Skip to main content

VÌ SAO NHÀ NGUYỄN ĐỂ MẤT NƯỚC?



Hôm nọ có 1 bạn, hình như là SV, có hỏi ý kiến mình về vấn đề này. Sau khi trao đổi với bạn ấy, mình muốn tổng hợp lại nội dung để post lên đây để mọi người có thể thêm ý kiến.

Câu hỏi này quá kinh điển mà học sinh hay SV khoa Sử nào cũng phải thuộc lòng câu trả lời, đại khái thế này (theo sách GK chính thống bây giờ): 

Triều Nguyễn bạc nhược, chủ hòa, không được lòng dân, không chịu canh tân đất nước, quân đội thì lạc hậu, hèn yếu. Thực dân Pháp thì quyết tâm chiếm nước ta làm thuộc địa, đã cho các giáo sỹ đi thăm dò, biến giáo dân làm tay trong...

Quan điểm của mình thì khác, với góc nhìn rộng hơn, để so sánh với các nước trong khu vực đã bị chiếm và không bị chiếm. Đầu tiên là so sánh với Thái và Nhật là 2 nước châu Á không bị làm thuộc địa.

Thái, lúc đó gọi là Xiêm (Siam), có kinh tế và quân sự tương đối cân bằng với Đại Nam (tên nước ta vào thời Minh Mạng đến Bảo Đại). 2 nước giao chiến với nhau lần cuối là vào thời Thiệu Trị (ngay trước vua Tự Đức), để giành quyền bảo hộ Chân Lạp (Campuchia). Kết quả là 2 bên ký hòa ước sau khi Nguyễn Tri Phương đánh bại quân Xiêm, Chân Lạp đồng ý nhận sự bảo hộ của cả Xiêm và Đại Nam và 1/3 nước Chân Lạp vẫn bị sáp nhập vào Xiêm, còn 2/3 còn lại đã được Đại Nam cho tái lập nước Chân Lạp sau gần 10 năm bị sáp nhập.

Tuy nhiên, Xiêm lại không bị chiếm làm thuộc địa. Như vậy tiềm lực quân sự và kinh tế không phải là yếu tố quyết định mà là vấn đề ngoại giao. 

Xiêm lúc đó bị kẹp mặt Bắc và Nam bởi Malaysia và Miến Điện, đều là thuộc địa Anh, mặt Đông giáp Lào và Campuchia thì là thuộc địa Pháp. Anh và Pháp đều muốn chiếm nốt Xiêm. Vua Xiêm đã phải mở cửa giao thương với các cường quốc, bao gồm cả Anh, Pháp, Mỹ, Đức... Nhưng không phải chỉ có mở của mà thoát, họ cũng phải trả giá, cũng phải "bán nước" không khác gì vua Tự Đức đã cắt 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp để cầu hòa.

Trước mối đe dọa về chủ quyền từ hai cường quốc phương Tây vào những năm cuối của thế kỷ XIX, Xiêm đã buộc phải ký hoà ước năm 1907 đồng ý cắt một số vùng lãnh thổ ở Lào và Campuchia và một khoản tiền lớn cho Pháp. Cái giá phải trả cho Anh cũng đắt tương tự, khi Xiêm buộc phải trả lại 4 tỉnh Kedah, Perlis, Kelantan và Trengganu cho Anh. Những hiệp ước này đã phần nào làm giảm áp lực của các cường quốc đối với chủ quyền của Xiêm và đảm bảo sự an toàn biên giới lãnh thổ của một quốc gia được quốc tế thừa nhận.

Tổng diện tích Xiêm phải cắt cho Anh và Pháp cũng không nhỏ hơn đất Nam Kỳ. Vậy sao vua Xiêm lại được coi là minh quân mà vua Tự Đức lại thành kẻ bán nước?

Sự khác biệt giữa Tự Đức và Rama III và Rama IV là mấy ông vua Thái đã chịu canh tân đất nước, còn vua Tự Đức thì không, nhưng đó không phải lý do quyết định, đã phân tích bên trên. 1 lý do mà ít ai nhắc đến, đó là sự may mắn là do Thái bị 4-5 cường quốc nhòm ngó, nên không nước nào muốn Thái thuộc về hẳn 1 nước. Thái năm cơ hội đó để đu dây về ngoại giao. Trong khi VN lúc đó chủ yếu bị Pháp nhòm ngó và nhà Thanh là nước bảo hộ lâu đời nhưng lại quá yếu so với Pháp. 

Tự Đức đã từng cử phái đoàn sang Pháp để đàm phán xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông nhưng không thành, sau đó cho người đi cầu viện Mỹ, Đức là những nước từng thắng trận trước Pháp, nhưng bị từ chối (do các nước này không quan tâm tới VN). Số phận đã buộc Tự Đức phải đi cầu viện nhà Thanh. Thực tế quân Thanh đã kéo sang đánh Pháp, cũng có 1 số trận thắng nhỏ. Quân Thanh từng kéo sang đóng khắp mấy tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang (Phủ Lạng Thương) và Bắc Ninh để đánh Pháp. Nhưng kết quả là quân Pháp đánh sang tận Quảng Đông và Đài Loan, khiến Thanh phải nhượng bộ để ký hiệp ước Pháp Thanh công nhận sự bảo hộ của Pháp ở VN. Như vậy Tự Đức không phải là không cố gắng bảo vệ nền độc lập, nhưng số phận không mỉm cười với Đại Nam như với Xiêm.

Sự không may mắn thứ 2 với Tự Đức đó là quân dân Đại Nam không thuần như quân dân Xiêm. Khi vua đã ký hòa ước nhưng quân dân Đại Nam lại vẫn kháng chiến,gây thiệt hại cho Pháp, khiến họ có cớ để tiếp tục gây chiến ở HN (chiếm Hn 2 lần) trong khi mục đích của họ chỉ là tìm đường ngược sông Hồng sang buôn bán ở TQ. Kể từ khi vua Tự Đức ký hòa ước Nhâm Tuất 1862 với Pháp thì quân dân VN chưa bao giờ ngưng chiến. Pháp sẽ quy trách nhiệm đó cho vua Nguyễn và quyết tâm bình định toàn bộ nước VN cho đến khi không còn bất cứ cuộc khởi nghĩa nào. Trong khi đó, quân dân Xiêm lại tuân lệnh vua, không khởi nghĩa, thế nên Thái mới được hòa bình với Anh và Pháp cho dù vẫn bị mất đất.

Trường hợp của Nhật thì khác hẳn, Nhật chủ động canh tân đất nước, nhưng thời gian đầu cũng phải chịu nhục với Mỹ, bị Mỹ áp bức về thương mại, để học hỏi họ. Nhật không có tài nguyên, cũng không phải có vị trí then chốt trên con đường giao thương quốc tế như Malaysia, Thái Lan hay VN. Nhật canh tân từ sớm nên nhanh chóng tự cường để đi đánh nước khác và thoát bị chiếm vì có sức mạnh ngang hàng với các cường quốc châu Âu. Vì vậy so sánh VN với Nhật là khập khiễng, so với Thái sẽ gần giống hơn.

Tóm lại, vua Tự Đức và các vua nhà Nguyễn tiếp theo như Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh (ký hiệp ước cuối cùng với Pháp Patenotre, hoàn chỉnh việc xâm lược của thực dân Pháp) đã để mất nước vì các lý do là thiếu năng lực chủ động canh tân để quốc gia giàu mạnh, tự cường nhưng lý do cơ bản nhất vẫn là ngoại giao cứng nhắc khi giết cố đạo (gây bất hòa với Pháp), cản trở tự do thương mại với các nước phương Tây. Lý do thiếu may mắn thường ít được các sử gia nhắc đến. 

Quân dân VN với tinh thần dân tộc quá cao cũng là lý do cơ bản dẫn đến mất nước. Lý do đó khá oái oăm nhưng là thực tế, bởi vì có đánh nhau nữa thì cũng không thể thắng được Pháp, do tiềm lực quân sự chênh lệch quá lớn. Nếu đổ lỗi đó hoàn toàn cho nhà Nguyễn thì quá bất công vì dù sao so với khu vực thì Đại Nam lúc đó còn là hổ báo cáo chồn, trong khi VN bây giờ mới là yếu kém về kinh tế ngay cả trong khu vực. Hồi đó cả châu Á (trừ Nhật) là kém châu Âu, bị làm thuộc địa, chứ đâu phải mình Đại Nam. TQ còn bị 13 đại cường hấp diêm cơ mà. Ấn Độ cũng bị Anh xâm chiếm. May mà dân VN vẫn còn hiền lành chịu hàng Pháp đấy, không thì chắc dân VN bị xóa sổ gần như dân Maya bên châu Mỹ!

Biết bao giờ các sử gia VN mới có thể nhìn nhận khách quan về lý do mất nước?

Comments

Popular posts from this blog

Có những người sanh ra trong Phú Quý, nhưng lại bị tật bệnh, tai ương, chết trẻ, phần phước không thể trọn lành! Ngược lại, có người sanh ra trong bần hèn, đói rách, nhưng về sau lại được Phú Quý, Vinh Hoa! Đây chẳng phải là đi ngược lại quy luật Nhân Quả Nghiệp Báo! Trong Phần Phúc nhiều đời của họ, có kiếp đặng làm Vua (như Lưu Bang đời nhà Hán), Phần phúc làm Vua này lẽ ra không ứng ở đời này! Nhưng vì một nguyên nhơn đã khiến cho phần phước đó hiển lộ! Người đời thì gọi đó là: Chạm long mạch! Nhưng chẳng phải đâu, bên dưới thầy sẽ chỉ rõ hơn! Ngược lại, có người sanh ra trong Phú Quý nhưng cuối đời lại sống cảnh bần hèn (dù bản nghiệp cá nhân không gây tạo nghiệp ác nào)! Hoặc bệnh tật, tử tận! Đó là vì một lẽ như sau: Trên thân thể đứa bé trước năm ba tuổi (từ khi sanh ra đến lúc tròn 3 tuổi) thì bản nghiệp chưa ẩn vào trong, mà hiển lộ ra ngoài qua hai nơi: - Thứ nhất: Phúc Nghiệp sẽ tuỳ nghi hiển lộ nhưng phần nhiều sẽ hiển lộ vào cung chân mày! Nếu tro...

TỘI ÁC ĐAO PHỦ ANH EM HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG TẠI HUẾ 1968

TƯỞNG NIỆM ̀́58 CUỘC THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN 1968 CỘNG SẢN VIỆT NAM GIẾT HẠI TẬP THỂ THƯỜNG DÂN VÔ TỘI 1968 - 2026 Mậu Thân-Huế, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và người vẽ đường hươu chạy: Nguyễn Quang Lập Tết Mậu Thân-Huế 1968 là sự diệt chủng của CS đối với Miền Nam, trong đó xác người vương vãi khắp nơi, từ góc phố đến thôn làng, từ nóc nhà, sân sau, sân trước, đến lùm cây ngọn cỏ. Toàn thành phố phủ một màu tang trắng bất tận, trải dài từ thị xã cho đến tận núi Ba Đồn, nơi tái chôn cất 5327 xác thường dân vô tội mà đã bị trói quặt đàng sau, cột thành từng chùm rồi lấp trong những hầm sâu hố cạn. Còn di tích lịch sử quý báu của dân tộc, cố đô nhà Nguyễn bị phá hủy gần như hoàn toàn, nhà cửa của dân chúng thì trở thành gạch vụn vào đúng dịp tết cổ truyền Mậu Thân 1968, qua sự kiện lừa ngưng bắn ba ngày ăn tết của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn. Đó cũng là câu chuyện mà hàng mấy chục người Việt Cộng nằm vùng trong thành phố Huế, chẳng hạn như Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh...
Chuyện tù "cải tạo" của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp Ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ. Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực. Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia. Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21/8/1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955. Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia cho đến ngày 30/4/1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6/1975 rồi ...