Trước khi đi vào chiến trường này , người viết xin mời các bạn tìm hiểu đôi chút về vị Tướng tư lệnh mặt trận cũng như một giai đoạn lịch sử hình thành quân đội ở Phi Luật Tân trong một thời gian gần đây . Ngay trong thời bình , Hoa Kỳ cũng có một ý tưởng kỳ quặc là khó có thể bảo vệ một quốc gia quần đảo gồm gần 2 ngàn đảo lớn và 8 ngàn đảo nhỏ , tổng diện tích chỉ có khoảng 300 ngàn cây số vuông lại trải dài trên hơn mười vĩ độ (đúng một ngàn 400 cây số) . Quân đội quốc gia của họ được thành lập năm 1934 dưới sự chỉ huy của Hoa Kỳ . Họ là những thanh niên tuyển mộ tại địa phương và do Tướng Mac Arthur huấn luyện . Mac Arthur là một ông Tướng nổi bật trong số các tướng lãnh nổi tiếng của Hoa Kỳ lúc bấy giờ . Ông là người từng chủ tọa cuộc nổi dậy giành độc lập thời chiến tranh với Tây Ban Nha . Ông cũng từng tham dự các trận đánh đầu tiên tại quần đảo và có dây liên lạc thân hữu với Tổng thống Quezon . Sau năm 1930 , ông được giữ chức Tổng tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ và vẫn không quên xứ này , một xứ sở mà ông quá gắn bó như gia đình và quê hương của ông vậy . Arthur luôn có ý muốn thành lập một đạo binh quân Phi Luật Tân được huấn luyện bỡi huấn luyện viên Hoa Kỳ và biến đảo quốc này thành tiền đồn của Hoa Kỳ ở vùng Thái bình dương .
Ý tưởng này không được quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận , năm 1935 khi Tướng Malin Craig lên thay thế ông tại ngũ giác đài thì không còn ai ngó ngàng gì đến cái xứ nghèo nàn xa xôi ấy nữa . Riêng các đạo quân bản xứ mà ngày trước Arthur đã ra công huấn luyện , nay phải giải tán gần hết . Chỉ còn lưu lại vài ngàn cùng vài sư đoàn mới tuyển mộ nhưng đấy chỉ có trên mặt giấy tờ mà thôi , vì phần đông họ vẫn ở lại nguyên quán cầm cày thay súng . Nhìn ý nguyện của mình sắp tan tành theo mây khói , Mac Arthur buồn quá nên đâm ra chán đời và chán luôn cả sự nghiệp nhà binh , mặc dù đang đóng lon Trung Tướng . Ông nãy ra ý định xin từ chức và yêu cầu Tổng thống Roosevelt phái mình sang Phi Luật Tân dưới danh nghĩa trưởng phái bộ . Với danh nghĩa này thì Arthur vẫn giữ lon Trung Tướng , ông sẽ hoạt động vừa quân sự vừa chính trị . Có nghĩa là vừa làm một chỉ huy trưởng đạo quân trơ xương ốm yếu Phi Luật Tân vừa ngồi ăn nhậu chung mâm và bàn bac chính sự với Tổng Thống Quenzon .
Hai năm sau , mặc dù nhiệm vụ của ông chưa hoàn tất , Mac Arthur lại bị triệu hồi về Hoa Thịnh Đốn với một lời giải thích ngắn gọn “để phục vụ trong quân đội chính quốc”. Cũng tại tòa bạch ốc , Roosevelt bị Arthur thuyết phục lần nữa . Và lần này ông lại khăn gói quả mướp sang Phi Luật Tân với vai trò cố vấn quân sự .
Trong vai trò mới, ông được lòng của hầu hết dân chúng bổn xứ , với một danh hiệu mà người ta đã không ngần ngại để suy tôn ông là “Vị thủ lãnh của quân đội thuộc xứ liên hiệp Phi Luật Tân”. Dưới sự thúc đẩy gắt gao của ông, trong vòng hai năm, đạo quân này lên đến 100.000 người. Nhờ ảnh hưởng cá nhân, ông được sự hậu thuẫn vô điều kiện của Tướng Sutherland, trưởng phái bộ quân sự Hoa Kỳ để huấn luyện đạo quân của ông và để chỉ huy cả họ nữa.
Cho đến khi Nhật chuẩn bị tấn công vào vùng Nam Á , Hoa Kỳ mới cuốn cuồn lo việc tăng viện cho Phi Luật Tân . Tướng Marshall đề nghị nên gửi ngay cho Tướng Sutherland quân đội và chiến cụ cũng như thiết lập một căn cứ không quân cho các pháo đài bay .
Nhưng với một không đoàn chiến đấu có tầm mức quan trọng đó phải được một vị tướng lãnh không quân chỉ huy . Nhưng vấn đề hơi khó giải quyết là chẳng lẽ đặt Sutherland dưới quyền một vị Tướng khác cùng cấp bậc . Phải tìm ra một vị tướng nào có hơn một sao mới ổn . Có một người nào đó nhắc khéo “Tại sao không ai nhắc tới Mac Arthur ?”
Marshall không ưa ông quan chuyên chế địa phương có dáng điệu như một đại minh tinh màn bạc ấy, do đó đã nhăn mày. Trái lại, Roosevelt thì lại thấy ý kiến ấy là tuyệt diệu. Gia đình Mac Arthur luôn luôn theo đảng Cộng hoà. Chính Douglas cũng có ảnh hưởng không chối cãi được trong đảng. Nếu không làm cho con người quái quỉ ấy bận rộn việc gì, ông ta có thể trở thành một ứng cử viên gây khó chịu trong các cuộc bầu cử Tổng thống. Gọi ông trở lại quân đội là sắp xếp được hết mọi chuyện …
Chính vì vậy mà ngày 27 tháng 7 năm 1941, trong khi đang ăn trưa trên chiếc sân thượng tràn ngập hương hoa ngoại quốc của đại khách sạn Palace tại Manille, Douglas Mac Arthur được biết rằng ông bị mất tước vị chỉ huy của quân đội Phi Luật Tân để được gắn lon Trung tướng khiêm nhường (Qui tắc xưa cũ của quân đội Mỹ bó buộc việc phục hồi cấp bậc này chỉ có tính chất tạm thời). Quả thật là người ta đã ban thưởng cho ông một trong những chức vụ chỉ huy cao cấp nhất của quân đội Hoa Kỳ: đó là chức vụ chỉ huy chiến trường Thái Bình Dương mới vừa được thiết lập .
Nhà quân sự lão thành đã nhận sự đãi ngộ ve vuốt này sau khi hạ bệ mà không chau mày. Thái độ đầu tiên của ông là từ chối. Nhưng, trong lúc ấy, nhờ một thông tin viên bí mật báo cho biết nội vụ , Tổng thống Quezon vội vã chạy đến . Gặp Arthur , vị tổng thống Phi vừa thở hào hễn vừa nói “Tất cả những gì chúng tôi có là của ông . Tất cả những gì mà chúng tôi được như bây giờ là cũng nhờ có ông!”
Niềm hăng say cao cả, giọng nói chân thành của Tổng thống Quenzon , Mac Arthur đành nhượng bộ. Ông chấp nhận nhiệm vụ bạc bẽo là phòng thủ với gần như bàn tay trắng , xứ sở này, một xứ sở có một dân tộc được ông yêu thương và nơi đó ông được yêu họ yêu thương lại .
Ngọn lao đã phóng đi. Ông bắt đầu làm việc với nhiệt tâm mãnh liệt vẫn luôn luôn thúc đẩy ông trong hành động. Trong vài tháng trời ông đã sẵn sàng đưa ra chiến trường một đạo quân thuần nhất, đã cho xây doanh trại đồn trú dành cho đoàn quân mà rốt cuộc người ta đã chấp thuận gửi cho ông, ông phái các xe ủi đất nới rộng phi đạo các phi trường Clark Field và Nichols Field tại Lujon, và phi trường Del Monte tại Mindanao. Ông cho thiết trí đại bác phòng không chung quanh các cứ điểm quan trọng và thiết trí hai đài rada vừa được cung cấp trên núi cao phía bắc và phía nam Lujon .
Ba tháng sau, ông có trong tay 60.000 binh sĩ Phi Luật Tân, 12.000 hướng đạo kinh nghiệm chiến đấu trong rừng rậm và 20.000 quân Mỹ do tướng Sutherland nhường lại để trở thành Tham mưu trưởng của ông. Vũ khí của họ còn bất ổn định, chiến xa cũ kỹ nhưng kỷ luật thì hoàn toàn và tinh thần thì rất cao .
Công cuộc phòng thủ đảo Lujon được phân chia cho hai đạo quân. Khu vực phía bắc đặt dưới quyền của một trong các môn đệ được ông yêu mến nhất của trường West Point, tướng Wainwright, người được ông đặt hoàn toàn tin tưởng. Chính ông sở cậy đạo quân này để chịu đựng vố đầu tiên trong trường hợp bị xâm lăng.
Ngày 4 tháng 11 1941, tướng Brereton, một phi công kỳ cựu thuộc thế hệ đầu tiên, đáp xuống phi trường Clark để nắm quyền chỉ huy không lực. Tháng 12, Brereton có trong tay 72 khu trục cơ, trong đó có 18 P-40 kiểu mới nhất và 35 pháo đài bay B-17. Kế hoạch phòng thủ của Mac Arthur tiêu liệu rằng các pháo đài bay này sẽ đến oanh tạc các phi trường của Nhật tại Đài Loan ngay khi chiến tranh bùng nổ. Chúng phải đặt căn cứ tại Del Monte trên hòn đảo lớn Mindanao, nằm ngoài tầm oanh tạc cơ Nhật .
Tại đại bản doanh đóng ở thủ đô Manila , Tướng MacAthur nôn nóng chờ đợi tin tức gửi về từ vịnh Lingayen . Ông gọi điện cho Marshall và đề nghị xin những mẫu hạm quanh vùng cho phi cơ tuần thám trong phạm vi bờ biển Phi Luật Tân . Đô Đốc Marshall trả lời thẳng rằng trách nhiệm của ông ta không thể nào vươn dài đến những khu vực ấy , đó là mệnh lệnh từ Bộ Hải quân Hoa Kỳ . Và ông khuyên MacArthur đừng tin cậy chờ đợi gì ở những phi cơ mà tầm hoạt động của chúng xa lắm cũng chỉ vươn tới Brisbane Úc Đại Lợi .
Chiều tối cùng ngày , một phi đội tuần thám của Tướng Brereton trên đường trở về căn cứ đã phát giác một hải đội Nhật còn lãng vãng quanh khu vực vịnh Lingayen , họ trút xuống những quả bom 100 cân Anh rồi bay thẳng về căn cứ . Sự thật thì họ cũng chẳng ngờ rằng đấy toàn là những dương vận hạm trống rỗng vì toàn thể binh sĩ đã đổ bộ thành công và đang tiến về phía thủ đô Manila .
Toán tiền sát của Tướng homma đã tiến sâu vào lãnh thổ Phi Luật Tân , đến chiều thì họ chạm súng với toán quân phòng thủ đầu tiên . Những tân quân bản xứ mới trãi qua 10 tuần huấn luyện , đa số chỉ mới biết sử dụng súng trường chứ chưa bao giờ lâm trận vì thế chỉ nghe tiếng súng nổ và tiếng reo hò của địch quân họ đã hồn phi phách tán quăng mủ vứt súng , bỏ của chạy lấy người để lại những đơn vị pháo đơn độc nằm ôm cối chiến đấu lẻ loi . Mặt trận này coi như vở tan nhanh chóng , Tướng Jonathan M.Wainwright , tư lệnh lực lượng trú phòng mặt Bắc Luzon bất đắc dĩ phải gọi MacArthur để xin được phép triệt thoái về phía bên kia sông Agno .
Không có sự can thiệp của hải và không quân , MacArthur đành phải hủy bỏ ước mơ cầm chân địch ngoài bãi biển và bắt buộc phải trở lại kế hoạch đã vạch ra sẳn của vị chỉ huy tiền nhiệm , một kế hoạch mà MacArthur cho xếp xó từ lâu vì ông cho rằng nó quả chủ bại mà kẻ làm tướng như ông không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ dùng đến nó . Kế hoạch này được mệnh danh là Kế hoạch 3 , phòng khi triệt thoái đội quân hỗn hợp Mỹ-Phi về Bataan trong trường hợp địch quân đã đổ bộ thành công . Tại Manila , đội quân phòng thủ cố gắng giữ vững thủ đô trong vòng 6 tháng cho đến khi Hải quân gửi được tăng viện đến thời sẽ phản công . Tình hình hiện tại đã quá túng cùng nên MacArthur đành phải thúc thủ và những gì ông có thể làm trong hiện tại là truyền lệnh “Triệt để thi hành ngay kế hoạch 3” .
Tình trạng quả thật quá tồi tệ , nó tồi tệ hơn những gì MacAthur đã từng lắc đầu khi nghĩ đến . Rạng sáng ngày hôm sau ông sững sờ biết được lực lượng của mình đã bị nhốt trong một cái gọng kềm to tướng . Hai mươi bốn hải vận hạm Nhật đã đổ bộ vào vịnh Lamon đêm qua , một vị trí chỉ cách Manila 60 dặm đường chim bay về phía đông nam và gần 10 nghìn binh sĩ thuộc sư đoàn 16 đang dàn thành 3 đội hình tiến về Manila . Lúc 10 giờ sáng , MacArtur ra lệnh cho lực lượng phòng thủ Nam Luzon , hai sư đoàn đang có mặt tại đó phải rút lui về Bataan . Mặt trận phía Nam đã bỏ trống bắt buộc ông Tướng chỉ huy phải ra lệnh dời tổng hành dinh của mình đến đảo Corregidor vào lúc trời tối .
Ngay lúc ấy cũng ở gần đó , trong cao ốc Marsman , Đô Đốc Hart vừa báo cho Phó Đô Đốc Francis W.Rockwell , vị chỉ huy trưởng căn cứ 16 Hải quân Hoa Kỳ rằng ông sẽ dời tổng hành dinh đến Borneo , nơi đặt bộ chỉ huy chiến dịch hành quân của liên hạm đội , vì thế quyền điều động những hạm đội còn lại sẽ được giao lại cho Rockwell chỉ huy . Hai người bàn bạc để bàn giao trách nhiệm , thỉnh thoảng câu nói của họ bị những tiếng phi cơ rầm rú và tiếng bom nổ rềnh trời rung chuyển cả tòa nhà mà họ đang ngồi . Từ phía cửa sổ , họ còn nhìn thấy những cụm lửa bốc cháy phía khu vực bến cảng , bụi và khói lẫn trong ánh lửa đỏ ngời tạo thành một màu kinh khiếp trãi cả một vùng trên sông Pasig .
Tại cung điện Malacafian , Tổng Thống Manuel Quezon khuyên dụ hai viên thư ký văn phòng phủ tổng thống là Jorge Vargas và Jose Laurel , bảo họ hãy vì quốc gia dân tộc chịu hy sinh ở lại “để thay ông thương thuyết với Nhật Bản” còn ông và phó tổng thống Sergio Osmefia sẽ tháp tùng cùng Tướng MacArthur đi Corregidor lánh nạn. Người xưa có câu “Nhà có nghèo mới biết đứa con nào hiếu thảo , nước nhà nguy vong mới thấy ai là kẻ trung thần” quả thật không sai . Dù Tổng thống Quenzon có xuống nước năn nỉ ỉ ôi đến đâu đi nữa một trong hai thư ký vẫn không nghe ông , Vargas quì gối lạy lục van xin được tháp tùng cùng tổng thống . Chỉ có Laurel thì dửng dưng như không , ông tuyên bố “Vận nước đã như thế này rồi thì cái mạng già này còn gì là luyến tiếc nữa chứ !” Vì cớ gì mà Laurel tỏ ra can trường đầy khí phách như thế , lý do đơn giản là vì ông đang chết dần mòn vì chứng lao phổi bất trị của mình !
Ở bên ngoài , đường phố nhộn nhịp và náo loạn lên . Xe nhà binh và xe buýt chất đầy quân trang và binh sĩ cùng di chuyển về phía Bắc hướng về Bataan . Khi bóng hoàng hôn buông xuống , trên chiến thuyền chạy bằng hơi nước mang tên Don Esteban , Tướng MacArthur cùng bộ tham mưu của ông đang trên hướng tiến về đảo Corregidor cách đó gần 30 dặm . Không gian yên lặng mờ ảo dưới ánh trăng thượng tuần yếu ớt soi mặt đại dương lăng tăng sóng gợn . Xa xa ngoài kia , ánh lửa chập chờn lúc tỏ lúc lu của một giàn khoan dầu ngoài khơi . Trên boong thuyền Don Esteban , tất cả thủy thủ đoàn và tướng lãnh đều vận quần sọt và áo ngắn tay , đó là một đêm Giáng Sinh buồn bả và kỳ lạ nhất của những đứa con dân Hiệp chủng quốc xa nhà .
Cách đấy bảy trăm dặm về phía Bắc , một hòn đảo khác , đúng hơn là một thành lủy khác cũng sắp bị xóa tên . Quân đội Thiên Hoàng đã làm chủ 32 dặm vuông vùng núi đồi Hương Cảng . Quân đội Anh bị xé ra làm nhiều nhóm và bị bao vây tứ bề . Họ chỉ còn được một ít đạn dược và lương thực cùng nước uống thì đủ dùng cho một ngày . Quân phòng thủ ở lục địa thì sự kháng cự quá yếu ớt nhưng ngược lại ở Hương Cảng thì họ quyết liệt chiến đấu đến kỳ cùng . Nguyên nhân chính cũng vì sự can trường dũng cảm của 1,759 chiến binh trong đơn vị tình nguyện phòng vệ . Họ là những “người lính chịu chơi” gồm đủ mọi quốc tịch như Anh , Âu lai Á , Trung Hoa , Bồ Đào Nha v.v . và gồm đủ mọi thành phần trong xã hội như những tay anh chị giang hồ chọc trời khuấy nước , những kẻ đầu trộm đuôi cướp từng vào tù ra khám . Nói chung là những tay tứ chiến giang hồ coi cái chết như trò đùa và bây giờ họ tình nguyện gia nhập vào đội quân phòng thủ và nhờ có máu giang hồ hành hiệp , chuyện bắn giết là sở trường của họ và lại là những kẻ gan lỳ số một nên cố nhiên đã trở thành những chiến sĩ chiến đấu rất giỏi , giỏi hơn tất cả những đơn vị đang có mặt khắp cùng lãnh thổ đang chiến đấu khiến cho quân đội Thiên Hoàng phải lúng túng và nhìn nhận Hương Cảng quả là khúc xương khó nuốt !
Nhưng cuối cùng đến rạng sáng hôm Giáng Sinh , doanh trại của đội phòng vệ chịu chơi này bị tràn ngập . Họ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng để mở đường máu nhưng lại bị vây vào tuyệt lộ tức là nơi cuối mũi phía Nam của bán đảo . Quân Nhật như vào chỗ không người , họ giở thói tàn nhẫn thô bạo , bắn giết thẳng tay và túa ra đi tìm những cô y tá trẻ đẹp người Anh và Trung Hoa để cưỡng hiếp cho thỏa thích .
Ở thủ phủ Victoria cũng bị tràn ngập và cảnh tượng cũng xảy ra tương tự . Họ giết , họ hiếp để trả thù , để hã hê thú tính của một đoàn quân viễn chinh man rợ . Lúc 9 giờ sáng , họ cho thả hai tù nhân , một thường dân và một là viên Thiếu Tá người Anh đã giải ngũ với một bức thư ngắn trao lại cho Đại Tướng C.M.Maltby , chỉ huy trưởng lực lượng thuộc địa . Bức thư nhắc nhở rằng đừng nên chiến đấu chỉ vô vọng mà thôi . Nhật hứa sẽ ngưng tiếng súng trong vòng ba tiếng đồng hồ để viên Tướng đại diện cho Anh quốc suy nghĩ lại .
Tướng Maltby giữ im lặng cho đến 3 giờ 15 mới miễn cưởng ra lệnh cho thuộc cấp buông súng đầu hàng . Đó là một sự nhục nhã to lớn cho Anh Quốc khi bị kẻ địch dùng vũ lực bắt buộc phải chấm dứt thực quyền trên đất Trung Hoa . Mặc dầu sự đầu hàng của Anh đã được chấp nhận nhưng quân đội Thiên Hoàng vẫn tiếp tục làm mưa làm gió . Vì đây là một khúc xương khó nuốt nên họ phải đổ máu nhiều và một khi chiếm được tất nhiên là họ sẽ thẳng tay trả đủa , cứ bắn giết và hãm hiếp bừa bãi suốt cả đêm Giáng Sinh ấy .
Và cũng cùng một ngày Giáng Sinh đen tối với Hương Cảng , Phi Luật Tân cũng chẳng sáng sủa gì hơn . Sáng hôm ấy MacArthur ngồi tổng kết lại tình hình u ám tại tổng hành dinh mới ở đảo Corregidor , một hòn đảo nhỏ có hình thù giống như con nòng nọc cách bán đảo Bataan 3 dặm về hướng Nam ngay cửa vịnh Manila . Tại cửa vịnh này , ai sở hữu nó sẽ kiểm soát được cả một vùng vịnh bao la , nó giống như một cái chốt kềm chặc mọi hoạt động trong vùng . Đó là một pháo đài kiên cố mà hầm hố chiến đấu và các ụ súng đại bác , cối phòng không được bố trí dầy đặc . Hệ thống giao thông hào và hầm hố chằn chịt như mê cung được thiết lập sâu trong lớp đá cứng dưới ngọn đồi Malinta là một bệnh viện an toàn , là một kho chứa vũ khí lý tưởng và một bộ chỉ huy kiên cố dưới bất cứ loại phi pháo hoặc bom đạn nào trút xuống .
Để bạn đọc có thể mường tượng ra được vị trí chiến lược này người viết trình bày sơ lược địa hình của bán đảo Bataan và đảo Corregidor . Thủ đô Manila nằm gọn trong một vịnh lớn cùng tên gọi vịnh Manila , phía Bắc bên ngoài cửa vịnh này là bán đảo Bataan . Bán đảo Bataan thọc sâu xuống gần một nửa cửa vịnh , nó che chở và bảo vệ mọi sinh hoạt phía bên trong vịnh mỗi khi cuồng phong nỗi dậy sóng biển ngập tràn . Phần điểm cuối bán đảo , nằm cheo leo giữa cửa vịnh là đảo Corregidor , nó trông như một chướng ngại vật nằm vắt ngang cửa vịnh , đấy là điểm chiến lược quan trọng duy nhất mà ai làm chủ nó sẽ kiểm soát toàn bộ khu vực kể cả thủ đô Manila . Toàn bộ bộ máy quân sự Hoa Kỳ hiện đang có mặt ở Phi Luật Tân đều nhận được lệnh rút khẩn cấp về Bataan . Nhóm thứ 3 vừa ra khỏi thủ đô Manila thì trục lộ bị tắc nghẽn giao thông , một đoàn quân xa dài vô tận bò chậm như rùa , thỉnh thoảng dừng hẳn lại một chốc rồi mới nhút nhích bò tiếp , chen lẫn trong dòng giao thông tắc nghẽn ấy còn có cả xe chở đại bác 155 ly , xe buýt , xe hơi , thậm chí còn có xe trâu xe bò nữa .
Người ta cố vượt qua 2 chiếc cầu cách thủ đô Manila 30 dặm , đó là 2 chiếc cầu một ở Calumpit và một bắt ngang con sông rất cạn có tên là Pampanga . Hai điểm này rất quan trọng , người ta chờ dòng người và xe cộ vừa rút qua khỏi là cho đánh sập để cản bước tiến của địch quân từ phía Nam .
Cách hai cây cầu 10 dặm từ phía Bắc , một dòng quân xa khác từ San Fernado đổ về Bataan và gặp phải bộ phận triệt thoái từ thủ đô lên nhập vào nhau trên một con lộ quá hẹp , thế là tình trạng tắc nghẽn càng lúc càng xấu đi khiến cho những làng quê im lìm nằm bên cạnh quốc lộ trở nên nhộn nhịp gần như náo loạn cả lên .
Tình hình ở tại vùng bán đảo Bataan này vốn đã hỗn loạn từ trước chứ không phải đợi đến lúc những đoàn quân xa triệt thoái xuất hiện . Hàng ngàn thường dân chạy nạn đã đổ dồn về đây từ khi đoàn quân của Tướng Homma xuất hiện ở phía Bắc . Quang cảnh hỗn độn với những chiếc xe buýt cũ kỷ , những ụ xe bò quá tải nằm vắt vẽo mọi nơi và người ta chạy tới chạy lui khóc la kêu réo ầm ỉ . Một số bộ phận quân sự được đưa tới để làm nhiệm vụ an ninh cũng đành bó tay đứng nhìn . Từ lúc ban hành lệnh triệt thoái đã có lệnh di tản dân chúng trong vùng nhưng mai mĩa thay người thi hành lệnh lại quên khấy đi đến khi nhớ lại thì đã quá trễ để bây giờ dân và lính lẫn lộn , thật là một quang cảnh hỗn độn chưa từng thấy .
Căn cứ theo lệnh đã ban xuống thì số lương thực dự trử phải đủ dùng trong 6 tháng nhưng hiện tại thì một tháng cũng chẳng có đủ , nguồn tiếp liệu khác thì đang trên đường đến bằng đường thủy , đường xe lửa và quốc lộ , nhưng tình trạng tắc nghẽn giao thông như thế này thì còn cần đến bao nhiêu tiếng đồng hồ nữa mới khai thông được quốc lộ đây ? Một hy vọng nhỏ là lực lượng mặt Bắc có thể cầm cự được với địch quân trong vòng 2 tuần lễ để Bataan có đủ thời giờ lo đào hầm hố củng cố hệ thống phòng thủ , trong khi cánh quân từ mặt Nam cũng rút hết về được Bataan .
Rồi tin báo cáo gửi về quân Nhật đã phá thủng phòng tuyến ở sông Agno , một phòng tuyến thiên nhiên khá vững chải để cầm chân địch trên đường tiến vào Bataan . Tình hình quá bi đát khó có thể cầm cự lâu hơn , nó bi quan đến độ người ta nghi ngại rằng Nhật sẽ có mặt ở Bataan trước ngày Tết đến .
…………………………………..
Vào ngày 25 tháng 12 , một ngày Noel buồn thảm và yên lặng , chiếc thủy phi cơ mang một vị Đô Đốc từ Hạ Uy Di trở về đất liền . Đó là Chester Nimitz , một vị Đô Đốc mới được chọn để lên thay cựu Đô Đốc Kimmel và chỉ huy toàn bộ Hải quân ở khu vực Thái Bình Dương . Mặc dù Nimitz tóc đã bạc nhưng trên khuôn mặt rắn rỏi , đôi mắt vẫn đầy nét tinh anh , vóc dáng lại trẻ trung khỏe mạnh và nhanh nhẹn . Thuở thiếu thời ông đã từng ôm ấp mộng hải hồ nên đăng tên vào trường Hải quân . Trong tập hồ sơ của ông người ta còn đọc được những câu phê bình của nhà trường “một sinh viên sĩ quan ưu tú đầy hứa hẹn ở tương lai” và trong suốt cả thời gian dài phục vụ ông luôn mơ giấc mơ được làm người chỉ huy biển cả .
Sau khi nhậm chức được vài tiếng đồng hồ Nimitz đã nhìn ra được một tình trạng nan giải , đó là một nỗi bi quan cực điểm của binh sĩ , tinh thần chiến đấu của họ suy sụp đến trầm trọng . Cơn sốc Trân Châu Cảng đã làm cho vài vị chỉ huy Hải quân bạc tóc .
Nimitz cho triệu tập ban tham mưu và mở đầu bằng một câu trấn an “Sẽ không có gì thay đổi cả” Đoạn ông tiếp “Chúng ta sẽ trả đòn và đó là những đòn trả miếng chỉ tử ! Các ông cứ chờ đợi mà xem”
..............................................................
Ngày Tết dương lịch vốn là một ngày lễ được tất cả mọi người ưa thích nhất tại Nhật Bản . Ở Đông Kinh người ta vẫn nô nức tổ chức mừng Xuân như hằng năm . Từng dòng thác người vui xuân với áo quần sặc sở từ mọi ngã thủ đô cùng đổ về ngôi đền Minh Trị Thiên Hoàng . Họ cầu nguyện cùng đấng linh thiêng rồi quay sang chúc tụng nhau những gì may mắn nhất cho một năm mới sang và sau đó vô tư tham dự những trò chơi cỗ truyền ngày Tết với nhau như chẳng hề biết chung quanh họ , những ngọn lửa chiến tranh đã bắt đầu nhen nhúm và có thể cháy bừng lên bất cứ lúc nào .
Tướng Muto , chỉ huy trưởng Tổng Nha Quân Đội đến gặp Bộ Trưởng Ngoại giao Togo tại văn phòng bộ ngoại giao . Sau vài ly rượu chúc mừng năm mới , ông vào đề “Mọi người ai nấy đều rất hân hoan để say sưa với men chiến thắng . Nhưng tôi thì ngược lại không thấy vui nỗi ông ạ” . Ngưng một chốc rồi Muto nhìn thẳng vào mặt ông bộ trưởng nói chầm chậm như than thở với chính mình “Đây là một cuộc chiến đầy cam go vất vả” . Togo gật gù đưa tay nâng ly rượu nốc cạn , ông nhìn Muto một cái nhìn tỏ vẻ thông cảm rồi nói với một giọng cương quyết “Quả nhiên thực tế trước mắt là như vậy nhưng theo sự sáng suốt của phe nhà binh các ông , vấn đề này phải nên dàn xếp làm sao càng sớm càng tốt !” Tướng Muto nhìn Togo ra chiều ngạc nhiên vì ông chưa hiểu hàm ý của vị bộ trưởng trong câu nói khá mơ hồ ấy . Togo xuống giọng chậm rãi bảo “Việc trước tiên phải làm là thay thế chiếc ghế thủ tướng của Tojo” . Rồi sau đó Togo cũng mang việc này bàn với một vị Đô Đốc đã từ lâu không ủng hộ tham vọng xâm lược của phe quân đội , đó là Đô Đốc Okada .
...................................................
Quân đội viễn chinh Nhật ở Phi Luật Tân đang hăng hái tiến vào thủ đô Manila bằng hai trục Bắc và Nam . Tướng Homma chỉ còn cách thủ đô khoảng 17 dặm và chỉ gặp một vài ổ kháng cự lẻ tẻ không đủ sức làm đoàn quân của ông chùn bước . Cánh quân phía Nam thì tiến rất chậm nên còn cách mục tiêu cuối cùng khoảng 40 dặm vì trên đường tiến quân đã bị gặp phải vô số mìn bẫy , tuy nhiên cũng chẳng đụng độ với bất cứ một ổ kháng cự nào .
Tướng Homma ra lệnh cho những mũi tiến công tạm thời dừng lại lo chỉnh trang quân phục quân phong và chỉnh đốn lại hàng ngũ . Vì ông biết nếu để một đoàn quân áo quần lôi thôi lếch thếch râu tóc bồm xồm xuất hiện giữa công chúng thủ đô Manila thì người ta sẽ đánh giá quân đội của ông không khác gì một lũ cướp rừng chuyên cướp bóc và hãm hiếp .
Tại trung tâm thủ đô tất cả hàng quán đều đóng cửa im lặng . Gần khu vực bến cảng , anh phóng viên của tờ báo Life Carl Mydans đang lơ đểnh đưa mắt trông theo những du thủ du thực đang tranh nhau hôi của . Nào súng đạn , quân trang quân dụng đến xe nhà binh thậm chí những cuốn phim còn nguyên trong hộp cũng bị mang đi , nhà kho quân đội bây giờ chỉ còn trơ lại 4 bức vách và cái nóc vô tri nằm lại vì sau khi toàn bộ quân trú phòng trong thủ đô rút hết về Bataan nó đã trở thành vô chủ và là một mục tiêu hết sức béo bở của những bọn lưu manh côn đồ trong thành phố .
Carl lắc đầu chán ngán rồi quay lại khách sạn Bayview với Shelly , cô vợ đang chờ của anh . Shelly trao cho Carl một bức điện tín mới gửi đến của ban biên tập báo Life . Trong bức điện họ yêu cầu anh săn lùng những bản tin mới nóng hổi “Nhân chứng đầu tiên chứng kiến cuộc phòng thủ của Hoa Kỳ nơi thủ đô Manila” . Đọc xong Carl cười một nụ cười mai mĩa trong khi cô vợ cũng ranh mãnh không kém , cô chìa một mảnh giấy đã ghi sẳn câu trả lời “Không có gì ở đây để phải săn lùng cả”
Cả thủ đô dường như đã chìm ngập dưới những lớp khói mù buông tỏa khắp nơi . Từ cánh đồng dầu Pandacan , từ những doanh trại bỏ lại của Hải Lục quân bị bốc cháy .
Vào lúc 5 giờ 45 chiều , Trung Tướng Koichi Abe dẫn 3 trung đoàn thuộc sư đoàn 48 của mình thẳng đường tiến vào thủ đô Manila qua cửa phía Bắc và được dân chúng sắp hàng sẳn hai bên vệ đường đón chào một cách miễng cưởng bởi những người dân địa phương mặt mù ủ rủ , tuy nhiên trong bọn họ cũng có một số kiều dân Nhật đã bị chính quyền thân Hoa Kỳ giam cầm và bây giờ thoát nạn , gặp quân bổn xứ của mình tới thì mừng rở nói cười huyên thuyên như không dứt .
Từ cửa sổ trong căn phòng của khách sạn , phóng viên Carl có thể nhìn thấy thật rõ có 3 nhóm binh sĩ Nhật cùng thủy thủ với quân phục nhầu nát bệ rạt đang tụ tập trên sân cỏ phía trước ngôi biệt thự riêng của Cao Ủy Francis B.Savre nằm bên kia đại lộ . Lá quốc kỳ của Hiệp Chủng Quốc bị hạ xuống và sau 3 phát đại bác rung chuyển để chào mừng chiến thắng , lá cờ mặt trời được từ từ kéo lên trong khi bản quốc ca “Kimigayo” cũng được bắt đầu , giọng ca hùng tráng trỗi lên từ nhóm binh sĩ hiện diện của quân đội Thiên Hoàng .
Phía bên ngoài cửa vịnh Manila , quân của Tướng MacArthur đã dồn hết vào cứ điểm phòng thủ Bataan để chuẩn bị bày binh bố trận cho một trận cuối thư hùng . Phía Nhật Bản , Tướng Homma và bộ tham mưu của ông đều nhận định rằng sự tập trung lực lượng ở bán đảo của quân đội Hoa Kỳ đơn thuần chỉ là một sự tháo chạy thiếu tổ chức mà thôi . Ông ta rất lấy làm hài lòng , và thượng cấp của ông ở Đông Kinh và Sài Gòn đều rất hân hoan , họ đồng có một ý nghĩ là chìa khóa chiến thắng ở Phi Luật Tân đã nắm sẳn trong tay , chiến dịch bình Phi coi như thắng lợi hoàn toàn mặc dù Tướng MacArthur vẫn còn hiện diện trên đảo Corregidor và quân đội của ông vẫn còn làm chủ một mõm cuối cùng trên bán đảo Bataan .
Từ bộ tham mưu đóng ở Sài Gòn , Tướng Hisaichi Terauchi tức tốc đánh điện ra lệnh cho sư đoàn 48 phải lập tức chuyển hướng tiến chiếm Java . Sau hai chiến dịch đã thành công ở Phi Luật Tân và Mã Lai đúng như dự liệu , say men chiến thắng nên Terauchi thừa thắng xông lên dự định sẽ xua quân tràn qua chiếm nốt Java một tháng trước kế hoạch .
Mặc dù chiến thắng dễ dàng ở Phi Luật Tân nhưng khi nhận lệnh chuyển quân Tướng Homma cũng bối rối không ít . Chiến dịch càn quét này không phải quá đơn giản như thượng cấp của ông đã nghĩ , nó có thể phải trả giá bằng một sư đoàn thiện chiến số 48 của ông . Vì thế ông đề nghị nên thay thế bằng một sư đoàn khác nhận lãnh trọng trách này nhưng người ta đã từ chối lời yêu cầu . Thế là sư đoàn đang trấn đóng ở tuyến đầu nơi bán đảo Bataan được thay thế bằng một sư đoàn khác mang số 65 vừa mới đến từ Đài Loan để họ được nhận nhiệm vụ mới khá nguy hiểm .
Sư đoàn 65 với một biệt danh đượm vẻ nhạo báng là “sư đoàn nghỉ hè” vì nó là một sư đoàn chiếm đóng , nghĩa là cầm súng không phải chiến đấu mà để dùng vào việc bảo vệ và an dân . Một sư đoàn gồm 7.500 quân nhân mà đa số đều cao tuổi và kém năng động , họ là những người lính già sắp về vườn với những loại vũ khí thô sơ không thích hợp cho những trận chiến cam go đầy thử thách như ở tuyến đầu khói lửa trên vùng bán đảo Bataan này . Và một vấn đề quan trọng không kém nữa là Trung Tướng Akira Nara được cử đến để làm chỉ huy tư lệnh sư đoàn này . Một sự đề cử gây nhiều tranh luận trong giới quân nhân vì Trung Tướng Nara từng là người du học trong một thời gian dài ở Hoa Kỳ và ông cũng là một ông Tướng từng tốt nghiệp trường bộ binh Fort Benning Hoa Kỳ .
Vào đêm 5 tháng 01 , Nara , ông Tướng trung niên Tư Lệnh sư đoàn 65 , nai nịt gọn gàng đích thân dẫn đoàn tiền sát âm thầm tiến về phía trước , trong khi toán hậu quân còn lục đục phía sau dãn ra kéo dài tận hàng mấy dặm . Những quân nhân già cả mệt mõi ấy đang đi hành quân với một đội hình lộn xộn mất trật tự bởi phải tự túc vượt sông băng rừng vì quân đội Hoa Kỳ đã phá hủy toàn bộ 184 cây cầu trên đoạn đường mà họ phải vượt qua , vì thế cuộc chuyển quân của toàn bộ sư đoàn 65 đã bị trễ đi mất mấy ngày .
Cuối cùng rồi những khinh binh thuộc toán tiền sát của Tướng Nara cũng vừa đặt chân đến vùng ngoại vi Bataan . Họ tập trung lại và phóng tầm nhìn trong màng đêm tịch mịch cố im lặng để nghe ngóng xem có động tỉnh gì từ phía bên kia rừng cây bên bờ một con suối , một biên giới thiên nhiên ngăn chia hai chiến tuyến . Và chính những người lính tiền sát này cũng không ngờ một mõm đất nhô ra tận nửa cửa vịnh tên gọi Bataan , với một chu vi hạn hẹp chừng ấy lại là nơi trú ẩn cho nhóm phòng thủ Phi Luật Tân gồm 15 ngàn quân nhân Hoa Kỳ và 65 ngàn thuộc đội quân bản xứ . Trong số 65 ngàn quân bản xứ này thật sự chỉ có khoảng 10 ngàn binh sĩ thuộc một sư đoàn thiện chiến của Phi là có khả năng chiến đấu thực thụ , phần còn lại thì chỉ là những nhóm hỗn hợp do cóp nhặt lại từ đủ thành phần du thủ du thực vô kỷ luật và được cấp phát vũ khí thô sơ bắt buộc họ phải tình nguyện chiến đấu và dĩ nhiên là họ chẳng được huấn luyện gì cả .
Với một lực lượng khổng lồ như thế nhưng số lượng lương thực dự trữ lại quá ít , nó chỉ đủ dùng cho 100 ngàn quân trong vòng 30 ngày trong khi MacArthur dự định cầm cự ít nhất cũng phải 6 tháng . Tuy nhiên nhờ dựa vào một địa thế thiên nhiên khá vững này khiến ưu thế của lực lượng phòng thủ càng tăng và nhuệ khí chiến đấu của họ không hề suy giảm .
Bán đảo Bataan với 16 dặm chiều ngang và 30 dặm chiều dài , có lẽ nó được hình thành bởi lượng nham thạch của núi lửa , một từ phía Bắc và một ở phía Nam . Khoảng giữa chỉ đơn thuần là rừng cây rậm rạp . Ở đây người ta còn tìm gặp con đường mòn chạy ngoằn ngoèo dọc theo triền dốc núi dựa theo bờ biển đến tận cuối mõm của bán đảo và một con đường khác được trãi đá xuyên qua thung lũng nơi cánh rừng già giữa hai ngọn núi lửa đã tắt từ lâu đời . MacAthur đã xếp đặt cho tuyến đầu phòng thủ nằm vắt ngang bán đảo tựa theo những địạ thế hiểm trở thiên nhiên từ 4 đỉnh núi phía Bắc , trong đó có ngọn cao nhất tên gọi Natib .
Đến sáng ngày 9 tháng 01 thì tất cả đã có mặt sẳn sàng ở các phòng tiến chiến đấu , tinh thần chiến đấu của họ rất cao mặc dù khẩu phần được phân chia quá khiêm tốn ở mức độ cầm hơi nhưng vẫn muốn ra sức chiến đấu đến cùng . Đơn vị tiền phương này cũng được Tướng Arthur chia ra làm hai phần . Đơn vị phụ trách mặt Tây được rút ra từ những toán quân từng tham dự những trận đánh lẻ tẻ may mắn còn sống sót trở về từ vịnh Lingayen . Trái lại về mặt phía Đông , một mặt trận chính yếu mà Tướng Arthur đã quả quyết là quân Nhật sẽ tiến vào ngã này theo con đường mòn chạy dọc theo bờ biển . Để thiết lập một hàng rào phòng thủ vững chắc , Trung Tướng George Parker sẽ chỉ huy một lực lượng 25 ngàn quân vừa rút về từ các căn cứ phía Nam Phi Luật Tân . Địa hình ở cánh Đông này rất phức tạp vừa núi non hiểm trở vừa đồng bằng và cũng không ít đầm lầy nguy hiểm . Ở đây còn có nhiều ao hồ đầy tôm cá và một cánh đồng lúa chạy sâu vào vùng đất liền khoảng chừng 2 dặm đến những rẫy mía rừng tre bạt ngàn . Sừng sững một đỉnh núi tên gọi Natib , một điểm tựa vững chắc cho cánh quân phòng thủ dưới sự chỉ huy của Tướng Parker . Với những vách đá cao vòi vọi như một tấm lá chắn thiên nhiên , những hố sâu vạn trượng và cạm bẫy đã giăng kín , Parker nghĩ từ kim chí cổ , trong những trang chiến sử hào hùng trên thế giới chắc chắn là không có được một đội quân nào có thể vượt qua được những chướng ngại này để ghi lên thành tích chiến thắng .
Một điểm yếu đáng quan tâm trong lực lượng liên minh phòng thủ của Tướng Mac Arthur là có những mối bất hòa nãy sinh từ những đơn vị bổn xứ vì có sự phân bố công tác không đồng đều giữa những người lính Phi và Hoa Kỳ . Đây là một bất lợi trong việc hợp tác phòng thủ giữa hai đơn vị trong một giai đoạn hết sức hiểm nghèo như ở đây .
Cách đó vài dặm từ phía Bắc , Tướng Nara cho sắp đặt đội ngũ chỉnh tề và tiến về mục tiêu . Trong những năm chinh chiến ở Trung Hoa , Nara thường cảnh cáo thuộc cấp rằng đừng bao giờ liều mạng tấn công một vị trí nào mà trong tay không có được một tấm bản đồ chính xác của nó . Hiện tại thì trong tay ông chỉ có một bản địa đồ giao thông và vài tấm ảnh phóng đại mà thôi chứ chẳng có một bản đồ hành quân nào khả dĩ cho cuộc tấn công này . Chỉ thị từ Quân đoàn 14 Lục quân chỉ đơn thuần ra lệnh cho ông “Truy kích địch quân dọc theo con đường mòn từ Bắc xuống Nam bán đảo dưới sự yễm trợ hỏa lực của hai trung đoàn pháo binh và một trung đoàn 9 bộ binh thuộc sư đoàn 16 sẽ hiệp sức càn quét” . Và thượng cấp của ông cũng cam quyết rằng chỉ có khoảng 25 ngàn quân ô hợp đang có mặt ở Bataan , khi nghe tiếng súng đầu tiên của quân ta chắc chắn lũ tàn quân này sẽ chạy dồn về một ngôi làng nhỏ tên gọi Mariveles ở điểm tận cùng bán đảo . Và ở đây họ sẽ chống cự cầm chừng để chờ dịp dông trốn ra đảo Corregidor .
Lệnh trên xuống sao nghe có vẻ dễ dàng quá , lạc quan quá . Nhưng vì cẩn thận nên Nara vẫn còn dè dặt xin cấp trên cho ông thêm chút ít thì giờ để rộng đường tìm hiểu thêm địa hình địa vật trước khi tấn công dứt điểm . Lời yêu cầu của ông bị bác bỏ và lệnh là phải thanh toán khúc xương Bataan này ngay lập tức . Không còn chọn lựa nào nữa nên túng cùng Nara đành phải hấp tấp soạn thảo một kế hoạch hành quân . Đây chỉ là một sự đơn giản cần thiết chỉ cần một ngày ngắn ngủi để chuẩn bị , ông giao cho Đại Tá Takeo Imai chỉ huy trung đoàn con cưng số 141 của mình đánh thẳng xuống theo chiều dọc của con đường mòn , trong khi trung đoàn 9 do một người bạn già rất tín cẩn và đầy kinh nghiệm là Đại Tá Susumu Takechi chỉ huy tiến xuống vùng bán đảo đến sườn núi Natib , vượt qua đỉnh núi chớn chở này và cắt ngang xuyên qua lối mòn Tây Nam và như thế sẽ tạo thành một phòng tuyến mới thọc sâu vào sườn địch chia đôi lực lượng họ ra làm hai mảnh nội bất xuất ngoại bất nhập .
Đến chiều , sau nhiều tiếng đồng hồ nôn nóng chờ đợi khi nghe tiếng pháo yểm trợ vừa dứt thì Đại Tá Imai hăng hái tung quân vào tảo thanh dọc theo trục lộ Bắc Nam trong khi Takechi thì chỉ huy một toán xuyên qua khu rừng chằn chịt . Sau khi tiến quân được hơn vài trăm mét Đại Tá Imai bỗng nghe mặt đất rung rinh , phía trước từng loạt pháo nỗ long trời . Đó là đòn trả miếng của trung đoàn pháo binh Hoa Kỳ dưới sự chỉ huy của Tướng Parker . Quân Mỹ họ không hề run sợ và bỏ chạy sau loạt pháo vừa rồi như những lời tiên đoán bộ chỉ huy quân đoàn 14 Lục quân Nhật , thượng cấp của Tướng Nara .
Quân đội Phi Luật Tân cũng không hề nao núng trước những tiếng nổ mở màn ấy , họ vẫn sát vai với quân đội Hoa Kỳ giữ vững tay súng chiến đấu . Và đợi đến khi Đại Tá Imai cùng trung đoàn lọt vào vòng phục kích thì họ phản công ngay , hy vọng với hỏa lực tối đa của những khẩu trọng pháo này trong vài tiếng sau trung đoàn tiền sát của Imai sẽ bị thiệt hại nặng . Để trám vào chỗ trống này , bắt buộc Nara phải tung vào lực lượng trừ bị , như thế Nhật sẽ lọt vào cái bẫy giương sẳn của Parker nhằm tiêu hao lực lượng địch và bảo toàn tối đa quân số của mình .
Tiếng đại bác vang rền làm cho Tướng Nara lo lắng bồn chồn ngồi đứng chẳng yên . Cánh quân của Takechi không biết hiện giờ đang ở đâu mà chẳng nghe báo cáo chi cả . Nghìn đồng hồ rồi lại đăm chiêu nghĩ ngợi , Nara cố trấn an mình bằng ý nghĩa có lẽ họ đã vượt qua khỏi ngọn Natib và đang trãi quân án ngữ phía sau phòng tuyến của địch quân rồi cũng nên . Nhưng thời gian cứ lặng lẻ trôi , tiếng đại bác vẫn vang rền không dứt , tiếng cây gẫy đổ , tiếng đất đá bay ào ào dưới cơn bão lửa và bóng tối đang từ từ bao trùm vũ trụ , Nara càng sốt ruột , ông tự hỏi “Chẳng lẽ nào rừng già đã nuốt chững Takechi rồi hay sao chớ ?” Câu hỏi làm ông ta nghi ngại không ít , linh tính như báo cho có chuyện chẳng lành đã xảy ra cho trung đoàn của Takechi . Ông vội quyết định thay đổi ngay chiến thuật : Trung đoàn đang hứng pháo của Imai phải tức tốc chuyển lộ trình hành quân sang phía Tây trám vào vị trí tiến quân của trung đoàn Takechi đã bị mất liên lạc và ra lệnh cho họ phải tìm kiếm để bắt tay với cánh quân này bằng mọi giá .
CHIẾN TRƯỜNG PHI LUẬT TÂN TIẾP THEO
Cũng trong nội nhật ngày hôm nay , 13 tháng 01 , theo sự đồng ý của Tướng MacArthur , Tổng Thống Phi Quezon gửi một điện văn đến Roosevelt phàn nàn rằng Tổng Thống Hoa Kỳ đã không giữ đúng lời hứa là viện trợ quân sự cho chính phủ Phi . Quezon thỉnh cầu chính phủ Hoa Kỳ gửi ngay một lực lượng quân sự hùng hậu để chống lại những cơn sóng xâm lăng của quân đội Nhật Bản . Một bức điện trả lời từ Tòa Bạch Ốc đến MacArthur đã làm cho vị Tổng Thống trốn chạy càng phẫn nộ cay cú hơn .
… Hoa Thịnh Đốn đã đánh giá mặt trận Phi Luật Tân không phải là một mặt trận có tầm vóc quan trọng để quyết định kết quả cuối cùng của một cuộc chiến , bởi vậy chúng tôi sẽ không thể viện trợ thêm vào mặt trận này kể từ bây giờ và trong tương lai ….
Đã như thế thì Tướng MacArthur nghĩ mình cũng không cần phải thuyết phục ai nữa nhưng ông lại hy vọng bức điện tín này sẽ khích động Marshall . Về phần những quân nhân đang còn bị dồn nén nơi mũi bán đảo Bataan của mình , Arthur nghĩ mình có thể trấn an và khuyến khích họ bằng những lời lẽ ấm áp trong tình huynh đệ chi binh với nhau thì tốt nhất :
“Hàng ngàn binh sĩ Hoa Kỳ và hàng trăm máy bay tăng viện đang trên đường đến đây . Sẽ không có một cuộc triệt thoái nào cả . Lực lượng phòng thủ của chúng ta ở Bataan trội hơn quân số Nhật Bản đang hiện diện . Lương thực và vũ khí của chúng ta dồi dào , quân phòng thủ của chúng ta nhất định sẽ đẩy lùi bước tiến của kẻ thù . Tôi kêu gọi mỗi quân nhân đang chiến đấu ở Bataan hãy giữ vững tay súng quyết không nhường cho kẻ thù dù một tấc đất . Đây là một cơ hội để sống còn . Nếu chiến đấu chúng ta tất nhiên sẽ thắng , nếu rút lui chúng ta ắt sẽ bị tiêu diệt”
Hầu hết những quân nhân Hoa Kỳ ở Bataan đều không tin tưởng vào những lời tuyên bố quá lạc quan của MacAthur , họ đều cho rằng ấy chẳng qua là ông tướng chỉ muốn trấn an và khích lệ họ mà thôi . Nhưng đối với những người lính bản xứ thì những lời khích lệ này tác động họ một cách mãnh liệt , trong phút chốc họ nhận thấy mình là những quân nhân kiệt xuất và rất đáng tự hào khi được chiến đấu dưới lá cờ của Hiệp Chủng Quốc .
Sáng ngày 16 tháng 01 , sư đoàn số 51 Phi Luật Tân quyết định tung quân phản công . Vì muốn chứng minh quân đội mình cũng xuất sắc như ai nên họ quá hăng hái đến độ khi tiến quân phản công , một trung đoàn đã vượt khá xa trung tâm khu vực hành quân . Đây chính là một cơ hội hiếm hoi mà Đại Tá Imai dù có nằm mơ cũng chưa chắc thấy . Sau khi quan sát kỹ đội hình rời rạc của địch quân , Imai cho đàn em đồng loạt khai hỏa tấn công thẳng vào cạnh sườn phía Tây của địch . Đồng thời ngay lúc ấy , cánh quân thất lạc của Đại Tá Takechi xuất hiện ngoài bìa rừng và nỗ súng tấn công vào mặt bên kia của địch . Với hai mặt giáp công này khiến cho cánh quân Phi chạy toán loạn lên và chỉ một chốc sau toàn bộ bị quân Nhật tiêu diệt dễ dàng . Phòng tuyến đông-tây của quân phòng thủ Bataan đã bị thủng một khoảng trống khoảng 2 dặm .
Đến chiều cùng ngày , hai cánh quân của Takechi và Imai đều mệt lã và đói , đạn dược đã cạn và quần áo tả tơi . Đến lúc này Takechi mới báo cáo với Tướng Nara về tình trạng thất lạc của Trung đoàn mình trên đỉnh Natib . Tướng Nara tỏ ra thông cảm và ra lệnh cho ông rút về tuyến sau lo bổ xung quân số và tái phối trí hàng ngũ chờ đợi . Nhưng ngược lại , Takechi chỉ tuân lệnh cho xong và không cần đòi hỏi bổ xung đạn dược hoặc nghỉ ngơi , ông ra lệnh tiến về phía trước thay vì lùi lại phía sau để làm quân dự bị như mệnh lệnh . Takechi nghĩ rằng Nara đã đẩy ông đến tổn thất như thế này rồi thì một cũng liều hai cũng liều , quyết chí dẫn con cái mình trở lại ngọn Natib dù phải chết trong vinh dự cũng cam .
Phía bên kia bán đảo Bataan tính từ đỉnh Natib đến bờ biển Nam Hải là một vùng núi đá rất hiểm trở có thể nói là một nơi mà con người không thể nào đặt chân đến được . Có lẽ địa thế của nó quá ư là hiểm hóc nên Tướng Homma , người tiền nhiệm của Nara không thể nào thả đội thám sát để dọ thám và đánh giá đúng mức được lực lượng phòng thủ đang hiện diện ở đây . Chiều hôm ấy 5 ngàn quân Nhật di chuyển về vị trí đối diện với tuyến phòng thủ của Tướng Wainwright . Chỉ huy 5 ngàn quân nhân này là Trung Tướng Naoki Kimura , người đã phát giác ra tuyến phòng thủ của Hoa Kỳ chỉ có một nửa trên vùng đồi núi hiểm trở này . Ông ta mạnh dạn quả quyết theo những gì mình nhận xét thì hành động từ bên này sẽ có nhiều cơ hội thành công trái ngược hẳn với Đại Tá Takechi vì nghiên cứu chưa tường tận nên bị thất bại phía bên kia núi . Người dẫn đầu 700 quân tiền sát này là Trung Tá Hiroshi Makanishi , họ âm thầm tiến vòng theo cánh phải của toán quân phòng thủ Wainwright rồi bẻ quẹo về hướng Tây . Sáng ngày 21 họ đã có mặt tại bờ biển , nghĩa là đã lọt qua khỏi vòng đai phòng thủ của Tướng Wainwright .
Đây là diễn biến của tuyến phòng thủ mặt Tây . Tình hình mặt Đông tuyến cũng lắng dịu lại sau trận đụng độ dữ dội giữa sư đoàn 51 Phi Luật Tân và hai trung đoàn của Takechi và Imai . Sự thiệt hại của đội phòng thủ đã để lại một lỗ thủng , mặc dù kịp thời tăng viện thêm quân số để bịt kín lỗ thủng ấy nhưng phía phòng thủ vẫn không thể tiến lên được trước hỏa lực địch và đa số đều bị sa lầy do sự cản trở của các chướng ngại vật như mìn bẫy do chính họ giăng ra trước đây , thế là cuối cùng họ đành phải bỏ mặt cho tuyến phòng thủ bị vỡ toang .
Tình hình càng lúc càng xấu đi . Dọc theo chiều ngang của tuyến phòng thủ , những người lính tiền tuyến này đã mệt nhoài với nhiệm vụ : ban ngày thì chiến đấu không ngừng nghỉ , đến lúc đêm về thì cũng chẳng chợp mắt được vì bị bọn lính Nhật thường trà trộn lẻn vào gây rối , nếu không thì phải nghe những lời mắng nhiếc chữi rủa thậm tệ từ những chiếc loa phóng thanh giăng mắc đâu đó trên các cành cây quanh chiến hào .
Nhận thấy tình hình quá nguy hiểm nên Tướng Sutherland yêu cầu bộ chỉ huy chấp thuận đề nghị dời tuyến phòng thủ thứ nhất lùi về tuyến thứ nhì ngay lập tức . Tuyến phòng thủ thứ nhì này nằm xa về phía Nam , phía bên kia con đường trãi đá xuyên tuyến Đông Tây của bán đảo . Nếu phải triệt thoái về vị trí này thì quân phòng thủ phải co cụm lại trong một chu vi phòng thủ nhỏ hẹp hơn và ít chướng ngại thiên nhiên hơn , đó là một bất lợi lớn cho quân phòng thủ .
Tướng MacArthur đồng ý ra lệnh triệt thoái . Công tác lui quân này được thực hiện lúc đêm đến . Đúng 7 giờ tối ngày 24 tháng 01 lệnh được bắt đầu , từng đoàn xe nhà binh và binh lính lần lượt rời bỏ vị trí để lui về phía sau . Lúc nửa đêm thì tình hình trở nên xáo trộn , nhiều đoàn xe bị kẹt lại do công tác thực hiện không kế hoạch nên sự di chuyển giữa hai cánh quân Hoa Kỳ và Phi Luật Tân bị ùn tắt mất trật tự . Ở một nơi mà một tiểu đội quân cảnh cũng không có nốt thì sự mất trật tự trong việc giao thông không cần phải kể . Nhất là cánh quân bổn xứ , họ vốn là những quân nhân tồi không kinh nghiệm trận mạc nhưng rất giỏi gây náo loạn hàng ngũ , cứ mạnh ai nấy chạy , mạnh ai nấy lo , không hàng không ngũ cứ rùn rùn mà chạy . Càng về sáng tình hình càng rối loạn hơn , thượng cấp bó tay , họ lặng lẽ nhìn nhau và thầm cầu nguyện cho một phép lạ nào đó xuất hiện để có thể vãn hồi được tình thế .
Gần tờ mờ sáng mới có được một nhóm binh sĩ rất thưa thớt đến được điểm . Họ trông phờ phạc và tơi tả như những xác chết biết đi . Và cả trọn ngày hôm ấy cuộc triệt thoái vẫn tiếp tục , tuy ban ngày nhưng nhịp độ di chuyển khá vất vả vì phi cơ oanh tạc của Nhật dường như đang làm chủ bầu trời . Lại một tai ách khác tiếp đến cho cánh quân phòng thủ đang trên đường triệt thoái , chẳng biết từ đâu những binh sĩ đói meo tơi tả nhưng quá bất khuất của Đại Tá Takechi thình lình xuất hiện làm cho sự chuyển quân của Hoa Kỳ đã rối càng thêm loạn . Cánh quân của Đại Tá Takechi đã làm được một việc phi thường là đã chinh phục được những chướng ngại và vượt qua đỉnh Natib trong khi lương thực đạn dược và sức lực coi như đã quá cạn kiệt .
Đến ngày 26 tháng 01 tình hình ở phòng tuyến mới của liên quân Mỹ-Phi mới được coi là tạm ổn . Hệ thống liên lạc với bộ chỉ huy được thiết lập khéo léo và hoàn chỉnh hơn , con đường tiếp vận cũng được khai thông kịp thời hầu bảo đảm an toàn cho công tác vận chuyển lương thực và đạn dược .
Hoàn cảnh thê thảm thật không riêng gì những quân nhân phòng thủ của liên quân Mỹ-Phi , chính trong hàng ngũ của phía tấn công tình trạng cũng không khá hơn chút nào . Họ cần phải nghỉ ngơi dưỡng sức , cần bổ sung lực lượng , di chuyển thương binh và cần nhiều thứ khác . Nói chung trong tình thế hiện tại họ đã quá mệt mỏi , mệt mỏi đến độ không còn đủ sức chiến đấu nữa . Tướng Nara đã nướng trên 2 ngàn binh sĩ chỉ trong vòng vài ngày , số may mắn còn sống sót đều bị ám ảnh kinh hoàng của trận chiến khiến tinh thần chiến đấu của họ xuống thật thấp , thấp hơn ngọn cỏ . Tuy vậy lệnh tiến công từ Đông Kinh vẫn ngày đêm đốc thúc và những kẻ duới quyền đang cầm súng chiến đấu dù có chán nản đến đâu nhưng bắt buộc phải chiến đấu để sinh tồn .
Sau một thời gian ngắn tạm yên tiếng súng , dù sức lực chưa hồi phục nhưng cuộc chiến lại tiếp tục . Lần này quân Nhật tỏ ra quá cảm tử cứ tiến sát hàng rào phòng thủ mà công khiến cho cánh quân phòng thủ càng chiến đấu càng lúng túng và gượng gạo hơn , họ có cảm tưởng rằng chính kẻ xâm lăng đang ở thế thượng phong . Rừng ở đây quá rậm rạp đến đỗi hơn một ngàn binh sĩ Nhật đột nhập xuyên qua tuyến phòng thủ cả ba ngày của Tướng Wainwright mà không bị phát giác . Đến khi phát giác ra được thì họ phải vất vả lăn vào đánh cận chiến , thiệt mạng không biết bao nhiêu binh sĩ và mất hàng 3 tuần lễ mới đẩy lùi được . Tuy nhiên họ vẫn không hề ngờ rằng đã có một toán lính Nhật đã âm thầm xâm nhập sâu vào phần đất của mình từ mấy hôm trước bằng tàu . Nơi đổ quân của họ là phần đá núi gồ ghề tiếp giáp bờ biển phía Tây , cũng chính nơi này họ đã bắt tay với cánh quân 700 binh sĩ đã xâm nhập từ trước dưới sự chỉ huy của Trung Tá Hiroshi Makanishi . Nhiệm vụ chung của hai cánh quân xâm nhập này là tung lực lượng kiểm soát trong khu vực trách nhiệm làm đầu cầu bảo vệ cho những chuyến đổ bộ khác sẽ được tiếp tục trong những ngày kế tiếp và sau đó tiến thẳng xuống miền Nam , vùng cuối mõm bán đảo để ngăn chận đường tiếp tế lương thực đến từ đảo Corregidor . Và tính cho đến ngày 08 tháng 2 đã có thêm 4 lần đổ bộ khác được thực hiện .
Cũng trong ngày này , Tướng Homma được triệu đến tham dự một buổi họp quan trọng ở San Fernando (một thành phố thuộc phía bắc thủ đô Manila) . Đó là một ngày oi bức lạ thường , nhìn đồng hồ nhiệt kế đang nằm ở vị trí 95 độ F . Trong lòng vị Tướng bồn chồn nóng nãy , ông ngồi trong phòng họp mà tâm trí như để đâu đâu . Chỉ riêng ở một mặt trận Bataan thôi ông đã bị thiệt hại gần 7 ngàn binh sĩ , hơn 10 ngàn quân khác đang vướng những chứng bệnh sốt rét , kiết lỵ v.v . Đã hai lần ông yêu cầu xin quân tăng viện nhưng đã hai lần bị từ chối . Bây giờ chỉ còn 3 tiểu đoàn bộ binh đang chiến đấu ở mặt trận Bataan . Trung Tướng Masami Maeda , sĩ quan tham mưu của ông đã lên tiếng một cảnh cáo rằng nếu MacArthur biết rõ điều ấy thì ông ta sẽ tung hết toàn bộ lực lượng phòng thủ để tiêu diệt ngay , trong khi một vị sĩ quan dạn dày kinh nghiệm chiến đấu là Đại Tá Moto Nakayama thì vẫn một mực nằng nằng quyết tấn công đến kỳ cùng . Ông lý luận “Mọi nỗ lực phải dồn hết về mặt trận phía Đông của bán đảo . Đơn thuần chỉ cần kéo dài thời giờ bao vây phong tỏa họ , với một khối lượng quân số hiện diện như thế nếu cứ bị bao vây lâu ngày tất nhiên sẽ nguồn lương thực sẽ cạn và khi ấy biến loạn sẽ nổi lên . Dịp tốt cho chúng ta ra tay thanh toán nốt một cứ điểm còn lại và hẳn nhiên MacArthur dù có cánh cũng không sao thoát nổi nếu hắn ta còn mãi cứng cổ chẳng chịu đầu hàng” Lời của vị Đại Tá giàu kinh nghiệm này quả thật có lý nhưng Homma vẫn chưa thể hình dung ra được một chiến thắng gần kề . Đông kinh sẽ không bao giờ cho phép ông dùng một chiến thuật quá thấp hèn đáng khinh bỉ như thế . Ông bảo sẽ thay vào một đơn vị khác hùng hậu nhận lãnh trách nhiệm ở mặt trận này . Và nếu thực hiện được điều này Homma phải có đầy đủ nghị lực lẫn can đảm , dẹp bỏ tự ái về tính tự cao của con nhà tướng để một lần nữa yêu cầu thượng cấp xin bổ sung quân số . Và Homma đã thất bại , cầm bức điện tín từ Đông Kinh gửi đến mà nước mắt ông Tướng rưng rưng . Thủ Tướng Tojo hẳn là bực tức vô cùng nên trong bức điện văn ông nêu lên câu hỏi rằng tại sao ở các mặt trận khác đều chiến thắng duy chỉ có ở Phi Luật Tân thì ngược lại !
Homma buông rơi bức điện tín , mặt chảy dài bước những bước nặng trĩu ra khỏi phòng họp .
.................................................................
Trong hầm chỉ huy tại đảo Corregidor , Tổng Thống Phi Quizon ngồi trên xe lăn tay chống cằm lắng nghe radio , giọng Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt tuyên bố hùng hồn trước nhóm phóng viên rằng sẽ có hàng ngàn phi cơ chiến đấu lên đường tới mặt trận Châu Âu . Bỗng chốc Quezon lại thở dài đưa tay chỉ về phía đất liền , nơi có những đám khói bốc lên ngùn ngụt và chậm rãi nói “Có gần 30 năm trời tôi đã làm việc cực lực cốt là tìm thấy hy vọng tốt sẽ tới với xứ sở và đồng bào của tôi . Nhưng bây giờ lại phải chứng kiến cảnh họ bị chết tức tưởi dưới ngọn cờ tổ quốc đã không bảo vệ được họ . Đau đớn thay và nhục nhã thay !” Nói xong ông đưa mắt nhìn thẳng vào MacArthur mĩm cười chua chát rồi tiếp “Bỏ rơi một đồng minh khốn khó để giúp đỡ một đồng minh khác giàu có ! Thật là khốn nạn , thật là thô bỉ ! Họ đành lòng vươn tay thật xa để cứu giúp một người anh em bà con trong khi đứa con ruột lại bị cưỡng hiếp ngay trong nhà !”
Đoạn ông đưa ra đề nghị “Sự hiện diện của tôi ở Corregidor cũng chẳng giúp ích gì cho các ông . Thế thì tại sao tôi không về Manila thà làm một tù nhân chiến tranh có còn hơn không ?” Arthur tỏ ý e ngại rằng nếu hành động như thế sẽ gây hoang mang cho những binh sĩ đang cầm súng phòng thủ . Quezon buông thỏng một câu xuội lơ “Ai nghĩ sao về tôi , tôi cũng mặc kệ” . Và ông tạm thời cũng đồng ý với Tướng Arthur là sẽ suy xét lại ý định của mình .
Tối hôm ấy , một viên thiếu úy trẻ Phi tên Antonio Aquino ôm phao cố bơi từ Bataan ra đến đảo Corregidor với mục đích tìm gặp Tổng Thống Quezon để báo cáo với ông rằng đang có sự xung đột giữa hai quân đội Phi và Mỹ ở tuyến đầu phòng thủ . Như để thay mặt cho toàn thể binh sĩ đang cầm súng chiến đấu ở tuyến đầu , Aquino nhìn vẻ mặt đau khổ của vị tổng tư lệnh quốc gia đề nghị thẳng “Tôi nghĩ những quân nhân của chúng tôi cần phải được hưởng khẩu phần ăn đồng đều so với những binh sĩ của Hoa Kỳ . Có lẽ nào đâu cùng chiến đấu sống chết như nhau nhưng phần ăn của họ thì dồi dào thừa mứa trong khi chúng tôi thì chỉ được cấp phát cá hộp . Mỗi hộp một ngày cho 30 người ăn . Đó chẳng phải là một khẩu phần chết đói ư ?”
Quezon điên tiết lên , ông cho triệu tập nội các lưu vong và đi ngay vào vấn đề là ông muốn đề nghị thẳng với Roosevelt phải chấp nhận cho ông được tách ra khỏi quỷ đạo Hoa Kỳ để tuyên bố độc lập cho Phi Luật Tân . Sau đó ông sẽ giải tán quân đội và tuyên bố Phi Luật Tân đứng về phía trung lập . Đến lúc không còn dính líu gì với chính phủ Hoa Kỳ thì tất nhiên quân đội của họ và Nhật Bản phải lập tức rời khỏi Phi Luật Tân ngay . Phó Tổng Thống Sergio Osmena cố gắng thuyết phục , ông cho rằng đó là vấn đề hết sức hệ trọng không thể mang ra bàn bạc trong hoàn cảnh rối loạn như thế này . Dù can gián hết sức nhưng tổng thống Quezon vẫn giận dữ quát tháo liên hồi rồi ngồi im thở hồng hộc . Những cơn ho liên tục khiến cho người ông co quắp trông thảm nảo làm sao . Không hận người Mỹ sao được , với chích sách gọi là “Khối thịnh vượng chung Hoa Kỳ” người Mỹ đã chi phối hoàn toàn xã hội Phi Luật Tân . Với từ ngữ này vô hình chung đã biến đất nước của ông lọt vào quỹ đạo của họ , một chủ nhân ông chỉ biết hành động cho tư lợi của mình mà thôi . Để bây giờ trong tình hình nghiêng ngã của đất nước thì chính người chủ nhân kia đã ngoảnh mặt làm ngơ với lý do “đó là một tiền đồn không quan trọng” . Ông đau xót cho thân phận nhược tiểu vì quá cả tin vào một cường quốc , mà là một cường quốc thâm hiểm và tráo trở khôn lường .
Nhận thấy mình không thể giải thích thêm trong khi lòng căm phẫn của tổng thống đã dâng lên tột độ , bất đắc dĩ phó tổng thống Osmena mới tán đồng ý kiến của ông . Theo nguyên tắc thì mọi giao dịch với Hoa Thịnh Đốn đều phải qua trung gian của Tướng MacArthur
Vị Tướng tư lệnh mặt trận Đông Nam Á lên tiếng trấn an tổng thống Quezon “Ông hãy bình tỉnh , dù sao thì Hoa Thịnh Đốn cũng chưa dứt khoát bỏ rơi chúng ta và hiện tại hoàn cảnh cũng chưa đến tuyệt vọng kia mà” . Tuy vậy nhưng ông vẫn đồng ý chuyển ngay bức điện tín về Roosevelt , trong khi làm việc này trong lòng ông cũng bị giày vò không ít vì có sự nghi ngờ rằng Hoa Thịnh Đốn và đặc biệt là Tướng Marshall , đã chẳng có biện pháp gì giúp đỡ mặc dù họ đã dư biết với một lực lượng quá khiêm nhường trong tay thì ông phải xoay trở vào đâu khi hoàn cảnh cực kỳ gay go ập tới quá bất chợt (Ngay cả những thuộc cấp trung thành nhất của MacArthur cũng lên tiếng chỉ trích hành động im lặng khó hiểu của chính bổn quốc họ . Và họ cũng quá rõ những mâu thuẫn giữa MacArthur và George Marshall . Chính vì vậy , sự trốn chạy của họ ngày hôm nay chắc chắn rằng người chịu trách nhiệm không ai xa lạ hơn George Marshall . Nguyên nhân sâu xa vì ông ta vẫn còn hậm hực MacArthur ngày trước khi còn là tham mưu trưởng đã phản đối khi có lệnh vinh thăng Marshall lên hàng tướng lãnh) .
Quyết định táo bạo của Quezon có thể mang lại một hậu quả khó lường như sụp đổ cả một chính thể chẳng hạn và sự liều lĩnh của MacArthur khi chấp nhận đem cả một cuộc đời binh nghiệp đặt trên một ván bài nguy hiểm mà chính ông không phủ nhận là rất đáng để chơi xả láng này .
Nhưng có lẽ nhờ vậy mà Hoa Thịnh Đốn lại thay đổi thái độ đối với chiến trường Phi Luật Tân và Roosevelt đã bắt tay vào hành động thật sự . Trung tuần tháng 3 đã có khoảng 75 ngàn thủy quân lục chiến lên đường sang chiến trường Thái Bình Dương , một con số gấp 4 lần so với số quân vừa chuyển đến chiến trường Âu Châu . Và một số lượng lớn phi cơ chiến đấu đều sẳn sàng cung ứng cho chiến trường Thái Bình Dương .
Để cho Quezon có thể hiểu rằng Hoa Kỳ cũng đang gặp khó khăn vì một lúc phải đối phó với hai mặt trận – Gần 200 ngàn tấn quân dụng vừa bị đánh chìm ở bờ biển Đại Tây Dương và Rommel khiến cho quân đội Anh bắt buộc phải rút về Alexandria , Roosevelt cần phải nói rõ hơn những sự kiện trên và như vậy thì Quezon sẽ không còn phẩn uất mà liều lĩnh nghĩ đến chuyện phản phúc ông ta nữa . Và thật không hổ danh là một nhà chính trị độc đáo , ông ta đã thành công trong việc thuyết phục Quezon trở lại quỹ đạo Hoa Kỳ và hứa danh dự rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ bỏ rơi người bạn đồng minh Phi Luật Tân .
“Bao giờ còn lá cờ Hoa Kỳ xuất hiện trên vùng đất của Phi Luật Tân thì xứ sở này sẽ còn được bảo vệ bởi xương máu của binh sĩ Hoa Kỳ chúng tôi . Với những xáo trộn hiện tại , chúng tôi cố gắng không ngừng nghỉ để thành lập một lực lượng chiến đấu từ bên ngoài , lực lượng này sẽ tiến vào giải phóng Phi Luật Tân , sẽ đánh đuổi đến tên giặc cuối cùng trên đất nước của bạn”
Điểm này đã chứng tỏ rằng Roosevelt thật sự quyết tâm làm bất cứ điều gì có thể cho MacArthur . Đặc biệt đã đánh trúng vào yếu điểm của Quezon , nó đã mang đến cho ông một niềm tin mãnh liệt vào chính phủ Hoa Kỳ nói chung và Roosevelt nói riêng , ông tự thề với lòng rằng một ngày nào mình còn hơi thở thì ngày đó vẫn còn trung thành với người anh cả Hoa Kỳ bất chấp nhân dân đồng bào của ông có phản đối cũng mặc .
Một bức điện tín khác Roosevelt gửi đến MacArthur chỉ thị cho ông phải giữ vững vị trí cố thủ , khuyến khích tinh thần chiến đấu binh sĩ và gây tình đoàn kết giữa hai quân đội Mỹ-Phi . Thế nghĩa là Hoa Kỳ chắc chắn sẽ không bỏ rơi Phi Luật Tân . MacArthur tỏ ra lạc quan hơn , trong bức điện tín trả lời về Hoa Thịnh Đốn , ông cam quyết sẽ mang về cho Hoa Kỳ niềm tự hào bằng một chiến thắng vinh quang .
Comments
Post a Comment