Skip to main content
Năm 1943, một phi công Mỹ rơi từ bầu trời xuống một trong những khu rừng nguy hiểm nhất trên trái đất.

Trong ba mươi mốt ngày, Fred Hargesheimer lang thang một mình qua rừng mưa nhiệt đới của đảo New Britain sau khi chiếc máy bay trinh sát đang bốc cháy của anh bị bắn hạ trên vùng lãnh thổ do quân Nhật kiểm soát trong Thế chiến thứ Hai.
Anh khi ấy hai mươi bảy tuổi.
Đói khát.
Mê sảng.
Chỉ còn thoi thóp.
Anh sống sót nhờ rễ cây và nước suối, di chuyển trong rừng vào ban đêm để tránh các toán tuần tra Nhật Bản đang lục soát hòn đảo.
Đến ngày thứ ba mươi hai, khi những tiếng nói cuối cùng vang lên từ trong cây cối, Fred tin rằng mình sắp chết.

Anh nghĩ quân Nhật đã tìm ra mình.
Nhưng không phải. Đó là một nhóm người bộ tộc Nakanai.
Người dân làng đã cõng người phi công Mỹ yếu ớt trở về làng ven biển và giấu anh khỏi lực lượng Nhật Bản, dù biết rõ hậu quả nếu bị phát hiện.

Quân Nhật đang treo thưởng cho việc bắt sống các phi công Đồng minh.
Họ cũng hành quyết bất kỳ ai giúp đỡ những người đó.
Thế nhưng dân làng vẫn giấu Fred.
Anh ốm yếu đến mức hầu như không thể nuốt được thức ăn đặc.

Rồi một người mẹ đang nuôi con bằng sữa tên Ida bước vào túp lều nơi anh nằm.
Bà quay lại với một cái chén đựng sữa của chính mình và tự tay cho anh uống trong mười ngày để giữ anh sống, trong khi vẫn nuôi đứa con nhỏ của mình.
Fred không bao giờ quên tên bà.

Mỗi khi toán tuần tra Nhật tiến gần làng, có người sẽ thổi nhẹ vào một cái vỏ ốc biển giấu gần đó.
Tiếng đó nghĩa là Fred chỉ còn vài giây để biến mất.
Và nếu anh chạy ngang bãi cát mà vẫn mang giày, những đứa trẻ trong làng sẽ đi theo phía sau, cầm những chiếc chổi nhỏ làm từ lá cọ — quét sạch dấu chân của anh trước khi lính Nhật đến.

Nếu bị phát hiện, cả ngôi làng có lẽ đã bị tàn sát.
Không ai phản bội anh.
Những đứa trẻ không thể phát âm được “Freddie”, nên chúng gọi anh là “Mastah Preddi”.
Ông chủ Freddie.
Anh sống cùng họ trong bảy tháng.

Rồi vào tháng Hai năm 1944, các biệt kích Úc cuối cùng cũng đến được ngôi làng và dùng radio gọi một tàu ngầm Mỹ đến đón anh rời đảo.
Trong một đêm không trăng, Fred chèo thuyền độc mộc ra phía tàu ngầm trong khi dân làng đứng nhìn từ bờ.
Một số người mẹ được kể lại là đã cố đưa con mình cho anh mang về Mỹ.

Fred sống sót qua chiến tranh và trở về Minnesota, nơi anh kết hôn, nuôi dạy con cái và xây dựng một cuộc sống bình thường.
Nhưng anh không bao giờ quên được những người đã cứu mình.
Đặc biệt là Ida.
Đặc biệt là những đứa trẻ với chiếc chổi nhỏ.
Suốt nhiều năm, một suy nghĩ luôn day dứt anh:
“Làm sao tôi có thể đền đáp được họ?”

Vì vậy năm 1960, Fred một mình trở lại New Britain.
Khi thuyền anh cập bãi biển, dân làng xếp hàng dọc bờ cát chờ đón anh dưới ánh trăng.
Rồi họ bắt đầu hát bài hát tiếng Anh duy nhất mà họ biết:
“God Save the Queen.”
Fred bước xuống cát và khóc.
Anh gặp lại Ida.
Anh gặp người con trai mà bà đã nuôi bằng sữa trong khi cũng nuôi anh bằng chính sữa của mình trong chiến tranh.

Và sau khi trở về nhà, anh quyết định rằng lời cảm ơn thôi chưa đủ.
Một nhà truyền giáo sau đó cho anh biết ngôi làng đang rất cần một ngôi trường.
Vậy là một người bán hàng trung niên ở Minnesota bắt đầu đi gõ cửa từng nhà trong quê hương mình, gây quỹ qua các nhóm nhà thờ và những khoản quyên góp nhỏ.
Đến năm 1963, Fred trở lại New Britain và giúp xây ngôi trường kiên cố đầu tiên của làng.

Nhiều năm sau, anh và vợ Dorothy chuyển đến sống luôn tại đó trong bốn năm — rời bỏ nước Mỹ hoàn toàn để dạy học cho trẻ em dưới chân một ngọn núi lửa, cách quê nhà mười hai ngàn dặm.
Trong vài thập kỷ tiếp theo, Fred tiếp tục trở lại hòn đảo hết lần này đến lần khác.
Anh giúp xây trường học.
Thư viện.

Một phòng khám y tế.
Năm 2000, người Nakanai chính thức tôn anh làm tù trưởng bộ tộc và trao cho anh danh hiệu “Suara Auru”.

Tù trưởng Chiến binh.
Rồi năm 2006, ở tuổi chín mươi, Fred thực hiện chuyến đi cuối cùng vào rừng.
Xác máy bay bị rơi năm 1943 cuối cùng cũng được tìm thấy.

Dân làng cõng người phi công già yếu trên vai xuyên qua rừng mưa nhiệt đới để anh được nhìn thấy nó lần cuối.

Cánh máy bay gãy từng một lần thả một người Mỹ trẻ đói khát vào cuộc đời họ vẫn còn nằm đó dưới những tán cây.
Fred Hargesheimer qua đời năm 2010 ở tuổi chín mươi tư.

Những ngôi trường và phòng khám anh giúp xây dựng vẫn còn hoạt động đến ngày nay.
Và khi người ta hỏi vì sao ông dành gần bảy mươi năm để đền đáp một ngôi làng mà ông lẽ ra có thể quên đi sau chiến tranh, Fred luôn trả lời bằng cùng một câu:
“Những người này đã cứu mạng tôi. Làm sao tôi có thể đền đáp được?”

Ông dành phần đời còn lại để cố gắng làm điều đó.

Comments

Popular posts from this blog

TỘI ÁC ĐAO PHỦ ANH EM HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG TẠI HUẾ 1968

TƯỞNG NIỆM ̀́58 CUỘC THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN 1968 CỘNG SẢN VIỆT NAM GIẾT HẠI TẬP THỂ THƯỜNG DÂN VÔ TỘI 1968 - 2026 Mậu Thân-Huế, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và người vẽ đường hươu chạy: Nguyễn Quang Lập Tết Mậu Thân-Huế 1968 là sự diệt chủng của CS đối với Miền Nam, trong đó xác người vương vãi khắp nơi, từ góc phố đến thôn làng, từ nóc nhà, sân sau, sân trước, đến lùm cây ngọn cỏ. Toàn thành phố phủ một màu tang trắng bất tận, trải dài từ thị xã cho đến tận núi Ba Đồn, nơi tái chôn cất 5327 xác thường dân vô tội mà đã bị trói quặt đàng sau, cột thành từng chùm rồi lấp trong những hầm sâu hố cạn. Còn di tích lịch sử quý báu của dân tộc, cố đô nhà Nguyễn bị phá hủy gần như hoàn toàn, nhà cửa của dân chúng thì trở thành gạch vụn vào đúng dịp tết cổ truyền Mậu Thân 1968, qua sự kiện lừa ngưng bắn ba ngày ăn tết của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn. Đó cũng là câu chuyện mà hàng mấy chục người Việt Cộng nằm vùng trong thành phố Huế, chẳng hạn như Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh...
Chuyện tù "cải tạo" của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp Ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ. Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực. Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia. Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21/8/1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955. Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia cho đến ngày 30/4/1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6/1975 rồi ...
Có những người sanh ra trong Phú Quý, nhưng lại bị tật bệnh, tai ương, chết trẻ, phần phước không thể trọn lành! Ngược lại, có người sanh ra trong bần hèn, đói rách, nhưng về sau lại được Phú Quý, Vinh Hoa! Đây chẳng phải là đi ngược lại quy luật Nhân Quả Nghiệp Báo! Trong Phần Phúc nhiều đời của họ, có kiếp đặng làm Vua (như Lưu Bang đời nhà Hán), Phần phúc làm Vua này lẽ ra không ứng ở đời này! Nhưng vì một nguyên nhơn đã khiến cho phần phước đó hiển lộ! Người đời thì gọi đó là: Chạm long mạch! Nhưng chẳng phải đâu, bên dưới thầy sẽ chỉ rõ hơn! Ngược lại, có người sanh ra trong Phú Quý nhưng cuối đời lại sống cảnh bần hèn (dù bản nghiệp cá nhân không gây tạo nghiệp ác nào)! Hoặc bệnh tật, tử tận! Đó là vì một lẽ như sau: Trên thân thể đứa bé trước năm ba tuổi (từ khi sanh ra đến lúc tròn 3 tuổi) thì bản nghiệp chưa ẩn vào trong, mà hiển lộ ra ngoài qua hai nơi: - Thứ nhất: Phúc Nghiệp sẽ tuỳ nghi hiển lộ nhưng phần nhiều sẽ hiển lộ vào cung chân mày! Nếu tro...