tật như thế nào thì bây giờ , những thảm cảnh ấy lại trở về phía Nhật bản . Nhưng tình trạng ở Batann , quân phòng thủ bị đói khát vì giặc bao vây tứ phía ta không phải bàn . Còn ở đây , cánh quân tấn công nhưng lại rơi vào hoàn cảnh khốn cùng này . Thử hỏi cấp chỉ huy của họ và thậm chí Thiên Hoàng Hirohito có thật sự đáng trách không ? Và rồi ở tại chiến trường còn có thêm những vị chỉ huy tồi , những nhà quân sự vẽ những chiến thuật tấn công và phòng thủ không giống ai để nướng thêm quân thêm tướng mà thôi .
Kế hoạch chống càng do Đại tá trưởng phòng hành quân dưới trướng Tướng Hyakutake là Konuma vẽ ra đã khiến tiềm năng chiến đấu của cánh quân trên đảo bị phung phí một cách vô ích kể từ hôm trực diện chiến đấu với một cuộc hành quân hỗn hợp giữa bộ binh và thiết giáp của Hoa Kỳ . Sau khi chịu nhìn nhận hỏa lực của địch thật khủng khiếp và hàng ngàn binh sĩ phải chết oan mạng , Konuma mới chấp nhận sự thật là không thể trực diện giao chiến với kẻ thù .Ông vội thay đổi chiến thuật , dùng du kích chiến để gây tổn thất cho địch và bảo tồn lực lượng ốm đói của mình . Theo cách chiến đấu này thì mỗi binh sĩ Nhật phải tự đào cho mình một cái hố cá nhân và lệnh cho họ phải tử thủ ở ngay vị trí của mình . Nhìn những người lính nằm im ôm bụng đói thu mình trong cái hố nhỏ xíu , Konuma hớn hở tuyên bố rằng mỗi cái hố cá nhân là một pháo đài kiên cố mà người Mỹ sẽ không bao giờ chấp nhận theo lối đánh du kích nhằm tiêu hao lực lượng của họ , nhất định họ sẽ chịu thua ngay thôi .
Ông ta cười tươi như hoa nhìn cái kế hoạch tuyệt vời của mình mà tưởng tượng như chiến thắng đang nằm sẳn trong lòng bàn tay . Ông đâu có chịu ngoái nhìn ra ngoài phía bãi biển xa xa đàng kia , nơi những binh sĩ quá kiệt sức vì bệnh sốt rét hoặc chẳng có gì bỏ bụng , họ hoàn toàn mất hết sức lực không còn sức chiến đấu , bỏ cả hố cá nhân cố bò ra ngoài bờ biển nằm chờ chết . Cả một vùng không gian chung quanh họ được bao phủ bằng một mùi hôi thối nồng nặc từ những vết thương đang chảy mũ của các thương binh và nhiều xác chết trương sình lên . Không riêng gì đám ruồi nhặng bu quanh đen đặc mà còn có cả những đàn kênh kênh đói thịt người không biết từ đâu kéo đến chầu chực đầy cả một khu vực .
Ở tại nơi đây người ta cũng đọc được những dòng chữ nguyệch ngoạc chẳng biết của ai đó đã viết trên một tờ giấy và ghim vào một cây súng trường đã gãy làm đôi . Tờ giấy ấy có dòng chữ như sau :
Người nào còn nhấc nổi bàn chân : còn sống được 30 ngày .
Người nào còn ngồi được : còn sống 20 ngày .
Người nào khi tiểu tiện mà không đứng dậy nổi : còn sống 3 ngày .
Người nào hết nói chuyện được : còn sống 2 ngày .
Người nào đôi mắt hết nhấp nháy : chiều nay chết là cái chắc .
Đây thật quả rất đúng với cái địa ngục trần gian mà những binh sĩ Nhật bản tại Guadalcanal đang gồng mình gánh chịu mà thượng cấp họ dù có biết cũng đành bó tay ngồi nhìn . Chớ biết làm gì bây giờ !!
BẮT ĐẦU TỪ MỘT THẤT BẠI
Đại tá Tsuji , tức Đông phương giáo chủ người đã lên tiếng tự nhận mọi tội lỗi , chỉ một lời tự thú “tội đáng muôn thác” của ông về hậu quả của kế hoạch tiến chiếm phi trường Henderson là người ta có thể xí xóa hết mọi trách nhiệm và bây giờ ông đang trên đường trở về Đông kinh với một quyết tâm là phải cứu lấy Guadalcanal cho bằng được .
Tại bộ tổng tham mưu , sau khi báo cáo tường tận tất cả chi tiết ở Guadalcanal , Tsuji cố thuyết phục để xin cho được Trung tá Kumao Imoto thuộc ban tham mưu hành quân cùng ông trở lại chiến trường và thành lập một ban tham mưu mới . Tuy là một Đại tá trong quân đội nhưng tiếng nói của Đông phương giáo chủ rất nặng ký cho nên yêu cầu của ông được bộ tổng tham mưu dễ dàng chấp thuận .
Đầu tháng 12 Trung tá Imoto rời Đông kinh để đến Guadalcanal . Ông ra đi vì quân lệnh khó cưỡng nhưng trong thâm sâu , Imoto không đồng ý với thượng cấp của mình vì theo lối suy diễn riêng của ông thì nên cho quân đội rút bỏ đảo Guadalcanal .
Trên đường , Imoto ghé lại đảo Truk để trình diện với hạm đội liên hợp . Nơi đây ông gặp tham mưu trưởng của Yamamoto là Đô đốc Ugaki . Ugaki vốn là một ông thầy cũ khi Imoto còn ngồi ở nhà trường cao đẳng quân sự . Vì tình nghĩa thầy trò với nhau nên Ugaki không giấu diếm bất cứ điều gì . Vỗ vai người học trò cũ thân yêu , ông dặn dò “Hoàn cảnh ở đó quá hiểm nghèo , với muôn ngàn khó khăn mà chúng ta không biết phải giải quyết ra sao cho đúng . Bây giờ mình chẳng cần biết ai là người bày ra sáng kiến để giải quyết những cái khó khăn đang chất chồng ở đó . Chỉ riêng mình ở đây thôi , mọi việc đều phải tự mình quyết định lấy chớ người ta thì chỉ có cái miệng nói , còn làm thì họ chẳng làm được gì cả” . Câu nói tuy khá mơ hồ nhưng Imoto cũng hiểu rõ được thâm ý của vị Đô đốc Hải quân , ông đã thấy cái viễn ảnh tối đen quá bi quan nơi cái hòn đảo mà Hoa kỳ đã làm chủ hoàn toàn bầu trời và vùng biển , một nơi mà kẻ thù đang ở thế thượng phong và mọi cố gắng của phía Nhật bản đều vô ích . Nói như thế chỉ vì không muốn nói huỵch tẹc ra rằng có mỗi một cách chọn lựa tốt nhất trong lúc này là rút quân ra khỏi Guadalcanal .
Imoto gật đầu nhìn Ugaki bằng đôi mắt biết ơn rồi nói “Thưa thầy , tôi hiểu ý của thầy rồi” . Sau đó ông bay đến Rabaul . Tại tổng hành dinh của Tướng Imamura , Imoto lại nghe người ta to nhỏ với nhau nhiều lời bình phẩm có thái độ chống đối lại chính sách của bộ tổng tham mưu ở Đông kinh . Trong một cuộc họp bàn về việc tổ chức tiến chiếm Guadalcanal , một sĩ quan tham mưu của Imamura chẳng biết kiên dè , ông mạnh dạn thốt lên rằng “Mọi người ở Đông kinh điều điên loạn cả rồi !” Và ông ta đặt ra câu hỏi trong buổi họp “Quí vị cứ thành thật mà suy nghĩ , xem chúng ta có được một cơ hội nhỏ nào để thành công khi mở một cuộc tấn công nữa hay không ?” . Imoto im lặng chú ý lắng nghe , dĩ nhiên trong cương vị của một sĩ quan mới từ Đông kinh đến ông bắt buộc phải ủng hộ một cuộc chiến vô ích do Đông kinh soạn thảo . Ông chỉ nghe nhưng chẳng nêu lên ý kiến gì cả . Cuộc họp bàn hôm ấy đã cho ông thấy tất cả những sĩ quan tham mưu tại mặt trận đều tỏ ra e dè , cái khó khăn nhất của họ là làm thế nào để chuyển quân và lương thực tiếp liệu đến được đảo an toàn .
Tại trung ương , cấp lãnh đạo của quân đội Thiên Hoàng ở Đông kinh , nơi mà bộ chiến tranh và bộ tổng tham mưu đang ngày đêm hội thảo , phát họa vẽ vời mọi kế hoạch cho quân đội . Họ cũng đang bàn luận sôi nổi về việc rút bỏ Guadalcanal . Tướng Kenryo Sato , cố vấn của Thủ tướng Tojo kiêm Tổng nha quân vụ thuộc bộ chiến tranh là người đầu tiên nêu lên ý kiến này . Sự tranh cãi giữa bộ tổng tham mưu và bộ chiến tranh về việc vận chuyển 620 tấn hàng tiếp liệu đã xảy ra kịch liệt trong hàng tháng trời nhưng kết quả vẫn không đi đến đâu . Sato nhìn thấy tình trạng càng lúc càng tồi tệ nên ông khuyên thủ tướng Tojo từ bỏ quyết định tái chiếm Guadalcanal .
Tojo hỏi lại rằng “Ý của ông là triệt quân ra khỏi đảo ư ?”
Sato gật đầu đáp “Chúng ta không còn chọn lựa nào khác thưa Thủ tướng . Ngay cả rút quân trong lúc này cũng đã quá trễ rồi . Và nếu như cứ tiếp tục như thế này , cuối cùng chúng ta cũng không thể nào thẳng được cuộc chiến . Ở đó , ở một nơi mà địch quân đã làm chủ hoàn toàn cả bầu trời và mặt biển thì mọi sự cố gắng của ta coi như không cần thiết , ngược lại tiềm lực quân sự của quốc gia cũng bị hủy hoại một cách vô ích” .
Tojo tỏ vẻ gật gù , ông đồng ý với quan điểm của vị cố vấn lổi lạc của mình nhưng khốn nỗi mệnh lệnh của Thiên Hoàng là phải tái chiếm Guadalcanal , nó đang đè nặng trên hai vai . Hơn nữa , ông cũng lưỡng lự không muốn can thiệp vào thế giới quyền lực của phe nhà binh , một thế giới mà ông tin rằng chính mình , kẻ đại diện nhà nước chính phủ cũng phải bất lực trước sự ngang ngạnh quá trớn của họ . Tojo trầm ngâm nghĩ ngợi một chốc rồi mới lên tiếng “Dù cho chúng ta quyết định tiếp tục tiến chiếm mục tiêu nhưng chúng ta vẫn không thể nào đáp ứng nhu cầu của bộ tổng tham mưu được . Họ đòi hỏi phải cung cấp một số lượng tàu thuyền quá nhiều để vận chuyển số binh sĩ , vũ khí và lương thực lên đến hàng mấy trăm tấn . Giả dụ như chúng ta đồng ý theo nhu cầu của họ thì số lượng thép sản xuất hơn bốn triệu tấn sẽ bị cắt giảm hơn phân nửa , chúng ta tất nhiên sẽ bị đình chỉ mọi hoạt động quân sự trong một thời gian dài vì mức thiệt hại này” . Nói xong Tojo ngồi thừ người ra , vẻ mặt ông trở nên căng thẳng như đang quyết định một điều gì rất quan trọng . Bất giác quay sang Sato ông lên tiếng hỏi nếu cắt giảm con số tàu thuyền vận chuyển thì liệu bộ tổng tham mưu họ có chịu quyết định rút quân hay không . Sato trả lời rằng không chóng thì chầy hoàn cảnh sẽ bắt buộc họ phải chấp nhận thôi . Và ông đưa ra ý kiến cho Tojo là đừng bàn việc rút quân vội mà chỉ giao cho họ một số lượng tàu thuyền vận chuyển tượng trưng thôi . Thủ tướng Tojo gật đầu đồng ý ngay .
Trong một cuộc họp Nội các chính phủ , Thủ tướng Tojo quyết định thông qua một kế hoạch chỉ chấp thuận cung cấp cho quân đội một số lượng tàu thuyền tổng cộng là 290 ngàn tấn với một hứa hẹn là sẽ giải quyết thêm nếu có thể . Quyết định này dẫn đến những cuộc tranh cãi dữ dội giữa bộ chiến tranh và bộ tổng tham mưu . Sato rỉ tai cho Tojo biết là sự suy luận của ông có vẻ đúng , rằng bộ tổng tham mưu họ đang nổi điên lên , dẫn đến sự quyết định đình hoãn vô hạn định chiến dịch tái chiếm Guadalcanal .
Tuy nhiên bộ tổng tham mưu cũng chẳng chịu ngồi yên chịu thua Tojo . Sau đó họ gây áp lực mạnh bắt buộc thủ tướng phải thõa mản yêu cầu . Tojo lại mở một phiên họp đặc biệt trong nội các của mình vào chiều ngày 05 tháng 12 . Trong buổi họp này nội các của ông đồng ý giải quyết cho bộ tổng tham mưu thêm 95 ngàn tấn nữa . Với thêm một chấp thuận gần như con số không này khiến cho người phụ tá của Sato lên tiếng cảnh cáo với ông rằng phải đích thân Sato đi giải thích rõ cho bộ tổng tham mưu biết . Nhưng lúc ấy đã hơn 10 giờ đêm nên Sato bảo rằng sáng sớm mai ông sẽ thân hành đến bộ tổng tham mưu mà giải thích với họ cũng được . Nhưng khi ấy thì tiếng điện thoại lại reo vang và đầu dây bên kia không ai khác hơn là Trung tướng Moritake Tanabe , ông bộ phó bộ tổng tham mưu . Tanabe mời Sato hãy đến ngay văn phòng làm việc tại tư gia của ông ta để giải thích tường tận về quyết định của nội các chính phủ . Và Sato dĩ nhiên là vội vã đi ngay . Khi đến bên cửa của tư gia Tanabe , Sato còn nghe nhiều tiếng nói thật to , thanh âm dường như là đang giận dữ vọng ra . Sato biết ngay đó là giọng nói ồm ồm của Trung Tướng Tanaka , chỉ huy trưởng trung tâm hành quân thuộc bộ tổng tham mưu . Tanaka là một vị Tướng nỗi tiếng vì tánh khí hung hãn và bốc đồng nhất của quân đội . Khi bước vào bên trong nhà Sato nhìn thấy có đến bảy hoặc tám người đang ngồi đó , họ đều là những nhân vật tai to mặt bự của bộ tổng tham mưu .
“Thằng khốn kiếp !” Một tiếng nạt lớn vang lên từ phía trong khiến cho Sato giật mình khi mới vừa đặt chân vào nhà . Nhưng sau đó Sato biết ra đó là tiếng quát của Tanaka . Ông ta đang trợn đôi mắt nổ hung quang nhìn Sato với khuôn mặt đằng đằng sát khí . Chỉ nhìn thoáng qua Sato đã biết ông ta đang say rượu . Nhận thấy tình hình bất ổn nên Sato quay lưng định bước ra cửa bỏ về . Nhưng khi ông vừa quay lui đến bên cánh cửa thì Tướng Tanaka rút kiếm ra định xông tới , vài người chung quanh đưa tay ngăn cản nhưng ông ta xô mọi người ra và tiến nhanh tới phóng ra một cú đấm trời giáng vào mặt Sato . Lúc này mọi người trong phòng đồng loạt nhào tới ôm cứng lấy Tanaka để giải thoát cho Sato . Sato ôm mặt lầm lủi bước về . Nhục lắm nhưng đành phải nhịn , có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời ông bị người ta đánh vào mặt mà lại chịu nhục lặng lẻ bỏ đi .
Sato đi rồi nhưng trong lòng Tanaka vẫn còn hậm hực chưa nguôi , ông ta quyết đi gặp Thủ tướng Tojo để nói thẳng vấn đề . Bây giờ đã hơn nửa đêm , nhưng Tanaka cứ nằng nặc đòi xông ngay tới dinh thự của Tojo . Mọi người hết sức khuyên can , bảo ông chuyện đâu còn có đó hãy đợi sáng ngày mai hãy tính .
Sáng hôm sau , những hừng hực của đêm rồi vẫn còn cháy đỏ trong lòng Tanaka , và lần này ông trút cơn thịnh nộ của mình xuống đầu Tướng Teiichi Suzuki , một sĩ quan trong ban kế hoạch của nội các chính phủ . Sự nóng nãy và những hành động quá nông nổi của Tanaka càng khiến cho Thủ tướng Tojo có quyết tâm cứng rắn thêm , ông bảo với Sato thông báo với bộ tổng tham mưu rằng đó là những chấp thuận đã quyết định , chỉ có thể như thế thôi . Nếu như họ không bằng lòng thì nội các cũng không làm gì hơn được . Lối giải quyết này đã tỏ rõ cho bộ tổng tham mưu thấy được ý định của Tojo đối với chiến trường Guadalcanal rồi . Họ vội mở ngay một phiên họp đặc biệt và quyết định , dù không được mời nhưng cùng nhau kéo đến tư dinh của Thủ tướng để mặt đối mặt với ông ta mà bàn thẳng vấn đề .
Ngay tại tiền sảnh của ngôi vi-la song lập , dinh thự của Tojo , ông tổng tham mưu trưởng quân đội Sugiyama kéo Đại tá Tanemura sang một góc vắng rồi rỉ tai ông “Nếu như có chuyện rầy rà cãi vả nữa thì ông kéo ổng ra ngoài nghen” . Tiếng ổng mà Sugiyama ám chỉ đây là ông Tướng có tính nóng như Trương Phi Kanaka . Ông ta được nhân viên phủ thủ tướng đưa vào một gian phòng thiết trí theo kiễu Nhật bản (vì văn phòng của Thủ tướng Nhật được thiết kế đặc biệt có hai nơi làm việc , một bên dùng tiếp khách nước ngoài nên được bày trí theo lối Âu Tây , phía dùng để ở và tiếp khách trong nước thì đơn thuần chỉ nền ván , vách bằng giấy và cửa kéo theo kiễu Nhật) . Nơi đây đã có sẳn Sato và hai người khác đang ngồi sẳn dưới sàn nhà . Sato và Tanaka bốn mắt rực lửa nhìn nhau không nói lời nào , họ hầm hầm nhìn nhau im lặng như chỉ chực ăn tươi nuốt sống nhau khi có dịp . Không khí trong gian phòng trở nên căng thẳng cực độ , cuối cùng thì Thủ tướng Tojo cũng xuất hiện . Với dáng vẻ trầm tỉnh trong bộ kimono truyền thống , ông tiến đến ngồi xuống trên tấm tatami (tatami là tấm thảm nhỏ trải dưới sàn để ngồi của người Nhật) . Tướng Tanaka bắt đầu lên tiếng yêu cầu Tojo cứu xét lại . Giọng của ông nhỏ nhẹ gần như là một lời thiết tha năn nỉ nhưng Tojo vẫn cứng rắn , ông từ chối không chịu giải quyết thêm bất cứ đòi hỏi nào nữa . Nửa tiếng đồng hồ sau , giọng nói của Tanaka trở nên to hơn và dĩ nhiên là họ đi đến cãi vả ồn ào . Tanaka bây giờ như đã mất hết tự chủ , ông trở về với cái tính khí ngang ngược hung tợn cố hữu của mình . Ông hét lớn vào mặt Tojo ngay trước mắt mọi người “Nếu cứ tiếp tục như thế thì chúng ta sẽ là những người bại trận . Ông sẽ làm gì với cuộc chiến này hử đồ thằng ngốc chết tiệt !” .
Tojo quắc mắt “Hãy im mồm ngay ! Ở đây chúng ta không có những thứ ngôn ngữ như thế” .
Không khí trong căn phòng trở nên nặng nề và ngột ngạt vô cùng . Vừa lúc ấy thì Đại tá Tanemura từ ngoài tiền sảnh bước vào , ông nắm lấy tay của Tướng Tanaka vừa kéo ra ngoài vừa nói nhỏ “Xin lỗi .Tôi chỉ tuân thủ theo lệnh của chỉ huy trưởng” .
Hậu quả sự mất bình tỉnh của đêm ấy ,Tướng Tanaka bị kết tội lăng nhục thượng cấp và bị sa thải khỏi chức vụ ngay sau đó . Nhưng đây là những trường hợp khá phổ biến ở Nhật bản , cũng nhờ vào hành động lỗ mãng của Tanaka mà phía quân đội tạm thời được thỏa mãn đôi chút . Chiều hôm ấy Thủ tướng Tojo tỏ ra nhượng bộ và tăng thêm được một phần nào số lượng tàu thuyền theo sự đòi hỏi của bộ tổng tham mưu quân đội .
……………………………………………
Khoảng 600 dặm cách phi trường Henderson về phía Tây , nơi mũi cận Đông của một hòn đảo lớn đứng vào hàng thứ nhì trên thế giới , đảo New Guinea (lớn thứ nhất thế giới là đảo Greenland thuộc Đại tây dương) . Trước kia là một tiền trạm tạm của quân Nhật khi dự định đồn quân tấn công Úc đại lợi nhưng bây giờ nó đã thay ngôi đổi chủ . Đồng minh Úc và Mỹ chọn nơi đây xây dựng căn cứ với mục đích tiến chiếm đảo New Britain và hải cảng Rabaul , nơi mà từ lâu Nhật bản đã thành lập một căn cứ hùng mạnh nhất ở Nam Thái bình dương .
Ba mươi ngàn binh sĩ vừa Úc vừa Mỹ nằm dưới sự chỉ huy của Trung Tướng Robert Eichelberger đã vừa đánh vừa di chuyển từ Port Moresby , một hải cảng phía Nam đến làng Buna , một mục tiêu nằm về phía Bắc của mũi đất . Đó là một mũi đất cận Đông của New Guinea , nó như môt ngón tay chỉ thẳng sang đảo Guadalcanal .
Mac Arthur ra một cái lệnh chắc nịch cho Tướng Eichelberger “Bob , tôi muốn Trung Tướng chiếm cho được Buna . Nếu không thì ông và cả ban tham mưu của ông đừng mong trở về đây nữa” .
Và đó là một chiến thắng mà họ phải trả với một cái giá quá đắt của nhiều sinh mạng binh sĩ . Họ bị bắt buộc phải vượt qua cho được dãy núi Owen Stanley để đến mục tiêu trong một hoàn cảnh hết sức nguy hiểm , vừa chiến đấu vừa trèo đèo luội suối , tình trạng cùng cực hiểm nghèo cũng giống như những binh sĩ đang chiến đấu tại hòn đảo địa ngục Guadalcanal .
Dẫu rằng Buna đã lọt vào tay quân Đồng minh nhưng nhiều thử thách vẫn còn chờ đợi họ . Sự kiên cường quyết liệt cố bám lấy chiến tuyến của quân Nhật khiến cho quân Đồng minh lúng túng hết sức , mỗi thước đất mà họ chiếm được từ trong tay quân Nhật phải trả bằng một cái giá rất đắt .
Lúc này tại Tổng hành dinh Thiên Hoàng , người ta vẫn chú mục vào một mặt trận duy nhất là đảo Guadalcanal , nơi mà mọi diễn biến càng lúc càng xấu đi dù rằng tình huống của nó đã quá thê thảm từ bao tháng dài . Nạn nhân chính dĩ nhiên là những binh sĩ ốm đói Nhật bản đang gồng mình gánh chịu . Những thùng tiếp liệu do khu trục hạm lén thả xuống bờ biển dù chỉ để cầm hơi nhưng cũng không thể nào thực hiện được nữa . Bây giờ người ta mới trưng dụng luôn cả tiềm thủy đỉnh , phi cơ thả dù và bất cứ phương tiện nào có thể gọi là khả dĩ , nhưng đói vẫn hoàn đói và người lính ở đó họ không còn sức chiến đấu , dĩ nhiên là tinh thần họ cũng chẳng còn nữa .
Hải quân thì cũng đã rút chân ra khỏi vùng biển nghiệt ngã ấy từ ngày hai chiếc thiết giáp hạm bị xóa sổ . Hoa kỳ đã khoanh sẳn khu vực và tỏ rõ cho Yamamoto biết đây là một vùng biển mà hạm đội Nhật không thể bén mảng tới và dù có đến thì họ cũng chẳng có xác để quay về . Tuy nhiên ở Đông kinh thì phía Lục quân , đứng giữa công chúng thì họ vẫn ba hoa tuyên bố như đinh đóng cột là quân đội Thiên Hoàng đã và đang làm chủ chiến trường , nhưng bên trong nội bộ thì lại âm thầm bàn bạc với nhau làm cách nào để rút quân trên đảo Guadalcanal mà không khỏi bị mất mặt . Trớ trêu ở chỗ là đối với vị Thiên Hoàng khả kính của họ thì họ lại long trọng tuyên hứa là bằng mọi nỗ lực quyết phải tái chiếm Guadalcanal cho bằng được .
Ngày 23 tháng 12 , một báo cáo khẩn được đánh đi từ Tướng Hyakutake bằng vô tuyến điện . Bản cáo cáo ông cho biết là tình trạng đã quá sức chịu đựng . Ông xin được dùng tàn lực đánh một trận cuối cùng , thà chết vì bom đạn của kẻ thù mà còn anh hùng hơn là nằm co bị đói khát mà chết , nó nhục nhã lắm mà cũng ươn hèn lắm .
Hải và Lục quân vội mở ngay một phiên họp khẩn trong nội điện nhằm tìm cách giải quyết những khó khăn ở đó . Đó là một ngày mây mù tuyết phủ , gió lạnh căm căm , ngày 25 tháng 12 , ngày Noel năm 1942 .
Trong buổi họp này họ không nhắc đến việc phải dùng đến phương tiện nào để cuộc triệt thoái không quá nguy hiểm . Họ chỉ ngồi lại với nhau bàn bạc tìm cách nâng cao hùng khí chiến đấu của cánh quân ốm đói cầm súng không nổi . Đại diện Hải quân hiện diện ở buổi họp gồm có Ito , cố vấn của Nagumo , Đô đốc Fukudome tham mưu trưởng Hải quân và hạm trưởng Tomioka . Đại diện phía Lục quân gồm có tổng tham mưu trưởng Sugiyama và Đại tá Tsuji . Tsuji , người vừa trở về từ chiến trường và dĩ nhiên ông sẽ đại diện để nói lên tiếng nói của cả cánh quân còn kẹt tại đảo Guadalcanal .
Phía Hải quân , Đô đốc Fukudome muốn đưa ra ý kiến triệt thoái nhưng ông còn ngập ngừng chưa dám lên tiếng . Riêng Đông phương giáo chủ vốn là kẻ hợm đời không biết kiêng nễ một ai hễ bực là chữi thẳng không ngại . Nghe họ bàn bạc những điều chướng tai ông không chịu nổi , tánh khí quật cường khiến cho ông đứng phắt dậy to tiếng phản đối . Chính ông mới là người am hiểu hoàn cảnh chiến đấu ở Guadalcanal hơn ai hết trong phòng họp , tiếng nói của ông là tiếng nói chung cho cả một đoàn quân khốn khổ đang chống chọi với tử thần nơi chiến địa . Ông quắc mắc nhìn khắp mọi người rồi nói “Quí vị ở đây đều luận việc rất hay , mỗ xẻ tình hình rất chính xác nhưng lại không thực tế chút nào . Tốt nhất là quí vị nên từ chức hết đi ! Tôi là người từng vào sinh ra tử nơi đó . Những vị chỉ huy hải quân và lục quân ở mặt trận mà tôi đã gặp qua hết thảy đều bảo với tôi rằng “Những kẻ tai to mặt bự ở trong cái khách sạn Đông kinh và khách sạn Đại hòa (tức chiếc thiết giáp hạm Yamato , chiếc soái hạm của Yamamoto , chỉ huy trưởng hạm đội liên hợp- lời nói này Tsuji ám chỉ bộ chỉ huy Lục quân và Hải quân) nên đến tận nơi để chứng kiến cái cảnh tồi tệ mà chúng ta đang đối diện thì may ra họ mới chịu hiểu cho” .
Lời nói quá thẳng thắn của Tsuji như ngấm ngầm muốn nói với mọi người rằng triệt thoái là phương thức duy nhất để cứu vãn tình hình tồi tệ . Đó là một ý kiến đúng đắn nhất Đô đốc Tomioka rất tán thành nhưng trong câu nói quá đụng chạm , có khác nào gáo nước lạnh tạt vào mặt những nhà lãnh đạo tại Đông Kinh . Tomioka không khỏi không phát cáu , ông nạt “Đại tá nói như vậy là có ngụ ý gì ? Những vị chỉ huy nào đã than phiền với Đại tá như thế thì họ chỉ là một bọn vá áo túi cơm tham sống sợ chết cả” . Tsuji chẳng những không tỏ vẻ e dè chút nào , ngược lại ông lớn tiếng hỏi “Xin hỏi Ngài , vậy Ngài có bao giờ vai mang ba lô tay ôm súng ra tuyến đầu đối diện với quân giặc chưa ? Và Ngài có biết những gì đang xảy ra nơi đó trong lúc này hay không ?” Hạm trưởng Tomioka vốn tánh khí cũng chẳng vừa , ông xốc tới xừng xộ định ra oai với Tusji nhưng ngay lúc đó Đô đốc Fukudome khoát tay can gián và nói “Tôi thành thật xin lỗi . Tsuji , những gì Đại tá nói đều là sự thật” .
Tuy những cuộc tranh cãi dữ dội vẫn diễn ra liên tục nhưng Tư lệnh Hải quân Nagano vẫn quyết định đưa quân tăng viện . Họ cố ý làm rầm rộ một vấn đề mà ai ai cũng quá rõ bằng cách cho chuyển ngay một phần tư quân số của lộ quân 18 và một số tiếp liệu . Phía lục quân bây giờ lại đau đầu tự hỏi phải làm cách nào để chiến thắng khi binh sĩ chẳng có đủ đạn dược và thực phẩm . Họ tìm đến phe Hải quân và nêu lên câu hỏi “Mấy ông đổ quân lên đảo mà chẳng có đạn dược và lương thực rồi bỏ họ ở đó giống như bỏ con giữa biển rồi rút thuyền thì họ làm sao mà chiến đấu đây ?” . Và cuối cùng thì Hải quân cũng chẳng biết nên phải giải quyết ra sao . Bàn cãi vẫn hoàn bàn cãi và binh sĩ ở đảo Guadalcanal vẫn phải nhịn đói mà chết đều đều .
Cho đến hôm 29 tháng 12 , Đại tá Joichiro Sanada từ căn cứ Rabaul trở về , sau khi đi gặp nhiều sĩ quan chỉ huy cả hai phía Hải và Lục quân để phỏng vấn . Bản báo cáo của ông được sự ủng hộ của đại đa số sĩ quan kể cả Imoto và Imamura sĩ quan phòng kế hoạch hành quân là “Cần phải rút toàn bộ lực lượng quân sự đang có mặt ở đảo Guadalcanal càng sớm càng tốt . Muốn tái chiếm lại hòn đảo này cần phải có một phép mầu nào đó mới có thể” .
Thế là cuộc bàn cãi sôi nổi giữa hai phe Hải và Lục quân được lắng dịu . Tham mưu trưởng Lục quân Sugiyama cảm thấy như trút được gánh nặng và Nagumo cũng thế , ông chấp thuận giải quyết theo ý kiến của đại đa số sĩ quan tại mặt trận , lộ quân 17 của Tướng Hyakutake sẽ được các khu trục hạm đến bốc về , nếu có thể chậm lắm cũng là cuối tháng giêng phải hoàn tất .
Hai vị tham mưu trưởng Hải Lục quân mang vấn đề trình tấu lên Thiên Hoàng trong buổi thiết triều trong một ngày cuối cùng của một năm . Họ chính thức đề nghị rút bỏ hai chiến trường là Guadalcanal và Buna ở New Guinea . Thiên Hoàng đờ người giây lâu rồi mới gạn hỏi nguyên do vì sao lại rút bỏ trong khi quân đội của ta là một đội quân bách chiến bách thắng . Nagumo và Sugiyama bất đắc dĩ mới trình tấu cho ông biết sự lợi hại của Hải và Không quân Hoa Kỳ . Hirohito đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác , ông không ngờ những gì đang xảy ra ngoài kia đều vượt cả sức tưởng tượng của mình . Sau bao nhiêu chiến thắng oanh liệt dồn dập gửi về : Tân gia ba , Phi Luật tân , Nam dương và gần nhất là trận Midway , khiến cho vị Thiên Hoàng suốt ngày giam mình trong bốn bức tường Hoàng cung kín đáo , chỉ được nghe những báo cáo đầy tưởng tượng của nhóm tướng lãnh ở Đông kinh khiến cho ông càng vững tâm , tưởng rằng chỉ cần đưa tay ra là gồm thâu cả Á châu vào vòng quyền lực của mình . Bây giờ ông lại hụt hẫng khi biết ra rằng thực lực của quân đội Hoa Kỳ không hề yếu kém , ngược lại họ còn hùng hậu hơn nhiều so với quân đội Đại Nhật của ông . Hirohito nhìn Đô đốc Nagumo với ánh mắt ngờ vực như chưa tin hẳn những gì họ đã trình tấu . Ông lại hỏi “Tại sao người Mỹ họ chỉ mất có đôi ba ngày mà đã hoàn tất xây dựng một phi trường quân sự trong khi chúng ta phải mất cả tháng mới xong ? Chẳng lẽ họ có khả năng cải tiến như thế ư ?” Nagumo ấp úng mãi mới nói thành lời “Muôn tâu , quả đúng là như vậy” . Ông lại giấu diếm không muốn cho Thiên Hoàng biết rõ là người Mỹ , khi muốn xây dựng một công trình đồ sộ nào đó thì họ chỉ sử dụng toàn là máy móc cơ giới , trong khi phía quân đội Nhật bản chỉ đơn thuần là đôi cánh tray trần trụi với dụng cụ thô sơ và lòng kiên trì vô bờ bến .
Sau hai tiếng đồng hồ với biết bao nhiêu nghi vấn mà Thiên Hoàng đặt ra nhằm để thăm dò những sự thật mà ông biết đám Tướng lãnh kề cận mình đã cố tình giấu diếm bấy lâu . Trước mặt vị Thiên Hoàng hay thắc mắc từng chút một , Nagumo và Sugiyama hết sức lo lắng cố tìm cách trả lời quanh co chỉ mong làm sao cho vừa ý Ngài và được việc của mình , nghĩa là chuẩn tấu cho việc rút bỏ Guadalcanal . Cuối cùng rồi thì Hirohito cũng lên tiếng , ông phán “Được rồi ! Như những gì hai người vừa trình bày , ta hoàn toàn tin tưởng vào sự quyết định khôn khéo Hải và Lục quân các người” Ông chấp thuận phê chuẩn cho việc triệt thoái ở hai mặt trận Guadalcanal và Buna .
……………………………………….
Cũng cùng một đêm cuối cùng của một năm ấy , tại soái hạm Đại hòa , Đô đốc Ugaki ngồi viết vào trang nhật ký cuối cùng của năm 1942 . Những dòng nhật ký của ông có đoạn như sau “Khi cuộc chiến mới mở màng nó kéo theo một chuỗi chiến thắng oanh liệt . Nhưng từ sau thất bại ở Midway . Cánh tay của kẻ thù từ Hạ uy di cứ vươn dài ra và những hòn đảo chiến lược của chúng ta như Fiji , Samoa , New Caledonia lần lượt rơi vào tay họ . Cộng thêm hai thất bại gần đây nhất là ở Port Moresby và đảo Guadalcanal . Tất cả như một cơn ác mộng hãi hùng chợt đến chợt đi , nó gieo cho tôi một nỗi xúc động đến bàng hoàng . Nhìn lại những diễn biến của cuộc chiến , nó đã xảy ra không phải như sự mong muốn của chúng ta . Đó là một điều tủi nhục mà tôi không thể nào nguôi ngoai được . Cần phải đề cao về những cái chết hào hùng một số lớn sĩ quan và binh sĩ đã vùng vẫy trong tuyệt vọng . Tôi trân trọng tri ân và thành thật chia buồn cùng những gia đình của các chiến sĩ vô danh đã anh dũng chiến đấu và hy sinh một cách hào hùng ngoài mặt trận” .
Mặc dù bị bại trận nhưng Nhật Bản đã để lại cho những người chiến thắng ở hai chiến trường Guadalcanal và New Guinea một ấn tượng không thể nào phai nhạt được . Trung Tướng George C.Kenney , chỉ huy trưởng không quân đồng minh vùng Tây Nam Thái bình dương báo cáo về Tướng Arnord , tư lệnh không quân Hoa Kỳ , rằng tại Hoa thịnh đốn , bao gồm cả bộ chiến tranh , tất cả đều không có một nhận thức rõ ràng nào về những trở ngại ở vùng Tây Nam Thái bình dương .
“…Họ vẫn đánh giá quá thấp về quân đội Nhật Bản . Ở đây sẽ không có một ai nêu lên câu hỏi là chúng ta có thể đánh bại họ hay không . Nhưng thời gian và nỗ lực cùng xương máu chiến sĩ , ngân sách quốc gia tất cả đã và đang đổ vào cuộc chiến , nó đòi hỏi cần phải có một sự cân xứng nào đó bằng một khái niệm rõ rệt . Hãy nhìn về chiến trường Buna . Binh sĩ Nhật vẫn cứ bám víu vào một vị trí vô vọng mà họ đã chiến đấu ròng rã đến hai tháng trời . Họ nằm dưới đủ loại hỏa lực của chúng ta tập trung vào và họ lại chẳng có bất cứ một phi cơ hoặc chiến hạm nào yễm trợ cả , vậy mà họ vẫn chiến đấu một cách đáng sợ …..”
Chiều ngày 13 tháng 01 năm 1943 . Mười khu trục hạm mang theo một ngàn binh sĩ cùng hàng tiếp liệu rời bến Shortland . Trên một trong mười khu trục hạm đó có sự hiện diện của Đại tá Imoto . Ông tình nguyện phụ giúp những sĩ quan tham mưu của Imumura cùng vài sĩ quan Hải quân vẽ kế hoạch triệt thoái vội vàng cho cánh quân đang còn kẹt tại đảo Guadalcanal . Chiến dịch mang tên KE . Sự phân bố công tác hiện thời của ông là chuyển bản mật lệnh đến Tướng Hyakutake , cắt đặt cho ông ta những công việc cần phải làm ngay tại đảo .
Khi vừa đặt chân lên tới đảo , ngay tại mũi Esperance ông đã nhìn thấy nhiều xác chết của binh sĩ Nhật nằm rải rác ngay tại bờ biển . Và con đường mòn từ bờ biển dẫn đến tổng hành dinh của lộ quân 17 cũng là một con đường trãi đầy xác chết . Cũ có và mới cũng có , mùi hôi thối từ những tử thi bốc lên nồng nặc cả một khu vực khiến cho Imoto dù kinh hoàng nhưng cũng phải bùi ngùi đau xót cho một cảnh tượng hết sức đau lòng . Đến nửa khuya thì ông đến được khu vực bản doanh dã chiến của Tướng Hyakutake , đó là một vị trí cách mũi Tassafaronga không bao xa . Imoto phải mò mẫm dưới trời giông mưa tầm tả , và cuối cùng thì cũng tìm được Đại tá Haruo Konuma cùng vài ba sĩ quan tham mưu khác trong một căn liều dột nát . Họ tất cả đang ngủ trong mùng và chiếc giường tạm được lót bằng những tàu dừa . Bên ngoài chiếc mùng rách nát , Thiếu tá Mitsuo Suginoo đang dùng ngọn đèn sáp để đốt trụi từng cọng râu tua tủa dưới cằm , đó là một cách cạo râu rất phổ biến của những sĩ quan và binh lính tại đảo . Suginoo và Imoto vốn từng phục vụ chung trong một thời khá dài cùng một trung đoàn nên họ đều coi nhau như bè bạn thân thiết . Tuy đang nằm trong tình trạng cùng cực nhưng Suginoo tỏ ra hân hoan hết sức , ông tươi cười bắt tay người bạn cố tri . Sau những câu thăm hỏi xả giao thông thường , Suginoo đưa mắt trầm buồn nhìn ngọn đèn lung linh rồi cất giọng , nửa chua chát nửa pha trò “Tôi đang chuẩn bị cho cái chết ngày mai ông ạ” . Imoto gật gù “Ông quả là một con người khí khái , thật đáng để cho tôi kính phục” .
Không bao lâu sau đó Konuma đưa Imoto đến một căn liều khác gần đó để gặp Trung Tướng Shuichi Miyazaki , người vừa lên thay Futami trong chức vụ tham mưu trưởng lộ quân 17 . Ở đây , Imoto mới rỉ tai Tướng Miyazaki rằng “Tôi mang khẩu lệnh đến cho Tướng Imamura là toàn bộ lộ quân 17 chuẩn bị triệt thoái khỏi Guadalcanal” . Kunuma , người đã từng ra lệnh cho binh sĩ tử chiến ngay trong hố cá nhân của mình , vừa nghe qua kinh ngạc hỏi ngay “Làm sao chúng ta bỏ cho được nơi đây , một nơi mà chúng ta đã đổ xuống quá nhiều xương máu” . Miyazaki cũng cảm thấy quá sĩ nhục , tự ái ông bị tổn thương trầm trọng khi thình lình lại nghe một cái lệnh triệt thoái nhục nhã . Ông lắc đầu và nói “Ở trong một hoàn cảnh như vầy mà người ta ra một cái lệnh khó tưởng tượng đến nổi dù nằm mơ cũng không thể nào thấy được . Chúng tôi không có ý cưỡng lại quân lệnh nhưng thật sự thì chúng tôi không thể tuân hành được . Chúng tôi phải chiến đấu để được chết một cách vinh dự . Để cho mọi người thấy rằng quân đội Thiên Hoàng không phải là những kẻ tham sinh húy tử” . Imoto uốn cong ba tất lưỡi cố gắng thuyết phục nhưng vẫn không làm sao xiêu lòng hai vị sĩ quan quá cố chấp này . Ông e ngại việc triệt thoái nếu không có sự hỗ trợ của họ sẽ trở thành khả thi mất . Những binh sĩ trấn giữ ngay tuyến đầu đang bị kẻ thù ngày đêm quấy rối , nếu toán tiền quân này được các sĩ quan hợp sức tìm cách chuyển họ đến bến bốc thì cuộc triệt thoái sẽ thành công ngay . Imoto vừa lên tiếng đề cập đến vấn đề này thì một trong hai sĩ quan cố chấp ấy lại gạt phăng đi “Đó là một việc không thể nào làm được . Các ông hãy để mặc xác chúng tôi ở đây đi” .
Imoto đem những khó khăn này thuật lại cho Tướng Imamura nghe , ông liền đến tận căn liều và bảo thẳng với những vị sĩ quan tham mưu quá cố chấp “Các anh không nhận ra đây là mệnh lệnh đến từ Tổng tư lệnh tối cao quân đội và dĩ nhiên là họ được lệnh từ Thiên Hoàng . Các anh là quân nhân nên các anh không có quyền kháng lệnh” .
Lúc tờ mờ sáng Imoto được đưa tới liều của Tướng Hyakutake . Căn liều của vị chỉ huy trưởng lộ quân 17 nằm gọn trong bọng một cây cỗ thụ . Ông ta đang quấn chiếc mền ngồi im lặng trong liều khi Imoto bước vào . Imoto bắt đầu giải thích lý do sự hiện diện của mình cho Hyakutake nghe . Nghe xong ông mở mắt liếc nhìn Imoto một hồi lâu rồi nhắm mắt tiếp . Cuối cùng thì ông cũng thốt lên được một câu nhưng giọng lại quá yếu ớt “Đây quả là một mệnh lệnh quá đổi khó khăn . Tôi cần phải suy nghĩ kỹ lại chớ không thể nào quyết định ngay được”.
Sáng sớm hôm ấy , khi cảnh vật còn chìm lắng trong màng sương đêm chưa tan hẳn , tiếng ngáy ngủ của buổi bình minh còn mê mệt chưa trở mình tỉnh giấc thì chợt bầu không gian tỉnh mịch như xé toạt ra vì những tiếng đại bác đinh tai đang thi nhau dội xuống khắp khu rừng yên tỉnh , nơi bản doanh của bộ chỉ huy mặt trận của quân đội Nhật bản . Hoa kỳ đang bắt đầu cho những cuộc pháo kích mà họ gọi là cho quân địch ăn điểm tâm . Đến trưa hôm đó thì Imoto được triệu tới căn liều của Tướng Hyakutake . Vừa trông thấy Imoto bước vào , Hyakutake vào đề ngay , giọng của ông nghiêm nghị lạ thường “Tôi xin chấp hành mệnh lệnh . Nhưng đây là một việc hết sức khó khăn mà tôi không tin nó sẽ thành công . Dù sao thì tôi cũng xin hứa là cố gắng hết khả năng của mình” .
Konuma biết rằng những binh sĩ ngoài tiền tuyến sẽ rất bất mãn khi nhận lệnh triệt thoái , họ sẽ không bao giờ chấp nhận rút lui trong khi không biết bao nhiêu đồng đội của họ đã gục ngã nhưng mục tiêu vẫn chưa giải quyết . Konuma tình nguyện ra phòng tuyến phía trước để khuyến dụ những binh sĩ ngoài mặt trận . Dàn sĩ quan của hai sư đoàn 2 và 38 đều đồng ý triệt thoái nhưng họ lại ngại mở miệng thông báo cho binh sĩ dù chỉ là khẩu lệnh đơn giản là di tản chiến thuật chớ không cho họ biết là rút bỏ vĩnh viễn hòn đảo oan nghiệt Guadalcanal này .
Đêm 23 tháng giêng , binh sĩ tiền tuyến bắt đầu rút bỏ những chốt chận đầu tiên để lui về phòng tuyến phía sau , rồi từ đó họ lại lùi về hướng mũi Esperance . Nơi mà họ sẽ được tàu đến lần lượt bốc đi trong vòng một tuần lễ . Một điều không thể ngờ được là lực lượng hùng hậu của Hoa kỳ hiện tại đang có mặt trên đảo là 50 ngàn thủy quân lục chiến nhưng có lẽ họ chẳng hay biết gì nên cứ án binh bất động . Trong khi quân Nhật thì cứ từ từ , hễ phòng tuyến này rút thì quân phòng tuyến thứ nhì giàn quân ra che chở phòng khi địch quân tấn công bất ngờ . Và họ thay phiên che chở cho nhau rút dần dần ra đến tận bờ biển trong một hoàn cảnh hết sức thuận lợi . Vào những ngày cuối tháng giêng thì toàn bộ binh sĩ còn sống sót của sư đoàn 38 đã có mặt sẳn ở mũi Esperance . Vừa bước qua ngày 01 tháng 02 , lúc đêm xuống , 11 khu trục hạm đã trực sẳn gần bờ và phát đèn báo hiệu để quân trên đảo dùng xuồng nhỏ bơi ra .
Trong lúc ấy thì quân đồn trú Hoa kỳ vẫn không hay biết gì cả . Họ chỉ phát giác một đội khu trục hạm tiến đến và đinh ninh rằng đây cũng là những chuyến đổ quân hoặc hàng tiếp tế vào đảo . Lúc 6 giờ sáng , khi đội khu trục hạm còn cách Guadalcanal một khoảng cách khá xa , họ cho phi cơ cất cánh từ phi trường Henderson tiến ra đánh phá . Nhưng phi đội 24 chiếc oanh tạc cơ đã bị 30 chiến đấu cơ Zero của Nhật bắn hạ , một chiếc khu trục hạm của Nhật bị Hoa kỳ đánh chìm trong trận không chiến này .
Ngay tại mũi Esperance , những thuyền đổ bộ được mang xuống và từng toán binh sĩ bắt đầu được chuyển ra những khu trục hạm . Vài chiếc thủy phi cơ thám thính bay vòng trên bầu trời nhưng có lẽ phi công chẳng nhìn thấy gì trong bóng tối mênh mông nên họ bỏ đi . Từng phút từng phút trôi qua thật chậm chạp . Bỗng từ phía đảo Savo , 4 khu trục hạm đang canh phòng chớp đèn báo hiệu cho 14 khu trục hạm đang bốc binh sĩ . Nhận được đèn hiệu báo động , toàn thể khu trục hạm đều tắt máy nhưng không thả neo cứ để trôi bềnh bồng cách bờ biển vài trăm mét . Hai chiếc thủy phi cơ của Hoa kỳ vừa phát giác ra những khu trục hạm đang canh phòng ở mặt Bắc , họ đâm vào tấn công ngay nhưng với hỏa lực của 4 khu trục hạm thì chỉ trong vòng 5 phút , hai chiếc thủy phi cơ bị bắn rơi . Bây giờ mục tiêu đã bị bại lộ , họ lại sợ phi cơ từ sân bay Henderson thình lình bay ra tấn công . Chỉ trong nửa tiếng đồng hồ chạy đua với thời gian , mọi nổ lực của cánh triệt thoái đã được đền bù xứng đáng là đã có tất cả 5,424 binh sĩ lên được 14 khu trục hạm an toàn .
Những thân hình tiều tụy hốc hác , những khuôn mặt ủ rũ và những ánh mắt lạc thần . Họ cùng ngồi im lặng ngoái nhìn về một dãy mờ mờ phía xa xa , hình ảnh của hòn đảo oan nghiệt , một chốn địa ngục giữa đại dương đã lấy đi không biết bao nhiêu sinh mạng của đồng đội họ . Còn đau đớn và nhục nhã nào hơn khi những cái chết hào hùng ấy lại trở thành vô nghĩa . Vô nghĩa hơn là đã trãi qua mấy tháng dài vào sinh ra tử , bụng đói tay run mà ý chí vẫn tràn trề nhưng kết quả lại tệ hại đến thế này ư . Là một cuộc triệt thoái , mà triệt thoái trong âm thầm . Nó đồng nghĩa với sự trốn chạy và thua cuộc đầy nhục nhã mà thôi .
Mười bốn chiếc khu trục hạm chở đầy binh sĩ nương theo bóng đêm quay trở về phía Bắc . Trong khi phía Hoa kỳ vẫn tin là Nhật đang cho đổ quân tăng viện . Trung Tướng Alexander Patch , người vừa nắm quyền chỉ huy thay thế Tướng Vandegrift hồi đầu tháng 12 , e rằng những cánh quân tăng viện của Nhật đến sau này họ được trang bị vũ khí hiện đại phù hợp với chiến trường rừng núi ở đây , nên 3 sư đoàn của ông vẫn được lệnh nằm yên trong tình trạng án binh không tiến sâu vào phòng tuyến hiện tại vốn đã căng ra quá mỏng của Hyakutake .
Chiều ngày 04 tháng 02 , thêm đợt thứ nhì gồm 19 khu trục hạm đến bốc binh sĩ ở đảo . Và cũng bị phi cơ Hoa Kỳ đánh phá lúc sắp đến Guadalcanal nhưng nhờ lực lượng hộ tống quá hùng hậu của Hải quân Nhật , kết quả chỉ gây hư hại không đáng kể cho một khu trục hạm . Lần này họ mang đi được 4,977 quân nhân . Đô đốc Koyanagi , người chỉ huy hạm đội hộ tống đã yễm trợ rất hữu hiệu nên hai lần đến và đi đều thành công cả , nhưng ông lại e ngại cho chuyến thứ 3 tức là chuyến cuối cùng sẽ là một chuyến rất khó khăn vì người Mỹ có lẽ họ đã đánh hơi được cũng không chừng . Lúc 9 giờ 30 sáng ngày 07 tháng 02 , 18 khu trục hạm rời đảo Shortland . Để bảo đảm cho chuyến chót , Koyanagi lệnh cho cả thảy 10 chiếc khu trục hạm khác bám theo hộ tống chặc chẽ . Một lần nữa , trên đường đi cũng bị phi cơ từ Henderson tiến ra bắn phá , hai khu trục hạm bị hư hại nặng trong lần chạm địch này .
Những binh sĩ cuối cùng còn lại cùng với Tướng Hyakutake và những sĩ quan trong ban tham mưu của ông , họ cùng ngồi đợi ở một bờ biển . Trong nhóm này có đến hàng trăm binh sĩ , có người đang bị sốt rét rừng hành hạ , có kẻ đang bị thương , tất cả đã được đồng đội tìm kiếm và dìu dắt họ tập trung ngay tại bờ biển . Tadashi Suzuki , một trong số it binh sĩ còn sống sót từ chi đội biệt lập của Ichiki , tức là những binh sĩ đầu tiên bước chân lên đảo . Anh đã quá yếu đến nổi không thể leo lên cây thang dây để bước vào chiếc khu trục hạm nên phải nhờ đến hai thủy thủ kéo anh lên hộ . Nằm trên sàn chiếc khu trục hạm to đùng , Suzuki cảm thấy sinh mệnh mình được an toàn phần nào như đang ở trên mảnh đất thân yêu của quê hương mình vậy . Tuy nhiên anh vẫn không thể quên được những hình ảnh cuối cùng của nhiều đồng đội vì quá kiệt sức nên bị bỏ lại đầy dẫy đó đây dọc theo bờ biển . Những binh sĩ kém may mắn này vì quá tuyệt vọng hay vì uất hận cấp chỉ huy của mình đã bỏ họ nằm lại , thay vì to tiếng chữi rủa hoặc rên rỉ kêu ca , họ chỉ lặng lẻ gom hết tàn lực mở chốt lựu đạn . Với họ , chỉ một hy vọng cuối cùng là sau tiếng nổ ấy , thân xác của họ sẽ về với cát bụi và vĩnh viễn ở lại với chiến trường . Thà như thế còn oanh liệt hơn là làm một tên lính hèn hạ chỉ lo trốn chạy .
Cơm vắt trộn với đậu được mang ra phân phát cho những binh sĩ ốm đói lâu ngày . Suzuki không còn biết nhận thức được mùi vị của thức ăn nữa , anh chỉ đưa vội vô miệng rồi nuốt chững nó đi . Anh đờ người ra suy nghĩ “Mai này ta phải khuyên con cháu của mình nếu có tham gia quân đội thì nên đăng tên đi Hải quân . Với họ thì dù sao cũng được ăn uống đầy đủ cho tới chết” .
Chuyến thứ 3 tức là chuyến bốc quân cuối cùng . Họ hoàn toàn bình yên về đến bến Shortland với 2,639 binh sĩ lẫn sĩ quan cùng Tướng Hyakutake , chỉ huy trưởng lộ quân 16 .
Kết quả cuộc triệt thoái diễn ra như ý , họ đã bốc khỏi hòn đảo địa ngục Guadalcanal hơn 13 ngàn binh sĩ trong số đã đổ vào đó 25 ngàn . Con số gần 12 ngàn quân này đa số đều bỏ mình từ nhiều ngày trước vì bom đạn và bệnh tật cũng như đói khát . Tuy nhiên cũng còn nhiều ngàn trong họ vẫn còn sống và thất lạc đâu đó trong những khu rừng già hoặc bị trọng thương hoặc đói đang nằm chờ chết nên không được bốc đi , số này coi như bị bỏ lại vĩnh viễn trên đảo và tất nhiên là sớm muộn gì họ cũng phải chết . Trong khi ấy phía Hoa kỳ , chỉ có 1,592 binh sĩ bỏ mình . Thêm vào đó nhiều ngàn tấn tiếp liệu của Nhật và vô số chiến hạm bị đánh chìm , một điều mà chúng ta nên nhớ rằng những thiệt hại nặng nề này Nhật không thể nào bù đấp vào được .
Tại thủ đô Manila Phi luật tân , trong một bệnh viện thủ đô , một gã thanh niên ốm tong teo đang lần từng bước chầm chậm đi về phía một gian phòng nhỏ ngay cuối dãy . Nhìn dáng đi lắc lư chập chạp đầy khó nhọc , thoáng trông người ta cứ tưởng là một bộ xương cách trí đang di động . Anh bước lại bên chiếc võng , nơi ấy vị Tướng hết thời Kawaguchi đang nằm thiu thiu ngủ . Ông còn đang trong thời kỳ hồi phục sau một thời gian dài bị kiệt sức trầm trọng vì thiếu dinh dưỡng và căn bệnh sốt rét rừng ở đảo Gudalcanal hành hạ . Lúc mới nhìn vào người thanh niên ốm nhom lạ hoắc đang đứng ngay trước mặt mình , Kawaguchi không nhận ra được người ấy là ai cho đến khi anh ta lên tiếng tự giới thiệu . Đó chính là anh nhà báo Nishino , người đã tháp tùng cùng với Tướng Kawaguchi đến đảo Guadalcanal trong những ngày đầu của cuộc chiến . Tha hương ngộ cố nhân , họ mừng mừng tủi tủi xiết chặt tay nhau và cùng nhìn sững vào nhau thật lâu . Sau đó Kawaguchi mới tỉ tê tâm sự với Nishino rằng trên đường trở lại Rabaul từ đảo Guadalcanal , mọi người đều tỏ ra khinh ghét ông ta , họ đều cho ông là một vị bại tướng , một kẻ bất tài và là một tên chết nhát . Sự nghiệp nhà binh của ông coi như tan tành . Và ông trợn mắt nghiến răng nói lớn “Mẹ kiếp ! Sở dĩ tôi dở sống dở chết như ngày hôm nay , tất cả cũng do một tay của gã hung thần ác sát Đông phương giáo chủ Đại tá Tsiji mà thôi” .
Nishino tỏ ra buồn bả như cảm thông nỗi khổ của Kawaguchi , anh nói “Tôi là người hiểu Trung Tướng hơn ai hết” . Đoạn anh nắm lấy tay ông rồi hạ giọng nói “Sự thật bao giờ cũng là sự thật . Rồi có một ngày những bí mật thật sự của Guadalcanal được phơi bày thì người ta sẽ nghĩ rằng hành động của Trung Tướng là đúng” .
Trong giọng nói chất chứa đầy ngậm ngùi cay đắng , ông Tướng đổ tội cho Đại tá Tsuji , người phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng vì đã vẽ ra một kế hoạch tấn công cẩu thả dẫn đến những thất bại về sau và kết quả thê thảm là một cuộc rút bỏ Guadalcanal đầy tủi nhục . Ông nói “Chúng ta chỉ thua một trận chiến nhưng Nhật bản thua cả một cuộc chiến” . Dòng nước mắt tủi hận của vị bại tướng lăn dài trên đôi má nhăn nheo . Anh nhà báo Nishino cảm động nắm chặc tay Kawaguchi , và bằng một giọng trầm buồn anh cố trấn an ông “Trung tướng hãy nghĩ đến sức khỏe của mình là trên hết . Tôi hy vọng Trung tướng chóng bình phục” . Đến đây thì Nishino móc túi lôi ra một chiếc hộp đựng thức ăn , trong ấy có cơm trộn , sushi và vài món tráng miệng . Kawaguchi bốc một vốc cơm lớn đưa vào miệng , vừa nhai ông vừa nói “Umai” tức là “ngon tuyệt” .
NHỮNG RẮC RỐI CỦA PHE ĐỒNG MINH
Năm 1943 , ở Nhật bản nhằm năm con cừu , nhưng đối với phe đồng minh thì nó là một năm rất bận rộn cho những cuộc hội họp gặp gở giữa các nhà lãnh đạo . Những địa điểm họ được chọn lựa để gặp nhau đều được chuẩn bị màn lưới an ninh thật chặc chẻ từ Casablanca đến Cairo , từ Quebec đến Teheran . Ngay từ lúc mặt trận tàn khốc ở Guadalcanal chưa kết thúc , Tổng thống Roosevelt và Thủ tướng Churchill đã có dự định gặp gở người bạn đồng minh của mình là Stalin ở Casablanca . Đây có thể được coi là một cuộc hội nghị bí mật có tầm quan trọng được sắp xếp rất hoàn hảo . Tuy được coi là rất quan trọng nhưng cũng là một cuộc họp đáng ghi nhớ nhất của ba nước đại cường . Bởi vì cuộc họp vừa khai diễn , vừa đi vào đề tài chiến tranh trên hai mặt trận Âu và Á thì đã có sự gấu ó tranh cãi dữ dội giữa những vị chỉ huy cao cấp của Hoa kỳ và Anh quốc , chiến tranh nội bộ đã xảy ra . Người có tánh đa nghi nhất là Stalin , ông lịch sự từ chối không tham dự với lý do quá bận bịu vì đang phải chống trả kịch liệt với Hitler .
Cũng tại nơi diễn ra cuộc họp đáng ghi nhớ này , một gánh nặng đang đè lên vai của những nhân viên mật vụ Hoa kỳ . Cơ quan đặc trách an ninh của họ bị đặt trong một tình trạng căng thẳng tột độ khi thi hành nhiệm vụ bảo vệ cho vị nguyên thủ quốc gia của mình . Sự hiện diện của ông ở đây sẽ khiến cho một thành phố nho nhỏ này trở thành điểm tập trung của vô số điệp viên và ban phá hoại của Đức quốc tìm đến . Họ chỉ e ngại biết đâu điểm hội họp này lại trở thành một bãi chiến trường đầy hiểm nguy chết chóc . Nhưng đối với Roosevelt thì ông coi đó vào đâu . Ông quả quyết rằng chẳng có gì phải sợ cả , nếu nó chỉ có vài ngày và vài ngày thoải mái , thích thú nhất là vài ngày được thoát khỏi cái cảnh tù túng ngột ngạt ở Hoa thịnh đốn lúc nào cũng bị nhiều áng mây chính trị âm u che kín .
Cả hai ông : Roosevelt và Churchill cùng ngụ tại khách sạn Anfa , một khách sạn thuộc hàng sang trọng bậc nhất được xây dựng ngoài vùng ngoại ô cách thành phố khoảng bốn dặm . Nó nằm trên một ngọn đồi cỏ xanh mướt và bao quanh bởi một vườn kỳ hoa dị thảo , quanh năm bốn mùa lúc nào cũng đơm đầy hương sắc . Thêm vào đó là những giàn hoa giấy , những khóm thu hải đường sắc màu quyến rũ in đậm đến tận chân đồi , tương phản lại màu xanh biếc của mặt biển Địa trung hải, khiến du khách ngụ nơi khách sạn Anfa lúc nào cũng ngất ngây như lạc giữa chốn bồng lai , giữa những bức tranh thủy mặc sống động mà hóa công và nhân tạo đã khéo léo hài hòa giữa những màu sắc rực rở nhất .
Nhưng bây giờ ở một nơi được nhiều người ca ngợi là bồng lai tiên cảnh đã không còn giữ được vẻ yên bình cho khách nhàn du ghé lại thưởng hoa ngoạn cảnh nữa . Vì đang có sự hiện diện của hai yếu nhân thuộc hai đại cường quốc khiến tình trạng chung quanh khu vực khách sạn Anfa bị xáo trộn trong một thời gian . Nơi cửa chính của khách sạn được thiết lập hàng rào bảo vệ , và ở nơi đâu người ta cũng thấy binh lính và quân cảnh xuất hiện . Nhóm nhân viên an ninh đặc biệt giả dạng thường dân , vừa thu lượm tin tức vừa bảo vệ yếu nhân . Bất cứ ở nơi nào trong thành phố người ta cũng thấy sự hiện diện của những thường dân mặt mày nghiêm trọng , có kẻ ngồi đọc báo hoặc dạo phố như một khách nhàn du .
Cuộc họp được chính thức khai mạc vào ngày 13 tháng giêng . Đề tài được mang ta thảo luận sơ khởi do những vị sĩ quan tối cao quân lực Hoa kỳ trong bộ tham mưu liên quân nêu lên là những diễn tiến thuận lợi không ngờ ở hai mặt trận Á và Âu trong vòng hai tháng qua , đây là thời gian vẽ ra một kế hoạch thích nghi để tìm lấy chiến thắng sau cùng . Đó là một bản phát họa chiến lược toàn cầu cho hai mặt trận , một ở Âu châu và một ở miền Viễn đông . Những vị chỉ huy quân sự của Anh thì chỉ muốn đổ vào Thái bình dương một số lượng chiến phí cầm chừng để cầm chân quân Nhật , đến khi nào giải quyết xong chiến trường châu Âu . Có nghĩa là mọi ưu tiên chỉ dành riêng cho chiến trường của họ , đến khi nào đánh bại được Hitler thì mới giải quyết Thái bình dương sau .
Đô đốc King cáu tiết điên lên , ông cho rằng bọn sĩ quan Anh quá coi thường quân đội Nhật bản . Ông đòi cho được với chiến trường Thái bình dương phải được cứu xét cho công bằng . Ngày hôm sau , khi ngồi vào bàn họp chung với nhóm đại diện cho Anh quốc . Khi được họ trao cho văn bản đối chiếu của phía Anh , Đô đốc King đọc thoáng qua đã mất bình tỉnh . Theo ý kiến của họ thì chỉ có 15 phần trăm tổng chiến phí của đồng minh được đổ vào chiến trường Thái bình dương và đó chỉ với mục đích phòng vệ . King nghĩ rằng với con số quá khiêm nhường này dù chỉ để phòng vệ thôi cũng không thể nào thực hiện được huống chi trong đầu của ông cũng đang manh nha ý nghĩ mở chiến dịch tiến chiếm Miến điện .
Tham mưu trưởng quân lực Anh , Sir Alan Brooke , một người nóng tánh và thường khi nổi quạu khi tranh cải một vấn đề gì nghịch lại ý mình . Ông bảo hiện tại thì quân Nhật đang đứng về thế thủ , trong khi chiến trường Âu châu lại có nhiều triển vọng tốt cho quân đồng minh , thế thì tại sao không dồn hết khả năng vào chiến trường này mà dành lấy chiến thắng khi có cơ hội . Và cơ may chiến thắng này sẽ không bao giờ đến nếu như Hoa kỳ còn lo vẽ ra nhiều chiến dịch khác không quan trọng ở Thái bình dương , chẳng hạn như tiến chiếm Miến điện , một quốc gia mà điểm chiến lược không có gì để gọi là quan trọng cả .
Đô đốc King lớn tiếng hỏi vặn lại là quân đội Nhật đâu phải đã quá yếu hèn như Brooke tưởng . Nếu như chiến dịch tiến chiếm Miến điện không thực hiện được thì bắt buộc Tưởng Giới Thạch phải bỏ cuộc vì áp lực của Nhật quá mạnh . Chiếm lại Phi luật tân thì có thể chờ đến khi nào giải quyết xong chiến trường châu Âu mới tính nhưng hai quần đảo Truk và Marianas là mục tiêu cần phải giành lại càng sớm càng tốt . Lý do chính đáng của King khiến cho Anh quốc không làm sao chống đối được , bề ngoài họ tỏ thái độ hòa hoãn hơn nhưng trong lòng lại ngấm ngầm bực tức không ít . Họ đã vượt đường xa đến tận Casablanca cốt ý chỉ mong cho Hoa kỳ chấp nhận theo lối giải quyết của họ . Văn bản đối chiếu này dĩ nhiên là họ đã bỏ ra nhiều công sức để chuẩn bị nhưng coi ra phía Hoa kỳ quá coi trọng chiến trường Thái bình dương nên yêu cầu của họ khó có thể thỏa mãn được .
Khi trở lại phòng họp chỉ riêng với phe nhà , Đô đốc King khuyên mọi người nên tỏ ra cứng rắn với lập trường của mình trong buổi gặp gở kế tiếp vào ngày 17 tháng giêng . Và buổi họp hôm đó , Tướng Marshall tuyên bố dứt khoát rằng nếu chiến trường Thái bình dương không nhận được con số 30 phần trăm của tổng số chiến phí dự trù của đồng minh thì bắt buộc Hoa kỳ lập tức phải cho rút lui toàn bộ hoạt động quân sự ở chiến trường châu Âu . Giới chức Anh dĩ nhiên phải rúng động vì lời tuyên bố chắc nịch của Tướng Marshall . Nếu để mất lòng Hoa kỳ thì họ sẽ rút quân bỏ lại chiến trường châu Âu cho một mình Anh quốc đơn thân chống trả với Hitler ư . Cuối cùng họ chịu nhượng bộ và đồng ý để Hoa kỳ mở hai chiến dịch lớn ở Viễn đông là tái chiếm Rabaul và Miến điện . Nhưng King quyết không thể bỏ quần đảo quan trọng Marianas được , ông nói lực lượng quân sự ở đó đã có sẳn nếu không mở chiến dịch tiến chiếm Marianas thì cũng chỉ để họ nằm không , như vậy hóa ra ta đã phí phạm một lực lượng không cần thiết . Và hơn nữa , nếu chiến dịch này được tiến hành nó cũng không thiệt thòi gì với số chiến phí đã được dự trù cho chiến trường ở châu Âu . Anh quốc phản ứng lại rất thờ ơ . Làm sao biết được , đâu có gì để bảo đảm rằng tác động ở chiến trường Thái bình dương không gây ảnh hưởng cho sự thành bại ở châu Âu . Câu trả lời lạnh buốt như băng của Đô đốc King khiến cho Anh quốc càng thêm rối trí “Đây vốn là việc riêng của Hoa kỳ . Vì thế Hoa kỳ có toàn quyền quyết định ở chiến trường Thái bình dương . Muốn bao giờ tấn công và nơi nào là mục tiêu thì Hoa kỳ cứ quyết định lấy không cần phải hỏi qua ý kiến của ai cả” . Trong câu nói của King đã cho họ thấy , không còn nghi ngờ gì nữa Thái bình dương là một chiến trường nằm ngay sát nách của Hoa kỳ . Những địa danh như Trân châu cảng , Bataan hoặc Guadalcanal đã ảnh hưởng đến cuộc sống của họ nhiều hơn so với Rome , Ba lê hoặc Bá linh .
Brooke cảm thấy thất vọng tràn trề . Ông sợ rằng không còn lý do nào nữa để cho King thay đổi quyết định , nghĩa là làm cho ông ta quay mặt đi với chiến trường Thái bình dương . Ngay buổi ăn trưa hôm ấy , Brooke thở dài than thở với John Dill “Hết rồi ông ạ . Chúng ta sẽ không bao giờ thỏa thuận được với họ”.
Nhưng đến tối hôm ấy cả hai phe cùng ngồi lại để bàn bạc và đi đến một thỏa thuận chung cho năm 1943 , thỏa thuận này như một giao kèo chung chung vừa làm vừa lòng Brooke mà cũng không phật ý Đô đốc King . Một điều khoản trong giao kèo này có đoạn “Những chiến dịch ở Thái bình dương vẫn tiến hành với mục đích tạo áp lực cho địch quân , nhưng chiến phí dành cho chiến trường châu Âu vẫn phải để cho chiến trường này sử dụng” . Nó có nghĩa là dù có thiếu hụt thì Hoa kỳ phải tự lo liệu lấy .
Churchill và Roosevelt cũng hân hoan chấp thuận ngay kế hoạch này chẳng cần thắc mắc chi hết . Thủ tướng Churchill lấy làm phấn khởi ca ngợi cho sự thành công hết lời .
Nhưng xem ra cố gắng này đơn thuần chỉ là một sự ngụy trang cho một thỏa hiệp , nó giống như một miếng vải băng che đậy vết thương đang lúc trầm trọng .
Comments
Post a Comment